Thứ ba 18/08/2026 08:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tội phạm cờ bạc - Thực trạng và các biện pháp phòng, chống

Với xu hướng lây lan mạnh và ngày càng phổ biến, tệ nạn cờ bạc và tội phạm đánh bạc hiện nay đang phát triển mạnh dưới nhiều hình thức tinh vi và xảo quyệt, làm cho tình hình trật tự an toàn xã hội thêm phức tạp, thậm chí nhiều nơi hoạt động cờ bạc xuất hiện công khai ngay tại các lễ hội. Cờ bạc được “ẩn náu” dưới nhiều hình thức khác nhau. Ở miền Bắc phổ biến là các trò: Số đề, chắn cạ, tổ tôm, đỏ đen, ba cây, đầu đít, tam cúc, tú lơ khơ, chọi gà, tá lả, xóc đĩa, các loại cá cược trong thể thao. Ở miền Nam phổ biến là các trò: Bình sập xám, tứ sắc, từa sỉu, xì tố, xì lắc, đá gà, cá cược trong thể thao; số đề, xóc đĩa, đỏ đen. Đây là những loại hình cờ bạc đang được các con bạc ưa chuộng.

1. Thực trạng tệ nạn cờ bạc ở nước ta hiện nay

Nói đến tệ nạn cờ bạc trước hết phải nói đến nạn số đề. Nạn số đề đã từng là hình thức cờ bạc phổ biến nhất trong thập kỷ 90. Trước đây, nạn số đề thường chỉ tồn tại ở các thành phố, thị xã, nhưng trong những năm gần đây, tệ nạn này đã xâm nhập sâu rộng đến tận các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, từ các cơ quan xí nghiệp đến các trường học và những nơi cộng cộng, các chủ đề mọc lên như nấm, có mạng lưới thư ký ghi đề đông đảo phục vụ đến từng đối tượng... Hậu quả do nạn số đề để lại là đã làm nhiều gia đình tan gia bại sản, hạnh phúc gia đình tan vỡ.

Về hình thức cờ bạc xóc đĩa hoạt động theo kiểu sòng bạc, rải rác ở khắp các tỉnh thành trong cả nước. Có rất nhiều ổ nhóm cờ bạc lớn hoạt động mang tính chất sòng bạc, số đối tượng tham gia gồm đủ các thành phần xã hội, băng nhóm lưu manh, ổ nhóm buôn lậu, chủ đề, chủ kinh doanh, chủ thầu công trình, chủ doanh nghiệp. Chúng sát phạt lẫn nhau với số tiền lớn lên đến hàng trăm triệu đồng. Các tổ chức dạng này hoạt động chặt chẽ, có mạng lưới bảo vệ từ xa, thông tin kịp thời, liên lạc bằng bộ đàm, điện thoại di động. Phương thức hoạt động của bọn cờ bạc loại này là thường thay đổi địa điểm hoạt động, những nơi được chúng chọn thường là nơi “khó vào nhưng dễ thoát”. Có thể nói đây là một hình thức cờ bạc hoạt động rất tinh vi, xảo quyệt và có tính tổ chức, kỷ luật cao.

Nạn cá cược trong thể thao (bóng đá). Đây là loại hình cờ bạc tuy mới xuất hiện ở nước ta, song phát triển khá mạnh và có chiều hướng gia tăng trong vài năm gần đây. Loại hình cờ bạc này thường được tổ chức hoạt động tại các nhà hàng cà phê, vũ trường, quán Karaoke, quán giải khát nấp dưới các hình thức quảng cáo như “Câu lạc bộ bóng đá”, “Cafe phục vụ bóng đá”. Tổ chức cờ bạc loại này thường cá độ cho các đội bóng đá quốc tế, tiền cá cược từ một triệu đến hàng chục triệu đồng. Chúng cá cược dưới nhiều hình thức như tỷ số bàn thắng, bàn thua, thẻ vàng, đá phạt, phạt góc, ném biên. Đối tượng tham gia cũng gồm đủ các thành phần xã hội từ đối tượng buôn lậu, chủ thầu đến chủ doanh nghiệp, Việt kiều…

Ngoài ra, các hoạt động cờ bạc mang tính phổ thông như chắn cạ, tổ tôm, đỏ đen, ba cây, đầu đít, tam cúc, tú lơ khơ, chọi gà, tá lả, binh sập xám, tú sắc, tài xỉu, xì tố, xì lắc… hoạt động có tính công khai ở hầu khắp các cơ quan, xí nghiệp, trường học. Có những địa phương việc chơi chắn cạ, tổ tôm và một số loại hình cờ bạc khác còn diễn ra ngay trong ngày lễ hội, ma chay, cưới hỏi gây mất trật tự an toàn xã hội, an ninh nông thôn.

2. Một số nguyên nhân của tệ nạn cờ bạc ở nước ta

Thứ nhất, kinh tế thị trường phát triển kéo theo cả sự bất bình đẳng, sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Tình trạng thất nghiệp ngày càng tăng, nghèo đói, không công ăn việc làm, con người dễ bị sa đà vào các tệ nạn xã hội như: Ma túy, mại dâm, cờ bạc.

Thứ hai, các quy định của pháp luật hiện hành vẫn chưa phân định rõ ràng ranh giới giữa vi phạm hành chính và vi phạm hình sự gây khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc áp dụng pháp luật. Chính sự bất cập này đã dẫn đến tình trạng đôi khi còn tùy tiện trong xử lý, việc áp dụng pháp luật thiếu thống nhất, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát sinh các hiện tượng tiêu cực, làm hạn chế tính răn đe và tác dụng phòng ngừa, nảy sinh tâm lý coi thường pháp luật. Bên cạnh đó, các chế tài hành chính và hình sự đối với hành vi cờ bạc còn quá nhẹ, chưa tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm của tội phạm.

Thứ ba, các chính sách lao động, việc làm hiện nay ở nước ta còn chưa được quan tâm đúng mức. Việc mất cân đối giữa sức lao động và nhu cầu sử dụng lao động, giữa lao động ở nông thôn và thành thị, việc chưa coi trọng đúng mức các ngành nghề truyền thống cũng như việc không tận dụng hết thời gian và cường độ lao động, dẫn đến một thực tế là trong số các đối tượng cờ bạc thì phần đông là những người thất nghiệp, nhàn rỗi, sử dụng cờ bạc như là một phương tiện để kiếm sống.

Thứ tư, công tác phối hợp của các cơ quan chức năng trong đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội còn thiếu đồng bộ, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng tham gia. Đội ngũ cán bộ của các cơ quan chuyên trách đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội nói chung còn thiếu về số lượng và yếu về trình độ, năng lực chuyên môn.

Thứ năm, xuất phát từ nguyên nhân chủ quan, tệ nạn cờ bạc phát sinh trong xã hội và có tính lịch sử, tồn tại từ lâu đời. Vì vậy, tâm lý coi cờ bạc không phải là một hành vi xấu đến mức con người phải xa lánh. Sự xuất hiện của cờ bạc luôn gắn liền với ý muốn hưởng thụ, nhu cầu giải trí của con người. Khi những ý muốn hưởng thụ này không đúng chuẩn mực, không phù hợp với điều kiện thực tế, con người dễ bị sa đà vào tệ nạn xã hội. Họ cho rằng, có chơi một chút, mất một ít tiền thì coi như không mất gì cả. Đầu tiên là trò giải trí, để trò giải trí này hay hơn, hấp dẫn hơn, họ dùng tiền - vật chất để tính toán với nhau. Lúc đầu còn ít, sau càng đánh càng mất, càng mất càng cay cú, càng cay cú càng ham gỡ. Dần dần sự ham chơi giải trí đã biến thành nỗi đam mê, các con bạc sát phạt lẫn nhau một cách không tương tiếc.

3. Quy định pháp luật về nghiêm cấm tệ nạn cờ bạc ở Việt Nam

Nhận thấy những tác hại khôn lường do ảnh hưởng của tệ nạn xã hội nói chung, tệ nạn cờ bạc nói riêng, ngay sau khi giành được chính quyền, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm ngăn chặn sự phát triển của tệ nạn cờ bạc. Trong đó, phải kể đến các văn bản như: Sắc lệnh số 168/SL về việc ấn định cách trừng trị tội đánh bạc do Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà ban hành ngày 14/04/1948; Sắc lệnh trích lục Sắc lệnh số 71 ngày 22/5/1946 ấn định quy tắc quân đội (Sắc lệnh trích lục Sắc lệnh số 71); Thông tư số 301/VHH-HS ngày 14/1/1957 về việc bài trừ nạn cờ bạc (Thông tư số 301/VHH-HS); Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999…

Sắc lệnh trích lục Sắc lệnh số 71 quy định việc đánh bạc trong quân nhân vừa bị coi là thường tội, vừa bị coi là trọng tội và bị xử lý nghiêm khắc. Sắc lệnh số 168/SL ngày 14/04/1948 quy định: “Tất cả các trò chơi cờ bạc, dù là có tính cách may rủi hay là có thể dùng trí khôn để tính nước mà được thua bằng tiền, đều coi là tội đánh bạc và bị phạt tù từ 2 năm đến 5 năm, đồng thời phạt bạc từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng”. Sắc lệnh quy định: “cấm bày bán, tàng trữ, lưu hành các khí cụ chuyên dùng để đánh bạc. Nếu vi phạm bị phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm, phạt bạc từ 1.000 đồng đến 10.000 đồng”.

Thông tư số 301/VHH-HS đã đặt ra kế hoạch vận động, tuyên truyền giáo dục nhân dân bài trừ nạn cờ bạc. Theo đó, đối với “những trò chơi cờ bạc được thua bằng tiền có tính chất sát phạt thì truy tố trước Tòa án”. Nhưng chỉ truy tố đối với bọn tổ chức, bọn chứa gà, bọn sóc cái, bọn hồ ly, bọn canh gác chuyên sống về nghề cờ bạc và c on bạc chuyên nghiệp đã được cảnh cáo rồi mà vẫn tiếp tục chơi, coi thường pháp luật.

Ngày 28/6/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 53/CP quy định các biện pháp xử lý đối với cán bộ, viên chức nhà nước và những người có hành vi liên quan đến mại dâm, ma túy, cờ bạc và say rượu bê tha. Điều 6 của Nghị định số 53/CP quy định: “Cán bộ, viên chức nhà nước đánh bạc mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị phạt tiền từ 20.000 đồng đến 200.000 đồng, đồng thời thông báo về cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc để xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo, hạ bậc lương hoặc cách chức, trường hợp tái phạm thì phạt từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng và thông báo về cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc để xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc”. Điều 8 của Nghị định số 53/CP quy định cụ thể trách nhiệm: “Thủ trưởng trực tiếp của những người có hành vi vi phạm này mà bao che hoặc không kịp thời xử lý kỷ luật người vi phạm thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo, cách chức, hoặc buộc thôi việc”. Nghị định này cũng quy định chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với các Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và những người có nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh phòng, chống các hành vi này mà dung túng, bao che hoặc xử lý không kịp thời, để hành vi này xảy ra trên địa bàn mình quản lý. Các biện pháp xử lý là cảnh cáo, cách chức hoặc buộc thôi việc (khoản 2 Điều 8). Riêng đối với giám đốc khách sạn, chủ khách sạn, nhà hàng, vũ trường, nhà nghỉ hoặc cơ sở khác đánh bạc thì xử lý hình sự; nếu do thiếu trách nhiệm để hành vi đánh bạc xảy ra trong cơ sở mình quản lý, thì phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 10 triệu đồng và bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo, cách chức hoặc buộc thôi việc (nếu là cơ sở quốc doanh).

Bên cạnh các chế tài hành chính, Bộ luật Hình sự năm 1985 còn quy định tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc tại Điều 200, theo đó: “những người đánh bạc dưới hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật sẽ bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm, người tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”.

Bộ luật Hình sự năm 1999 đã sửa đổi, bổ sung và tách Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 1985 thành hai tội danh độc lập, cụ thể: Điều 248 quy định: “Những người đánh bạc dưới bất kì hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về một trong các tội này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm”; và Điều 249 quy định: “Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc hành vi đánh bạc, hoặc đã bị kết án về một trong các tội này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 300 triệu đồng hoặc bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm”.

Mặc dù, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định về tội đánh bạc tại Điều 248 của Bộ luật Hình sự mới được sửa đổi, nhưng từ thực tiễn xét xử còn có nhiều hạn chế do quy định chưa rõ ràng, gây khó khăn khi xử lý các hành vi đánh bạc như: Còn vướng mắc khi xác định tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc; quy định về cộng dồn tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc; xử lý đối với trường hợp vi phạm nhiều lần; xử lý đối với vi phạm của người ghi số đề chưa phù hợp, đúng tội; xử lý đối với đồng phạm trong tội đánh bạc chưa thích đáng; thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 23) còn bất cập.

Khắc phục những vướng mắc này, Bộ Luật Hình sự năm 2015 đã phần nào giải quyết được những vấn đề trên. Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội đánh bạc quy định mức tiền khởi điểm để truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh này là 5.000.000 đồng. Theo quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015, và thực tế hiện nay ở nước ta, Viện kiểm sát các cấp đã tiến hành rà soát các trường hợp đánh bạc, nhưng số tiền thu được có giá trị dưới 5.000.000 đồng mà không có tiền án, tiền sự về tội danh này hoặc có, nhưng đã được xóa án tích thì chuyển sang hình thức xử phạt hành chính, miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 1999 và tinh thần điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109 của Quốc hội (trước ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành) hoặc theo điểm a khoản 1 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sau khi có hiệu lực). Ngoài các dấu hiệu trong cấu thành cơ bản trên đây, các tình tiết có tính chất chuyên nghiệp; tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị lớn hoặc đặc biệt lớn, tái phạm nguy hiểm được coi là những tình tiết định khung tăng nặng đối với các tội này.

4. Các biện pháp phòng, chống tệ nạn cờ bạc ở nước ta hiện nay

Một là, đổi mới nhận thức: Các ngành, các cấp cần chú trọng xây dựng lực lượng chính quyền cấp cơ sở vững mạnh về mọi mặt, phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc để phát hiện, đấu tranh xóa bỏ các tụ điểm hoạt động cờ bạc, quản lý giáo dục các đối tượng cờ bạc. Luôn luôn đổi mới nhận thức để có thể đánh giá một cách khách quan, toàn diện, từ đó đề ra chính sách phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống loại hình tệ nạn này là một yêu cầu tất yếu. Mặt khác, Nhà nước cần ban hành các chính sách nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, đặc biệt trong tầng lớp thanh niên, cần tổ chức các hình thức sinh hoạt văn hóa, thể thao phù hợp để thu hút họ trong thời gian nhàn rỗi, đáp ứng nhu cầu giải trí của tuổi trẻ.

Hai là, đổi mới chính sách lao động, việc làm: Cần có chính sách lao động và việc làm hợp lý, tạo công ăn việc làm cho người thất nghiệp. Đồng thời, quản lý chặt chẽ giờ giấc làm việc, tận dụng hết khả năng của cán bộ, viên chức nhà nước là một trong những biện pháp đấu tranh phòng, chống tệ nạn này rất có hiệu quả.

Ba là, đổi mới chính sách văn hóa giáo dục: Giáo dục truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, giáo dục trong nhà trường về tệ nạn cờ bạc. Nêu rõ những tác hại của tệ nạn đánh bạc như: Gây mất ổn định về an ninh, trật tự xã hội, tan gia bại sản, phá hoại hạnh phúc gia đình của tệ nạn đánh bạc được xem là biện pháp có hiệu quả phòng ngừa cao. Cuộc đấu tranh chống lại tệ nạn xã hội, trong đó có tệ nạn cờ bạc đòi hỏi phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và toàn diện.

Bốn là, về quản lý các lĩnh vực dịch vụ, kinh doanh: Tăng cường hơn nữa các biện pháp nghiệp vụ như công tác rà soát, kiểm tra, xác lập ổ nhóm hoạt động cờ bạc, xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật của Ngành Công an. Cần sớm có cơ chế quản lý chặt chẽ các vũ trường, nhà hàng karaoke, quán cà phê… nhằm hạn chế các chủ chứa cờ bạc.

Năm là, các biện pháp pháp lý: Luôn được đánh giá là một trong số các biện pháp có hiệu quả nhất trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Nó không những có tác dụng trừng trị, răn đe mà còn có tác dụng giáo dục đối với toàn xã hội. Vì thế, Nhà nước phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về tội phạm đánh bạc để các cơ quan có thẩm quyền, cá nhân, tổ chức có đủ cơ sở pháp lý, góp phần ngăn chặn, phòng ngừa tệ nạn này.

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có những thay đổi tích cực, nhưng theo chúng tôi còn chưa triệt để ở một số điểm như: Định lượng số tiền dùng để đánh bạc (trên 50 triệu đồng là khó xử lý); về tình tiết định khung có tính chất chuyên nghiệp (khó khăn trong chứng minh được tình tiết này của người phạm tội, vì các con bạc đã hủy hết chứng cứ, không thể chứng minh được số lần, số người, số tiền). Vì vậy, trong thời gian tới hy vọng các nhà làm luật sẽ làm rõ hơn các vấn đề này tại các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015.

Trần Thị Thu Hà

Ban Tuyên truyền và thông tin, Liên minh HTX Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: