Thứ sáu 03/04/2026 19:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tội phạm cờ bạc - Thực trạng và các biện pháp phòng, chống

Với xu hướng lây lan mạnh và ngày càng phổ biến, tệ nạn cờ bạc và tội phạm đánh bạc hiện nay đang phát triển mạnh dưới nhiều hình thức tinh vi và xảo quyệt, làm cho tình hình trật tự an toàn xã hội thêm phức tạp, thậm chí nhiều nơi hoạt động cờ bạc xuất hiện công khai ngay tại các lễ hội. Cờ bạc được “ẩn náu” dưới nhiều hình thức khác nhau. Ở miền Bắc phổ biến là các trò: Số đề, chắn cạ, tổ tôm, đỏ đen, ba cây, đầu đít, tam cúc, tú lơ khơ, chọi gà, tá lả, xóc đĩa, các loại cá cược trong thể thao. Ở miền Nam phổ biến là các trò: Bình sập xám, tứ sắc, từa sỉu, xì tố, xì lắc, đá gà, cá cược trong thể thao; số đề, xóc đĩa, đỏ đen. Đây là những loại hình cờ bạc đang được các con bạc ưa chuộng.

1. Thực trạng tệ nạn cờ bạc ở nước ta hiện nay

Nói đến tệ nạn cờ bạc trước hết phải nói đến nạn số đề. Nạn số đề đã từng là hình thức cờ bạc phổ biến nhất trong thập kỷ 90. Trước đây, nạn số đề thường chỉ tồn tại ở các thành phố, thị xã, nhưng trong những năm gần đây, tệ nạn này đã xâm nhập sâu rộng đến tận các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, từ các cơ quan xí nghiệp đến các trường học và những nơi cộng cộng, các chủ đề mọc lên như nấm, có mạng lưới thư ký ghi đề đông đảo phục vụ đến từng đối tượng... Hậu quả do nạn số đề để lại là đã làm nhiều gia đình tan gia bại sản, hạnh phúc gia đình tan vỡ.

Về hình thức cờ bạc xóc đĩa hoạt động theo kiểu sòng bạc, rải rác ở khắp các tỉnh thành trong cả nước. Có rất nhiều ổ nhóm cờ bạc lớn hoạt động mang tính chất sòng bạc, số đối tượng tham gia gồm đủ các thành phần xã hội, băng nhóm lưu manh, ổ nhóm buôn lậu, chủ đề, chủ kinh doanh, chủ thầu công trình, chủ doanh nghiệp. Chúng sát phạt lẫn nhau với số tiền lớn lên đến hàng trăm triệu đồng. Các tổ chức dạng này hoạt động chặt chẽ, có mạng lưới bảo vệ từ xa, thông tin kịp thời, liên lạc bằng bộ đàm, điện thoại di động. Phương thức hoạt động của bọn cờ bạc loại này là thường thay đổi địa điểm hoạt động, những nơi được chúng chọn thường là nơi “khó vào nhưng dễ thoát”. Có thể nói đây là một hình thức cờ bạc hoạt động rất tinh vi, xảo quyệt và có tính tổ chức, kỷ luật cao.

Nạn cá cược trong thể thao (bóng đá). Đây là loại hình cờ bạc tuy mới xuất hiện ở nước ta, song phát triển khá mạnh và có chiều hướng gia tăng trong vài năm gần đây. Loại hình cờ bạc này thường được tổ chức hoạt động tại các nhà hàng cà phê, vũ trường, quán Karaoke, quán giải khát nấp dưới các hình thức quảng cáo như “Câu lạc bộ bóng đá”, “Cafe phục vụ bóng đá”. Tổ chức cờ bạc loại này thường cá độ cho các đội bóng đá quốc tế, tiền cá cược từ một triệu đến hàng chục triệu đồng. Chúng cá cược dưới nhiều hình thức như tỷ số bàn thắng, bàn thua, thẻ vàng, đá phạt, phạt góc, ném biên. Đối tượng tham gia cũng gồm đủ các thành phần xã hội từ đối tượng buôn lậu, chủ thầu đến chủ doanh nghiệp, Việt kiều…

Ngoài ra, các hoạt động cờ bạc mang tính phổ thông như chắn cạ, tổ tôm, đỏ đen, ba cây, đầu đít, tam cúc, tú lơ khơ, chọi gà, tá lả, binh sập xám, tú sắc, tài xỉu, xì tố, xì lắc… hoạt động có tính công khai ở hầu khắp các cơ quan, xí nghiệp, trường học. Có những địa phương việc chơi chắn cạ, tổ tôm và một số loại hình cờ bạc khác còn diễn ra ngay trong ngày lễ hội, ma chay, cưới hỏi gây mất trật tự an toàn xã hội, an ninh nông thôn.

2. Một số nguyên nhân của tệ nạn cờ bạc ở nước ta

Thứ nhất, kinh tế thị trường phát triển kéo theo cả sự bất bình đẳng, sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Tình trạng thất nghiệp ngày càng tăng, nghèo đói, không công ăn việc làm, con người dễ bị sa đà vào các tệ nạn xã hội như: Ma túy, mại dâm, cờ bạc.

Thứ hai, các quy định của pháp luật hiện hành vẫn chưa phân định rõ ràng ranh giới giữa vi phạm hành chính và vi phạm hình sự gây khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc áp dụng pháp luật. Chính sự bất cập này đã dẫn đến tình trạng đôi khi còn tùy tiện trong xử lý, việc áp dụng pháp luật thiếu thống nhất, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát sinh các hiện tượng tiêu cực, làm hạn chế tính răn đe và tác dụng phòng ngừa, nảy sinh tâm lý coi thường pháp luật. Bên cạnh đó, các chế tài hành chính và hình sự đối với hành vi cờ bạc còn quá nhẹ, chưa tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm của tội phạm.

Thứ ba, các chính sách lao động, việc làm hiện nay ở nước ta còn chưa được quan tâm đúng mức. Việc mất cân đối giữa sức lao động và nhu cầu sử dụng lao động, giữa lao động ở nông thôn và thành thị, việc chưa coi trọng đúng mức các ngành nghề truyền thống cũng như việc không tận dụng hết thời gian và cường độ lao động, dẫn đến một thực tế là trong số các đối tượng cờ bạc thì phần đông là những người thất nghiệp, nhàn rỗi, sử dụng cờ bạc như là một phương tiện để kiếm sống.

Thứ tư, công tác phối hợp của các cơ quan chức năng trong đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội còn thiếu đồng bộ, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng tham gia. Đội ngũ cán bộ của các cơ quan chuyên trách đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội nói chung còn thiếu về số lượng và yếu về trình độ, năng lực chuyên môn.

Thứ năm, xuất phát từ nguyên nhân chủ quan, tệ nạn cờ bạc phát sinh trong xã hội và có tính lịch sử, tồn tại từ lâu đời. Vì vậy, tâm lý coi cờ bạc không phải là một hành vi xấu đến mức con người phải xa lánh. Sự xuất hiện của cờ bạc luôn gắn liền với ý muốn hưởng thụ, nhu cầu giải trí của con người. Khi những ý muốn hưởng thụ này không đúng chuẩn mực, không phù hợp với điều kiện thực tế, con người dễ bị sa đà vào tệ nạn xã hội. Họ cho rằng, có chơi một chút, mất một ít tiền thì coi như không mất gì cả. Đầu tiên là trò giải trí, để trò giải trí này hay hơn, hấp dẫn hơn, họ dùng tiền - vật chất để tính toán với nhau. Lúc đầu còn ít, sau càng đánh càng mất, càng mất càng cay cú, càng cay cú càng ham gỡ. Dần dần sự ham chơi giải trí đã biến thành nỗi đam mê, các con bạc sát phạt lẫn nhau một cách không tương tiếc.

3. Quy định pháp luật về nghiêm cấm tệ nạn cờ bạc ở Việt Nam

Nhận thấy những tác hại khôn lường do ảnh hưởng của tệ nạn xã hội nói chung, tệ nạn cờ bạc nói riêng, ngay sau khi giành được chính quyền, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm ngăn chặn sự phát triển của tệ nạn cờ bạc. Trong đó, phải kể đến các văn bản như: Sắc lệnh số 168/SL về việc ấn định cách trừng trị tội đánh bạc do Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà ban hành ngày 14/04/1948; Sắc lệnh trích lục Sắc lệnh số 71 ngày 22/5/1946 ấn định quy tắc quân đội (Sắc lệnh trích lục Sắc lệnh số 71); Thông tư số 301/VHH-HS ngày 14/1/1957 về việc bài trừ nạn cờ bạc (Thông tư số 301/VHH-HS); Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999…

Sắc lệnh trích lục Sắc lệnh số 71 quy định việc đánh bạc trong quân nhân vừa bị coi là thường tội, vừa bị coi là trọng tội và bị xử lý nghiêm khắc. Sắc lệnh số 168/SL ngày 14/04/1948 quy định: “Tất cả các trò chơi cờ bạc, dù là có tính cách may rủi hay là có thể dùng trí khôn để tính nước mà được thua bằng tiền, đều coi là tội đánh bạc và bị phạt tù từ 2 năm đến 5 năm, đồng thời phạt bạc từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng”. Sắc lệnh quy định: “cấm bày bán, tàng trữ, lưu hành các khí cụ chuyên dùng để đánh bạc. Nếu vi phạm bị phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm, phạt bạc từ 1.000 đồng đến 10.000 đồng”.

Thông tư số 301/VHH-HS đã đặt ra kế hoạch vận động, tuyên truyền giáo dục nhân dân bài trừ nạn cờ bạc. Theo đó, đối với “những trò chơi cờ bạc được thua bằng tiền có tính chất sát phạt thì truy tố trước Tòa án”. Nhưng chỉ truy tố đối với bọn tổ chức, bọn chứa gà, bọn sóc cái, bọn hồ ly, bọn canh gác chuyên sống về nghề cờ bạc và c on bạc chuyên nghiệp đã được cảnh cáo rồi mà vẫn tiếp tục chơi, coi thường pháp luật.

Ngày 28/6/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 53/CP quy định các biện pháp xử lý đối với cán bộ, viên chức nhà nước và những người có hành vi liên quan đến mại dâm, ma túy, cờ bạc và say rượu bê tha. Điều 6 của Nghị định số 53/CP quy định: “Cán bộ, viên chức nhà nước đánh bạc mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị phạt tiền từ 20.000 đồng đến 200.000 đồng, đồng thời thông báo về cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc để xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo, hạ bậc lương hoặc cách chức, trường hợp tái phạm thì phạt từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng và thông báo về cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc để xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc”. Điều 8 của Nghị định số 53/CP quy định cụ thể trách nhiệm: “Thủ trưởng trực tiếp của những người có hành vi vi phạm này mà bao che hoặc không kịp thời xử lý kỷ luật người vi phạm thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo, cách chức, hoặc buộc thôi việc”. Nghị định này cũng quy định chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với các Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và những người có nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh phòng, chống các hành vi này mà dung túng, bao che hoặc xử lý không kịp thời, để hành vi này xảy ra trên địa bàn mình quản lý. Các biện pháp xử lý là cảnh cáo, cách chức hoặc buộc thôi việc (khoản 2 Điều 8). Riêng đối với giám đốc khách sạn, chủ khách sạn, nhà hàng, vũ trường, nhà nghỉ hoặc cơ sở khác đánh bạc thì xử lý hình sự; nếu do thiếu trách nhiệm để hành vi đánh bạc xảy ra trong cơ sở mình quản lý, thì phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 10 triệu đồng và bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo, cách chức hoặc buộc thôi việc (nếu là cơ sở quốc doanh).

Bên cạnh các chế tài hành chính, Bộ luật Hình sự năm 1985 còn quy định tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc tại Điều 200, theo đó: “những người đánh bạc dưới hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật sẽ bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm, người tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”.

Bộ luật Hình sự năm 1999 đã sửa đổi, bổ sung và tách Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 1985 thành hai tội danh độc lập, cụ thể: Điều 248 quy định: “Những người đánh bạc dưới bất kì hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về một trong các tội này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm”; và Điều 249 quy định: “Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc hành vi đánh bạc, hoặc đã bị kết án về một trong các tội này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 300 triệu đồng hoặc bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm”.

Mặc dù, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định về tội đánh bạc tại Điều 248 của Bộ luật Hình sự mới được sửa đổi, nhưng từ thực tiễn xét xử còn có nhiều hạn chế do quy định chưa rõ ràng, gây khó khăn khi xử lý các hành vi đánh bạc như: Còn vướng mắc khi xác định tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc; quy định về cộng dồn tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc; xử lý đối với trường hợp vi phạm nhiều lần; xử lý đối với vi phạm của người ghi số đề chưa phù hợp, đúng tội; xử lý đối với đồng phạm trong tội đánh bạc chưa thích đáng; thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 23) còn bất cập.

Khắc phục những vướng mắc này, Bộ Luật Hình sự năm 2015 đã phần nào giải quyết được những vấn đề trên. Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội đánh bạc quy định mức tiền khởi điểm để truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh này là 5.000.000 đồng. Theo quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015, và thực tế hiện nay ở nước ta, Viện kiểm sát các cấp đã tiến hành rà soát các trường hợp đánh bạc, nhưng số tiền thu được có giá trị dưới 5.000.000 đồng mà không có tiền án, tiền sự về tội danh này hoặc có, nhưng đã được xóa án tích thì chuyển sang hình thức xử phạt hành chính, miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 1999 và tinh thần điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109 của Quốc hội (trước ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành) hoặc theo điểm a khoản 1 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sau khi có hiệu lực). Ngoài các dấu hiệu trong cấu thành cơ bản trên đây, các tình tiết có tính chất chuyên nghiệp; tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị lớn hoặc đặc biệt lớn, tái phạm nguy hiểm được coi là những tình tiết định khung tăng nặng đối với các tội này.

4. Các biện pháp phòng, chống tệ nạn cờ bạc ở nước ta hiện nay

Một là, đổi mới nhận thức: Các ngành, các cấp cần chú trọng xây dựng lực lượng chính quyền cấp cơ sở vững mạnh về mọi mặt, phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc để phát hiện, đấu tranh xóa bỏ các tụ điểm hoạt động cờ bạc, quản lý giáo dục các đối tượng cờ bạc. Luôn luôn đổi mới nhận thức để có thể đánh giá một cách khách quan, toàn diện, từ đó đề ra chính sách phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống loại hình tệ nạn này là một yêu cầu tất yếu. Mặt khác, Nhà nước cần ban hành các chính sách nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, đặc biệt trong tầng lớp thanh niên, cần tổ chức các hình thức sinh hoạt văn hóa, thể thao phù hợp để thu hút họ trong thời gian nhàn rỗi, đáp ứng nhu cầu giải trí của tuổi trẻ.

Hai là, đổi mới chính sách lao động, việc làm: Cần có chính sách lao động và việc làm hợp lý, tạo công ăn việc làm cho người thất nghiệp. Đồng thời, quản lý chặt chẽ giờ giấc làm việc, tận dụng hết khả năng của cán bộ, viên chức nhà nước là một trong những biện pháp đấu tranh phòng, chống tệ nạn này rất có hiệu quả.

Ba là, đổi mới chính sách văn hóa giáo dục: Giáo dục truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, giáo dục trong nhà trường về tệ nạn cờ bạc. Nêu rõ những tác hại của tệ nạn đánh bạc như: Gây mất ổn định về an ninh, trật tự xã hội, tan gia bại sản, phá hoại hạnh phúc gia đình của tệ nạn đánh bạc được xem là biện pháp có hiệu quả phòng ngừa cao. Cuộc đấu tranh chống lại tệ nạn xã hội, trong đó có tệ nạn cờ bạc đòi hỏi phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và toàn diện.

Bốn là, về quản lý các lĩnh vực dịch vụ, kinh doanh: Tăng cường hơn nữa các biện pháp nghiệp vụ như công tác rà soát, kiểm tra, xác lập ổ nhóm hoạt động cờ bạc, xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật của Ngành Công an. Cần sớm có cơ chế quản lý chặt chẽ các vũ trường, nhà hàng karaoke, quán cà phê… nhằm hạn chế các chủ chứa cờ bạc.

Năm là, các biện pháp pháp lý: Luôn được đánh giá là một trong số các biện pháp có hiệu quả nhất trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Nó không những có tác dụng trừng trị, răn đe mà còn có tác dụng giáo dục đối với toàn xã hội. Vì thế, Nhà nước phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về tội phạm đánh bạc để các cơ quan có thẩm quyền, cá nhân, tổ chức có đủ cơ sở pháp lý, góp phần ngăn chặn, phòng ngừa tệ nạn này.

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có những thay đổi tích cực, nhưng theo chúng tôi còn chưa triệt để ở một số điểm như: Định lượng số tiền dùng để đánh bạc (trên 50 triệu đồng là khó xử lý); về tình tiết định khung có tính chất chuyên nghiệp (khó khăn trong chứng minh được tình tiết này của người phạm tội, vì các con bạc đã hủy hết chứng cứ, không thể chứng minh được số lần, số người, số tiền). Vì vậy, trong thời gian tới hy vọng các nhà làm luật sẽ làm rõ hơn các vấn đề này tại các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015.

Trần Thị Thu Hà

Ban Tuyên truyền và thông tin, Liên minh HTX Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: