Thứ tư 27/05/2026 23:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tội phạm cờ bạc - Thực trạng và các biện pháp phòng, chống

Với xu hướng lây lan mạnh và ngày càng phổ biến, tệ nạn cờ bạc và tội phạm đánh bạc hiện nay đang phát triển mạnh dưới nhiều hình thức tinh vi và xảo quyệt, làm cho tình hình trật tự an toàn xã hội thêm phức tạp, thậm chí nhiều nơi hoạt động cờ bạc xuất hiện công khai ngay tại các lễ hội. Cờ bạc được “ẩn náu” dưới nhiều hình thức khác nhau. Ở miền Bắc phổ biến là các trò: Số đề, chắn cạ, tổ tôm, đỏ đen, ba cây, đầu đít, tam cúc, tú lơ khơ, chọi gà, tá lả, xóc đĩa, các loại cá cược trong thể thao. Ở miền Nam phổ biến là các trò: Bình sập xám, tứ sắc, từa sỉu, xì tố, xì lắc, đá gà, cá cược trong thể thao; số đề, xóc đĩa, đỏ đen. Đây là những loại hình cờ bạc đang được các con bạc ưa chuộng.

1. Thực trạng tệ nạn cờ bạc ở nước ta hiện nay

Nói đến tệ nạn cờ bạc trước hết phải nói đến nạn số đề. Nạn số đề đã từng là hình thức cờ bạc phổ biến nhất trong thập kỷ 90. Trước đây, nạn số đề thường chỉ tồn tại ở các thành phố, thị xã, nhưng trong những năm gần đây, tệ nạn này đã xâm nhập sâu rộng đến tận các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, từ các cơ quan xí nghiệp đến các trường học và những nơi cộng cộng, các chủ đề mọc lên như nấm, có mạng lưới thư ký ghi đề đông đảo phục vụ đến từng đối tượng... Hậu quả do nạn số đề để lại là đã làm nhiều gia đình tan gia bại sản, hạnh phúc gia đình tan vỡ.

Về hình thức cờ bạc xóc đĩa hoạt động theo kiểu sòng bạc, rải rác ở khắp các tỉnh thành trong cả nước. Có rất nhiều ổ nhóm cờ bạc lớn hoạt động mang tính chất sòng bạc, số đối tượng tham gia gồm đủ các thành phần xã hội, băng nhóm lưu manh, ổ nhóm buôn lậu, chủ đề, chủ kinh doanh, chủ thầu công trình, chủ doanh nghiệp. Chúng sát phạt lẫn nhau với số tiền lớn lên đến hàng trăm triệu đồng. Các tổ chức dạng này hoạt động chặt chẽ, có mạng lưới bảo vệ từ xa, thông tin kịp thời, liên lạc bằng bộ đàm, điện thoại di động. Phương thức hoạt động của bọn cờ bạc loại này là thường thay đổi địa điểm hoạt động, những nơi được chúng chọn thường là nơi “khó vào nhưng dễ thoát”. Có thể nói đây là một hình thức cờ bạc hoạt động rất tinh vi, xảo quyệt và có tính tổ chức, kỷ luật cao.

Nạn cá cược trong thể thao (bóng đá). Đây là loại hình cờ bạc tuy mới xuất hiện ở nước ta, song phát triển khá mạnh và có chiều hướng gia tăng trong vài năm gần đây. Loại hình cờ bạc này thường được tổ chức hoạt động tại các nhà hàng cà phê, vũ trường, quán Karaoke, quán giải khát nấp dưới các hình thức quảng cáo như “Câu lạc bộ bóng đá”, “Cafe phục vụ bóng đá”. Tổ chức cờ bạc loại này thường cá độ cho các đội bóng đá quốc tế, tiền cá cược từ một triệu đến hàng chục triệu đồng. Chúng cá cược dưới nhiều hình thức như tỷ số bàn thắng, bàn thua, thẻ vàng, đá phạt, phạt góc, ném biên. Đối tượng tham gia cũng gồm đủ các thành phần xã hội từ đối tượng buôn lậu, chủ thầu đến chủ doanh nghiệp, Việt kiều…

Ngoài ra, các hoạt động cờ bạc mang tính phổ thông như chắn cạ, tổ tôm, đỏ đen, ba cây, đầu đít, tam cúc, tú lơ khơ, chọi gà, tá lả, binh sập xám, tú sắc, tài xỉu, xì tố, xì lắc… hoạt động có tính công khai ở hầu khắp các cơ quan, xí nghiệp, trường học. Có những địa phương việc chơi chắn cạ, tổ tôm và một số loại hình cờ bạc khác còn diễn ra ngay trong ngày lễ hội, ma chay, cưới hỏi gây mất trật tự an toàn xã hội, an ninh nông thôn.

2. Một số nguyên nhân của tệ nạn cờ bạc ở nước ta

Thứ nhất, kinh tế thị trường phát triển kéo theo cả sự bất bình đẳng, sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Tình trạng thất nghiệp ngày càng tăng, nghèo đói, không công ăn việc làm, con người dễ bị sa đà vào các tệ nạn xã hội như: Ma túy, mại dâm, cờ bạc.

Thứ hai, các quy định của pháp luật hiện hành vẫn chưa phân định rõ ràng ranh giới giữa vi phạm hành chính và vi phạm hình sự gây khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc áp dụng pháp luật. Chính sự bất cập này đã dẫn đến tình trạng đôi khi còn tùy tiện trong xử lý, việc áp dụng pháp luật thiếu thống nhất, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát sinh các hiện tượng tiêu cực, làm hạn chế tính răn đe và tác dụng phòng ngừa, nảy sinh tâm lý coi thường pháp luật. Bên cạnh đó, các chế tài hành chính và hình sự đối với hành vi cờ bạc còn quá nhẹ, chưa tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm của tội phạm.

Thứ ba, các chính sách lao động, việc làm hiện nay ở nước ta còn chưa được quan tâm đúng mức. Việc mất cân đối giữa sức lao động và nhu cầu sử dụng lao động, giữa lao động ở nông thôn và thành thị, việc chưa coi trọng đúng mức các ngành nghề truyền thống cũng như việc không tận dụng hết thời gian và cường độ lao động, dẫn đến một thực tế là trong số các đối tượng cờ bạc thì phần đông là những người thất nghiệp, nhàn rỗi, sử dụng cờ bạc như là một phương tiện để kiếm sống.

Thứ tư, công tác phối hợp của các cơ quan chức năng trong đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội còn thiếu đồng bộ, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng tham gia. Đội ngũ cán bộ của các cơ quan chuyên trách đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội nói chung còn thiếu về số lượng và yếu về trình độ, năng lực chuyên môn.

Thứ năm, xuất phát từ nguyên nhân chủ quan, tệ nạn cờ bạc phát sinh trong xã hội và có tính lịch sử, tồn tại từ lâu đời. Vì vậy, tâm lý coi cờ bạc không phải là một hành vi xấu đến mức con người phải xa lánh. Sự xuất hiện của cờ bạc luôn gắn liền với ý muốn hưởng thụ, nhu cầu giải trí của con người. Khi những ý muốn hưởng thụ này không đúng chuẩn mực, không phù hợp với điều kiện thực tế, con người dễ bị sa đà vào tệ nạn xã hội. Họ cho rằng, có chơi một chút, mất một ít tiền thì coi như không mất gì cả. Đầu tiên là trò giải trí, để trò giải trí này hay hơn, hấp dẫn hơn, họ dùng tiền - vật chất để tính toán với nhau. Lúc đầu còn ít, sau càng đánh càng mất, càng mất càng cay cú, càng cay cú càng ham gỡ. Dần dần sự ham chơi giải trí đã biến thành nỗi đam mê, các con bạc sát phạt lẫn nhau một cách không tương tiếc.

3. Quy định pháp luật về nghiêm cấm tệ nạn cờ bạc ở Việt Nam

Nhận thấy những tác hại khôn lường do ảnh hưởng của tệ nạn xã hội nói chung, tệ nạn cờ bạc nói riêng, ngay sau khi giành được chính quyền, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm ngăn chặn sự phát triển của tệ nạn cờ bạc. Trong đó, phải kể đến các văn bản như: Sắc lệnh số 168/SL về việc ấn định cách trừng trị tội đánh bạc do Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà ban hành ngày 14/04/1948; Sắc lệnh trích lục Sắc lệnh số 71 ngày 22/5/1946 ấn định quy tắc quân đội (Sắc lệnh trích lục Sắc lệnh số 71); Thông tư số 301/VHH-HS ngày 14/1/1957 về việc bài trừ nạn cờ bạc (Thông tư số 301/VHH-HS); Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999…

Sắc lệnh trích lục Sắc lệnh số 71 quy định việc đánh bạc trong quân nhân vừa bị coi là thường tội, vừa bị coi là trọng tội và bị xử lý nghiêm khắc. Sắc lệnh số 168/SL ngày 14/04/1948 quy định: “Tất cả các trò chơi cờ bạc, dù là có tính cách may rủi hay là có thể dùng trí khôn để tính nước mà được thua bằng tiền, đều coi là tội đánh bạc và bị phạt tù từ 2 năm đến 5 năm, đồng thời phạt bạc từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng”. Sắc lệnh quy định: “cấm bày bán, tàng trữ, lưu hành các khí cụ chuyên dùng để đánh bạc. Nếu vi phạm bị phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm, phạt bạc từ 1.000 đồng đến 10.000 đồng”.

Thông tư số 301/VHH-HS đã đặt ra kế hoạch vận động, tuyên truyền giáo dục nhân dân bài trừ nạn cờ bạc. Theo đó, đối với “những trò chơi cờ bạc được thua bằng tiền có tính chất sát phạt thì truy tố trước Tòa án”. Nhưng chỉ truy tố đối với bọn tổ chức, bọn chứa gà, bọn sóc cái, bọn hồ ly, bọn canh gác chuyên sống về nghề cờ bạc và c on bạc chuyên nghiệp đã được cảnh cáo rồi mà vẫn tiếp tục chơi, coi thường pháp luật.

Ngày 28/6/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 53/CP quy định các biện pháp xử lý đối với cán bộ, viên chức nhà nước và những người có hành vi liên quan đến mại dâm, ma túy, cờ bạc và say rượu bê tha. Điều 6 của Nghị định số 53/CP quy định: “Cán bộ, viên chức nhà nước đánh bạc mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị phạt tiền từ 20.000 đồng đến 200.000 đồng, đồng thời thông báo về cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc để xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo, hạ bậc lương hoặc cách chức, trường hợp tái phạm thì phạt từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng và thông báo về cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc để xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc”. Điều 8 của Nghị định số 53/CP quy định cụ thể trách nhiệm: “Thủ trưởng trực tiếp của những người có hành vi vi phạm này mà bao che hoặc không kịp thời xử lý kỷ luật người vi phạm thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo, cách chức, hoặc buộc thôi việc”. Nghị định này cũng quy định chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với các Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và những người có nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh phòng, chống các hành vi này mà dung túng, bao che hoặc xử lý không kịp thời, để hành vi này xảy ra trên địa bàn mình quản lý. Các biện pháp xử lý là cảnh cáo, cách chức hoặc buộc thôi việc (khoản 2 Điều 8). Riêng đối với giám đốc khách sạn, chủ khách sạn, nhà hàng, vũ trường, nhà nghỉ hoặc cơ sở khác đánh bạc thì xử lý hình sự; nếu do thiếu trách nhiệm để hành vi đánh bạc xảy ra trong cơ sở mình quản lý, thì phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 10 triệu đồng và bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo, cách chức hoặc buộc thôi việc (nếu là cơ sở quốc doanh).

Bên cạnh các chế tài hành chính, Bộ luật Hình sự năm 1985 còn quy định tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc tại Điều 200, theo đó: “những người đánh bạc dưới hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật sẽ bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm, người tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”.

Bộ luật Hình sự năm 1999 đã sửa đổi, bổ sung và tách Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 1985 thành hai tội danh độc lập, cụ thể: Điều 248 quy định: “Những người đánh bạc dưới bất kì hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về một trong các tội này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm”; và Điều 249 quy định: “Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc hành vi đánh bạc, hoặc đã bị kết án về một trong các tội này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 300 triệu đồng hoặc bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm”.

Mặc dù, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định về tội đánh bạc tại Điều 248 của Bộ luật Hình sự mới được sửa đổi, nhưng từ thực tiễn xét xử còn có nhiều hạn chế do quy định chưa rõ ràng, gây khó khăn khi xử lý các hành vi đánh bạc như: Còn vướng mắc khi xác định tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc; quy định về cộng dồn tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc; xử lý đối với trường hợp vi phạm nhiều lần; xử lý đối với vi phạm của người ghi số đề chưa phù hợp, đúng tội; xử lý đối với đồng phạm trong tội đánh bạc chưa thích đáng; thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 23) còn bất cập.

Khắc phục những vướng mắc này, Bộ Luật Hình sự năm 2015 đã phần nào giải quyết được những vấn đề trên. Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội đánh bạc quy định mức tiền khởi điểm để truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh này là 5.000.000 đồng. Theo quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015, và thực tế hiện nay ở nước ta, Viện kiểm sát các cấp đã tiến hành rà soát các trường hợp đánh bạc, nhưng số tiền thu được có giá trị dưới 5.000.000 đồng mà không có tiền án, tiền sự về tội danh này hoặc có, nhưng đã được xóa án tích thì chuyển sang hình thức xử phạt hành chính, miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 1999 và tinh thần điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109 của Quốc hội (trước ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành) hoặc theo điểm a khoản 1 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sau khi có hiệu lực). Ngoài các dấu hiệu trong cấu thành cơ bản trên đây, các tình tiết có tính chất chuyên nghiệp; tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị lớn hoặc đặc biệt lớn, tái phạm nguy hiểm được coi là những tình tiết định khung tăng nặng đối với các tội này.

4. Các biện pháp phòng, chống tệ nạn cờ bạc ở nước ta hiện nay

Một là, đổi mới nhận thức: Các ngành, các cấp cần chú trọng xây dựng lực lượng chính quyền cấp cơ sở vững mạnh về mọi mặt, phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc để phát hiện, đấu tranh xóa bỏ các tụ điểm hoạt động cờ bạc, quản lý giáo dục các đối tượng cờ bạc. Luôn luôn đổi mới nhận thức để có thể đánh giá một cách khách quan, toàn diện, từ đó đề ra chính sách phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống loại hình tệ nạn này là một yêu cầu tất yếu. Mặt khác, Nhà nước cần ban hành các chính sách nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, đặc biệt trong tầng lớp thanh niên, cần tổ chức các hình thức sinh hoạt văn hóa, thể thao phù hợp để thu hút họ trong thời gian nhàn rỗi, đáp ứng nhu cầu giải trí của tuổi trẻ.

Hai là, đổi mới chính sách lao động, việc làm: Cần có chính sách lao động và việc làm hợp lý, tạo công ăn việc làm cho người thất nghiệp. Đồng thời, quản lý chặt chẽ giờ giấc làm việc, tận dụng hết khả năng của cán bộ, viên chức nhà nước là một trong những biện pháp đấu tranh phòng, chống tệ nạn này rất có hiệu quả.

Ba là, đổi mới chính sách văn hóa giáo dục: Giáo dục truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, giáo dục trong nhà trường về tệ nạn cờ bạc. Nêu rõ những tác hại của tệ nạn đánh bạc như: Gây mất ổn định về an ninh, trật tự xã hội, tan gia bại sản, phá hoại hạnh phúc gia đình của tệ nạn đánh bạc được xem là biện pháp có hiệu quả phòng ngừa cao. Cuộc đấu tranh chống lại tệ nạn xã hội, trong đó có tệ nạn cờ bạc đòi hỏi phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và toàn diện.

Bốn là, về quản lý các lĩnh vực dịch vụ, kinh doanh: Tăng cường hơn nữa các biện pháp nghiệp vụ như công tác rà soát, kiểm tra, xác lập ổ nhóm hoạt động cờ bạc, xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật của Ngành Công an. Cần sớm có cơ chế quản lý chặt chẽ các vũ trường, nhà hàng karaoke, quán cà phê… nhằm hạn chế các chủ chứa cờ bạc.

Năm là, các biện pháp pháp lý: Luôn được đánh giá là một trong số các biện pháp có hiệu quả nhất trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Nó không những có tác dụng trừng trị, răn đe mà còn có tác dụng giáo dục đối với toàn xã hội. Vì thế, Nhà nước phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về tội phạm đánh bạc để các cơ quan có thẩm quyền, cá nhân, tổ chức có đủ cơ sở pháp lý, góp phần ngăn chặn, phòng ngừa tệ nạn này.

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có những thay đổi tích cực, nhưng theo chúng tôi còn chưa triệt để ở một số điểm như: Định lượng số tiền dùng để đánh bạc (trên 50 triệu đồng là khó xử lý); về tình tiết định khung có tính chất chuyên nghiệp (khó khăn trong chứng minh được tình tiết này của người phạm tội, vì các con bạc đã hủy hết chứng cứ, không thể chứng minh được số lần, số người, số tiền). Vì vậy, trong thời gian tới hy vọng các nhà làm luật sẽ làm rõ hơn các vấn đề này tại các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015.

Trần Thị Thu Hà

Ban Tuyên truyền và thông tin, Liên minh HTX Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: