Thứ tư 11/03/2026 23:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tội mua bán người dưới 16 tuổi và Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Bài viết phân tích dấu hiệu định tội cơ bản của hai tội Tội mua bán người dưới 16 tuổi và Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi trong Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện để việc định tội danh được chính xác và thống nhất.

Bài viết phân tích dấu hiệu định tội cơ bản của hai tội Tội mua bán người dưới 16 tuổi và Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi trong Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng thời, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện để việc định tội danh được chính xác và thống nhất.

1. Quy định Bộ luật Hình sự năm 2015 về Tội mua bán người dưới 16 tuổi và Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi

Trong Bộ luật Hình sự 2015 Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015) và Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 2015) được quy định tại Chương XIV - Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Trước đây, Bộ luật Hình sự năm 1999 hai tội phạm này được quy định trong cùng một điều luật là Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120). Tuy nhiên, khi Bộ luật Hình sự năm 2015 được ban hành “Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em” đã được tách ra thành các điều luật riêng biệt với một chút sửa đổi trong tên tội danh, việc sửa đổi này sẽ phản ánh được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi[1], thể hiện được tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về việc nhấn mạnh bảo vệ quyền con người và các quyền của công dân cũng như phù hợp với nghĩa vụ tội phạm hóa của quốc gia trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên[2].

Những dấu hiệu định tội của Tội mua bán người dưới 16 tuổi và Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi trong Bộ luật Hình sự năm 2015:

Thứ nhất, Tội mua bán người dưới 16 tuổi theo Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015[3]

Khách thể của tội phạm này là danh dự, nhân phẩm và sự phát triển bình thường của người dưới 16 tuổi (người phạm tội coi con người như một món hàng để đem ra mua bán, trao đổi, gây thiệt hại nặng nề về danh dự, nhân phẩm của nạn nhân). Chủ thể của tội phạm này phải là người từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. Về mặt chủ quan, tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Về mặt khách quan đây là tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức, chỉ quy định hành vi khách quan là dấu hiệu bắt buộc, hành vi có thể được thực hiện dưới 3 dạng:

- Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

- Chuyển giao hoặc tiếp nhận người người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

- Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

Tuy nhiên, điểm a khoản 1 Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 có loại trừ trường hợp không phạm tội đó là: Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo. Trước đây trong Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về hành vi mua bán trẻ em và cũng có loại trừ một số trường hợp không phạm vào tội này như là “vì đông con hoặc vì đặc biệt khó khăn đặc biệt mà phải bán con mình (dưới hình thức cho làm con nuôi và nhận số tiền giúp đỡ) cũng như trường hợp vì hiếm muộn mà mua của chính người có con đem bán để về làm con nuôi thì không phạm tội”[4]. Vì vậy theo quan điểm của tác giả đây có thể xem là các trường hợp nhân đạo mà Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 đề cập[5].

Tuy nhiên xét về mặt khách quan, trong Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015) chỉ quy định hành vi khách quan mà không quy định phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi đó là “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác” như trong Tội mua bán người (Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015). Việc quy định như vậy dẫn đến hai cách hiểu:

Cách hiểu thứ nhất, đây là hai tội phạm có mối quan hệ cấu thành tội phạm chung và cấu thành tội phạm riêng (chủ yếu phân biệt tội danh là dựa vào độ tuổi của đối tượng tác động) vì vậy phương thức, thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng để thực hiện hành vi trong Tội mua bán người dưới 16 tuổi sẽ giống với Tội mua bán người.

Cách hiểu thứ hai, đó là trong Tội mua bán người dưới 16 tuổi chỉ cần người phạm tội thực hiện các hành vi được quy định trong cấu thành là đã đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm dù có hay không sử dụng phương thức, thủ đoạn như trong Tội mua bán người.

Theo tác giả, cách hiểu thứ hai sẽ hợp lý hơn vì đối tượng tác động của Tội mua bán người dưới 16 tuổi là người dưới 16 tuổi – những người chưa thật sự hoàn thiện về tâm sinh lý, sẽ có những trường hợp nạn nhân còn quá nhỏ để có thể nhận thức được các phương thức, thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra, theo khoản c Điều 3 Nghị định thư về ngăn ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi buôn bán người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung cho công ước của Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia quy định “Việc mua, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận một đứa trẻ nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là "buôn bán người" ngay cả khi việc này được thực hiện không cần dùng đến bất kỳ cách thức nào được nói đến trong khoản (a) điều này” (Các cách thức đã nêu trong khoản a điều này là một trong những cách thức đã quy định tại Điều 150 Bộ luật Hình sự đó là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác)[6].

Tội mua bán người dưới 16 tuổi quy định 4 khung hình phạt trong đó mức hình phạt thấp nhất đối với tội này là phạt tù 7 năm và mức hình phạt cao nhất là tù chung thân. Khoản 4 quy định về hình phạt bổ sung.

Thứ hai, Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi theo Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 2015[7]

So với Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015) thì khách thể và mặt chủ quan của của tội phạm này là giống nhau. Chủ thể của tội phạm này là chủ thể thường, phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. Về mặt khách quan, tội phạm này chỉ quy định dấu hiệu hành vi khách quan là bắt buộc nên đây là cấu thành tội phạm hình thức. Hành vi chiếm đoạt người dưới 16 tuổi được hiểu là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ. Hành vi chiếm giữ người dưới 16 tuổi có thể được thực hiện bằng thủ đoạn dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhưng cũng có thể là bằng dụ dỗ, lừa dối…và mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội này. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả thực tế muốn xác định được tội danh này thì ta cần phải dựa vào mục đích của người phạm tội. Hành vi chiếm giữ người dưới 16 tuổi của người phạm tội phải có mục đích không giao trả lại người (mặc dù trong luật không quy định) và không thuộc các trường hợp chiếm giữ người với những mục đích khác mà luật đã quy định thì mới có thể phân biệt với các tội phạm khác vì hành vi chiếm giữ được quy định trong nhiều tội danh khác nhau. Ví dụ nếu người phạm tội dùng các thủ đoạn khác nhau chiếm giữ người dưới 16 tuổi để thực hiện các hành vi tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 151 thì thuộc trường hợp Tội mua bán người dưới 16 tuổi (điểm c khoản 1 Điều 151 Bộ luật Hình sự)[8].

Điều 153 Bộ luật Hình sự quy định 4 khung hình phạt. Khoản 1 quy định hình phạt tù thấp nhất 03 năm và khoản 3 quy định mức hình phạt cao nhất là 15 năm tù. Khoản 4 quy định hình phạt bổ sung.

2. Một số hạn chế trong quy định Bộ luật Hình sự năm 2015 về dấu hiệu định tội của Tội mua bán người dưới 16 tuổi và Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi

Thứ nhất, có thể nhận thấy được điểm tiến bộ trong Bộ luật Hình sự năm 2015 về Tội mua bán người dưới 16 tuổi so với Bộ luật Hình sự năm 1999 là đã quy định chi tiết hành vi khách quan của tội này vào trong luật. Trước đây trong Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định tội danh mua bán người dưới 16 tuổi nhưng không mô tả cụ thể hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm cơ bản mà chỉ quy định “người nào mua bán người thì bị phạt...” vì vậy hành vi khách quan của tội phạm này chính là “hành vi dùng tiền hoặc tài sản hoặc các phương tiện thanh toán khác để trao đổi người như một thứ hàng hóa”[9]. Tuy nhiên, trong Bộ luật Hình sự năm 2015, hành vi khách quan của tội mua bán người dưới 16 tuổi ngoài cách hiểu như Bộ luật Hình sự 1999 thì còn có thêm 2 trường hợp đó là: (i) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc là vì mục đích vô nhân đạo; (ii) Hoặc là hành vi giao người hoặc nhận người chưa diễn ra nhưng người phạm tội đã thực hiện hành vi tuyển mộ (tức là dùng phương thức thủ đoạn khác nhau để có được nạn nhân), chứa chấp hay vận chuyển người (đây đều là những hành vi thực hiện trước cả hành vi chuyển giao người) để thực hiện các hành vi đã nêu trong điểm a, b khoản 1 Điều 151 Bộ luật Hình sự thì cũng đã đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm này. Ví dụ: nếu người phạm tội sử dụng vũ lực để bắt nạn nhân dưới 16 tuổi trở lên nhằm thực hiện hành vi chuyển người để nhận tiền thì đây chính là hành vi khách quan của tội mua bán người dưới 16 tuổi, tuy nhiên trường hợp này chưa chuyển giao người nên không thể thuộc trường hợp tại điểm a khoản 1 Điều 151 mà thuộc điểm c khoản 1 Điều 151 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, nếu trong trường hợp một người bắt giữ người dưới 16 tuổi nhưng không thực hiện hành vi chuyển giao cũng như không có mục đích chuyển giao mà tự mình sử dụng người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể người hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác thì định tội danh như thế nào. Ví dụ như một người bắt một đứa trẻ 3 tuổi và tự mình bắt đứa trẻ này đi ăn xin[10] thì tội danh là gì? Rõ ràng nếu theo quy định tại khoản 1 Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì không thỏa mãn dấu hiệu định tội của Tội mua bán người dưới 16 tuổi cho nên chỉ có thể định vào Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 2015). Tuy nhiên, định tội danh như thế này theo chúng tôi là không phù hợp với tính chất nguy hiểm của hành vi vì Tội mua bán người dưới 16 tuổi có mức độ nguy hiểm cao hơn Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi[11], cũng như không phù hợp với tinh thần tại Điều 3[12] của Nghị định thư về ngăn ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi buôn bán người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung cho công ước của Liên Hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Chính vì vậy tác giả cho rằng cần sửa đổi lại quy định tại khoản 1 Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 để việc định tội danh được chính xác và thống nhất.

Thứ hai, về hành vi khách quan của Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi trong BLHS năm 2015 tại khoản 1 Điều 153 có quy định hành vi chiếm đoạt chính là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi. Tuy nhiên theo tác giả việc quy định hành vi chiếm đoạt là chiếm giữ là không phù hợp. Bởi vì bản chất chiếm đoạt người dưới 16 tuổi là chuyển dịch nạn nhân một cách trái phép, đưa nạn nhân ra khỏi sự quản lý của gia đình hay người quản lý hợp pháp, còn chiếm giữ bản chất là không giao trả, có thể bao gồm sự chuyển dịch và không giao trả hoặc chỉ đơn thuần là không giao trả chứ không có sự chuyển dịch một cách trái pháp luật. Ví dụ, trường hợp A thấy một em bé 5 tuổi bị thất lạc cha mẹ, sau đó A dụ dỗ đưa đứa trẻ về nhà chăm sóc, nuôi dưỡng và A không hề có ý định tìm bố mẹ để trả lại đứa trẻ này thì không thể xử A vào Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều Bộ luật Hình sự năm 2015) được mặc dù A có hành vi chiếm giữ đứa trẻ này. Chính vì vậy nhóm tác giả cho rằng: Không phải tội phạm nào cũng phải quy định theo hướng mô tả vì vậy cần quy định lại dấu hiệu định tội của tội này theo hướng quy định giản đơn và có văn bản hướng dẫn thi hành.

Thứ ba, việc định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt người dưới 16 tuổi với hành vi mua bán người dưới 16 tuổi có thể có sự nhầm lẫn vì trong Tội mua bán người dưới 16 tuổi có hành vi chiếm đoạt người dưới 16 tuổi, cụ thể tại điểm c khoản 1 Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 “tuyển mộ…người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi tại điểm a, b khoản này”. Để có sự chặt chẽ trong việc định tội danh cũng như phù hợp với kỷ thuật lập pháp đã được sử dụng trong việc quy định một số tội phạm[13] khi một hành vi có thể được quy định trong nhiều điều luật khác nhau tác giả cho rằng nên quy định trường hợp loại trừ tội danh trong cấu thành cơ bản của Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện

Một là, tác giả đề xuất sửa đổi dấu hiệu định tội của Tội mua bán người dưới 16 tuổi theo hướng phù hợp tinh thần của Nghị định thư chống mua bán người mà Việt Nam là thành viên cũng như phù hợp với việc định tội danh. Cụ thể sửa đổi điểm c khoản 1 Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 “Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này” thành “Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể người hay vì mục đích vô nhân đạo khác”.

Hai là, sửa đổi dấu hiệu định tội của Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 2015) theo hướng quy định hành vi khách quan của tội này là hành vi chiếm đoạt thay cho hành vi chiếm giữ. Đồng thời, bổ sung thêm trường hợp loại trừ tội danh vào trong cấu thành cơ bản của tội này để việc định tội danh được rõ ràng, cụ thể bổ sung thêm quy định “nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 151 của Bộ luật nàyvào khoản 1 Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cụ thể sửa đổi khoản 1 Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 2015 từ “người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi thì…” thành “người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm đoạt người dưới 16 tuổi nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 151 của Bộ luật này thì …”. Đồng thời, cơ quan có thẩm quyền cần có văn bản hướng dẫn cụ thể thế nào là hành vi chiếm đoạt trong Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Phan Thị Phương Hiền

Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Xem Ban soạn thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi), Bản thuyết minh chi tiết về Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi), Hà Nội, tháng 4/2015, tr. 37, “Điều 120 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định ba tội danh trong cùng một điều luật với tính chất, mức độ nguy hiểm khác nhau nhưng lại chung một chính sách xử lý. Qua nghiên cứu, khảo sát thực tiễn nhận thấy, việc quy định tội danh ghép như hiện hành chưa phản ánh đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như chưa đảm bảo việc phân hóa trách nhiệm hình sự. Do vậy, Điều 150, 151 và 152 dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) đã quy định tội mua bán trẻ em, tội đánh tráo, trẻ em và tội chiếm đoạt trẻ em là 03 tội danh độc lập với chính sách xử lý khác nhau”.

[2] Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều điều ước quốc tế. Công ước có ảnh hưởng trực tiếp đến việc quy định lại dấu hiệu định tội của hai tội phạm này trong Bộ luật Hình sự năm 2015 là Nghị định thư về ngăn ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi buôn bán người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung cho công ước của Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

[3] Khoản 1 Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

“Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này”.

[4] Xem Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.

[5] Xem thêm “Phan Thị Phương Hiền - Nguyễn Thị Phương Hoa tại chương 11 - Những điểm mới về các tội xân phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” trong Nguyễn Thị phương Hoa - Phan Anh Tuấn (đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nxb Hồng Đức, tr. 168.

[6] Xem thêm “Phan Thị Phương Hiền - Nguyễn Thị Phương Hoa tại chương 11 - Những điểm mới về các tội xân phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” trong “Nguyễn Thị phương Hoa - Phan Anh Tuấn (đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nxb Hồng Đức, tr. 168.”

[7] Khoản 1 Điều 153 Bộ luật Hình sự Năm 2015 quy định “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm”.

[8] Xem thêm “Phan Thị Phương Hiền - Nguyễn Thị Phương Hoa tại chương 11 - Những điểm mới về các tội xân phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” trong “Nguyễn Thị phương Hoa - Phan Anh Tuấn (đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nxb Hồng Đức, tr. 169”.

[9] Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm-quyển 1), Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, tr.124; TS Nguyễn Đức Mai - chủ biên (2010), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 - phần các tội phạm, Nxb Chính trị quốc gia, tr.139 “mặt khách quan của tội phạm là hành vi mua bán, trao đổi một con người cụ thể (phụ nữ hoặc nam giới) để lấy tiền, hàng hóa hoặc lợi ích vật chất khác”).

[10] Chiếm đoạt trẻ em và bắt trẻ em đi ăn xin là vì mục đích vô nhân đạo theo nội dung của Thông tư liên tịch số 01/2013/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP ngày 23/7/2013 hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi mua bán người, mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em.

[11] Hiện nay, Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 2015) đã bỏ tình tiết “vì mục đích vô nhân đạo” là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt. Trước đây, trong Bộ luật Hình sự năm 1999, hành vi chiếm đoạt trẻ em dưới 16 tuổi để thực hiện mục đích vô nhân đạo thì sẽ bị áp dụng khung hình phạt tăng nặng. Cũng như tình tiết để lấy bộ phận cơ thể người cũng không phải là tình tiết định khung tăng nặng của tội này.

[12] Trong Nghị định thư này, những thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

a) “Việc buôn bán người” nghĩa là việc mua, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hoặc đe doạ sử dụng vũ lực hoặc bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá hay lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hoặc bằng việc đưa, nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người nhằm kiểm soát nhữngngười khác. Hành vi bóc lột bao gồm, ít nhất, việc bóc lột mại dâm những người khác hay những hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hoặc dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc việc lấy các bộ phận cơ thể;

b) Việc một nạn nhân của hành vi buôn bán người chấp nhận sự bóc lột có chủ ý được nêu ra trong khoản (a) của Điều này sẽ là không thích hợp nếu bất kỳ một cách thức nào nêu trong khoản (a) đã được sử dụng.

c) Việc mua, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận một đứa trẻ nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là “buôn bán người” ngay cả khi việc này được thực hiện không cần dùng đến bất kỳ một cách thức nào được nói đến trong khoản (a) Điều này;

d) “Trẻ em” là người dưới 18 tuổi.

[13] Ví dụ: Khoản 1 Điều 157 BLHS năm 2015 quy định “Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Hay khoản 1 Điều 140 năm 2015 quy định “Người nào đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: