Thứ sáu 16/01/2026 23:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tội ra bản án trái pháp luật - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Tội ra bản án trái pháp luật năm trong các tội xâm phạm hoạt động tư pháp cho nên khách thể của tội phạm này là hoạt động đúng đắn của cơ quan, Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp. Tội ra bản án trái pháp luật xâm phạm trực tiếp đến hoạt động xét xử của Tòa án. Tức là xâm phạm đến uy tín của Tòa án trong hoạt động bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải.

1. Các dấu hiệu pháp lý của tội ra bản án trái pháp luật theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015

Tội ra bản án trái pháp luật được quy định tại Điều 370 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo đó, tội ra bản án trái pháp luật bao gồm các dấu hiệu pháp lý sau đây:

1.1. Các dấu hiệu định tội

Thứ nhất, về dấu hiệu thuộc khách thể của tội phạm

Tội ra bản án trái pháp luật năm trong các tội xâm phạm hoạt động tư pháp cho nên khách thể của tội phạm này là hoạt động đúng đắn của cơ quan, Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp. Tội ra bản án trái pháp luật xâm phạm trực tiếp đến hoạt động xét xử của Tòa án. Tức là xâm phạm đến uy tín của Tòa án trong hoạt động bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải. Từ đó, gây ra sự sụt giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân vào cơ quan bảo vệ pháp luật. Đồng thời, tội ra bản án trái pháp luật còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng; quyền lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân.

Bản án là một văn bản tố tụng do Hội đồng xét xử ban hành, bao gồm bản án hình sự, bản án dân sự, bản án hôn nhân gia đình, bản án kinh doanh thương mại, bản án hành chính và bản án lao động. Đối với bản án hình sự, đây là văn bản ghi nhận phán quyết của Tòa án về việc xác định một người là có tội hoặc không có tội. Trong khi đó đối với vụ án hành chính và dân sự, bản án thể hiện việc chấp nhận hay không chấp nhận, cho hưởng hoặc không cho hưởng một quyền nào đó của đương sự, buộc đương sự thực hiện các nghĩa vụ nếu các đương sự không thỏa thuận được toàn bộ vấn đề của vụ án.

Thứ hai, về dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này được quy định là chủ thể đặc biệt. Theo đó, chủ thể của tội này là thẩm phán hoặc hội thẩm nhân dân. Theo nguyên tắc, hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán. Do đó, mỗi thành viên trong Hội đồng xét xử đều có trách nhiệm hình sự khi cố ý ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật. Nhưng qua thực tiễn, cần xem xét sự việc cụ thể và thái độ của từng thành viên trong Hội đồng xét xử khi biểu quyết để xác định trách nhiệm cụ thể của từng người (như đối với một bản án hoặc quyết định được cố ý ra trái pháp luật được biểu quyết theo đa số, một thành viên của Hội đồng xét xử đã biểu quyết ngược lại, thì không thể bị xử lý về tội này).

Theo nguyên tắc “khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” Hội đồng xét xử trong mọi trường hợp đều phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc xét xử vụ án. Khi cần thiết hoặc khi Tòa án cấp dưới hỏi, Tòa án cấp trên có thể cho những ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn về việc áp dụng pháp luật, nhưng không đề ra mức xử lý cụ thể và không có tính chất ra mệnh lệnh. Do đó, nếu các thành viên của Hội đồng xét xử, theo sự hướng dẫn của cấp trên, ra bản án hoặc quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luật vẫn bị xử lý theo Điều 370 Bộ luật Hình sự. Cấp trên hướng dẫn Hội đồng xét xử ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật có thể bị xử lý hành chính; nếu cho ý kiến có tính chất cố ý ép buộc Hội đồng xét xử ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật thì cũng bị xử lý về tội ra bản án hoặc trái pháp luật[1].

Thứ ba, về các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội này là hành vi ra bản án trái pháp luật về hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình và lao động trong các giai đoạn tố tụng về sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, thi hành án.

Hành vi ra bản án trái pháp luật ở đây được hiểu là hành vi của thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết đồng ý với quyết định của bản án và tuyên bản án trái pháp luật. Theo đó, có thể có trường hợp tất cả các thành viên Hội đồng xét xử đều có hành vi ra bản án trái pháp luật và cũng có có thể chỉ có một số thành viên hội đồng xét xử có hành vi này vì thành viên khác không biểu quyết đồng ý với quyết định của bản án[2].

Bản án được ví như là sản phẩm cuối cùng của quá trình điều tra, truy tố, xét xử nhưng đó là kết quả trực tiếp của hoạt động xét xử của Hội đồng xét xử. Do đó, trách nhiệm trực tiếp đối với bản án là của các thành viên của Hội đồng xét xử. Vì là kết quả của quá trình tố tụng nên bản án phải là một văn bản có giá trị thi hành, nếu mới viết ra (soạn thảo) mà chưa tuyên đọc hoặc chưa ban hành thì chưa coi là đã “ra bản án”, mà đó chỉ là dự thảo bản án[3].

Tội ra bản án trái pháp luật là tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức, cho nên hậu quả của tội phạm không có ý nghĩa trong việc định tội mà chỉ là căn cứ để định khung hình phạt, đồng thời làm căn cứ để xác định tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, qua đó quyết định hình phạt. Tội ra bản án trái pháp luật được coi là hoàn thành nếu người phạm tội có hành vi tuyên án. Trường hợp thẩm phán đã tuyên đọc bản án trái pháp luật nhưng sau khi tuyên án, vì sợ bị trách nhiệm nên đã sửa chữa bản án (bản án được phát hành) theo hướng không trái pháp luật thì người thẩm phán đó vẫn phạm tội ra bản án trái pháp luật, bởi lẽ bản án tuy chưa ban hành nhưng đã công bố (tuyên án) là đã hoàn thành hành vi ra bản án trái pháp luật.

Thứ tư, về dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm

Lỗi của người phạm tội ra bản án trái pháp luật là lỗi cố ý trực tiếp. Điều 370 Bộ luật Hình sự quy định “biết rõ là trái pháp luật”, tức là người phạm tội biết rõ bản án mà mình ban hành là trái pháp luật thì mới phạm tội. Còn trong trường hợp bản án được tuyên trái pháp luật vì lý do khách quan hoặc do trình độ chuyên môn nghiệp vụ hạn chế mà không biết rõ bản án là trái luật thì không coi là phạm tội ra bản án trái pháp luật. Khi thực hiện hành vi ra bản án trái pháp luật, người phạm tội có thể có động cơ, mục đích khác nhau. Tuy nhiên, động cơ, mục đích phạm tội không có ý nghĩa trong việc định tội mà chỉ có ý nghĩa trong việc lượng hình.

1.2. Các dấu hiệu định khung hình phạt

Trước đây, theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, tội ra bản án trái pháp luật chỉ bao gồm ba tình tiết định khung hình phạt tăng nặng “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”. Đây là những tình tiết định khung hình phạt xác định dựa trên hậu quả của tội phạm, tuy nhiên, chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về “hậu quả nghiêm trọng”, “rất nghiêm trọng”, “đặc biệt nghiêm trọng” đối với tội ra bản án trái pháp luật dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất.

Khắc phục nhược điểm trên, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã cụ thể hóa các tình tiết định khung trên thành các tình tiết cụ thể: “Kết án oan người vô tội về tội phạm nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng”, “bỏ lọt tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng”; “gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện từ 11% đến 45%”; “gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng”; “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”; “kết án oan người vô tội về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”; “bỏ lọt tội phạm nghiêm trọng hoặc hoặc người phạm tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”; “gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện 46% trở lên”, “dẫn đến bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện tự sát”; “gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên”. Các tình tiết này đều được xác định là hậu quả của hành vi ra bản án trái pháp luật gây ra nên khi áp dụng các tình tiết này cần phải chứng minh giữa hành vi ra bản án trái pháp luật và các hậu quả này phải có mối quan hệ nhân quả với nhau.

Bên cạnh việc cụ thể hóa các tình tiết định khung mang tính chất định tính, để đảm bảo phân hóa trách nhiệm hình sự và cơ sở để quyết định hình phạt, Điều 370 Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng quy định thêm tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội từ 02 lần trở lên” “đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu”. Đây là các tình tiết tăng nặng được xác định dựa trên số lần phạm tội hoặc các đối tượng đặc biệt cần ưu tiên đặc biệt.

2. Một số vấn đề về tội ra bản án trái pháp luật theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015

Mặc dù quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã khắc phục được phần lớn những bất cập, hạn chế trong quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, những quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng sẽ có những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội phạm này. Qua nghiên cứu về quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tác giả nhận thấy bất cập, vướng mắc tập trung vào một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, về vấn đề xác định giai đoạn thực hiện tội phạm đối với tội ra bản án trái pháp luật

Về mặt lý luận, tội phạm hoàn thành khi hành vi phạm tội thỏa mãn tất cả các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm. Đối với cấu thành tội phạm vật chất, tội phạm được xác định là hoàn thành khi hậu quả của tội phạm đã xảy ra. Đối với tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức, tội phạm hoàn thành khi hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm đã được thực hiện. Tội ra bản án trái pháp luật hình sự là tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức. Do vậy, việc xác định hành vi ra bản án trái pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thời điểm tội phạm hoàn thành, phạm tội chưa đạt và chuẩn bị phạm tội.

Hành vi khách quan của tội phạm theo quy định của điều luật là hành vi “ra bản án trái pháp luật”. Ra bản án là một trong hoạt động tố tụng, do vậy việc ra bản án phải tuân thủ các trình tự thủ tục quy định trong luật tố tụng. Theo đó, về thủ tục ra bản án, bản án sẽ được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phiên tòa. Trước khi tiến hành ra bản án, Tòa án sẽ nghị án và biểu quyết từng nội dung của vụ án, các nội dung biểu quyết phải được ghi nhận trong biên bản nghị án. Sau khi kết thúc nghị án, bản án sẽ được ban hành và tuyên án ngay tại phiên tòa. Vậy nếu như hành vi phạm tội chỉ dừng ở việc nghị án, chưa ban hành bản án và chưa tuyên án thì hành vi phạm tội được xác định ở giai đoạn nào?

Có ý kiến cho rằng, hành vi nghị án không phải là hành vi ra bản án trái pháp luật và người phạm tội trong trường hợp này không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra bản án trái pháp luật mà tùy trường hợp, Hội đồng xét xử có thể bị xử lý về tội ra quyết định trái pháp luật[4].

Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng hành ra bản án trái pháp luật không chỉ là ra bản án mà còn là việc thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết đồng ý với quyết định của bản án (sẽ tuyên)[5]. Như vậy thì với quan điểm này, hành vi nghị án cũng được hiểu là ra bản án trái pháp luật và mặc dù chưa có bản án, chưa tuyên án thì người phạm tội cũng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra bản án trái pháp luật.

Theo quan điểm của tác giả, hành vi nghị án không phải là hành vi ra bản án trái pháp luật nhưng đây là hành vi có mối quan hệ mật thiết với hành vi ra bản án trái pháp luật, ngay sau khi nghị án Hội đồng xét xử phải ra bản án và tuyên án. Do vậy, hành vi này được xác định là hành vi liền trước hành vi ra bản án trái pháp luật. Người phạm tội nếu chỉ dừng lại ở hành vi nghị án thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra bản án trái pháp luật ở giai đoạn phạm tội chưa đạt.

Thứ hai, về việc xác định bản án trái pháp luật

Đối với tội ra bản án trái pháp luật thì tính chất trái pháp luật của bản án được ban hành là dấu hiệu quan trọng để định tội. Theo Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì tính chất trái pháp luật được thể hiện ở nội dung bản án (như kết án người rõ ràng không có tội; tuyên không có tội đối với người rõ ràng có tội, truất quyền thừa kế, quyền sở hữu của công dân không có căn cứ hợp pháp…). Như vậy, theo Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ thì một bản án được coi là trái pháp luật khi nội dung của bản án trái với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nếu một bản được ban hành không đúng về trình tự, thủ tục; có sai phạm nghiêm trọng trong thủ tục khi xét xử, ra bản án thì bản án đó có được coi là trái pháp luật hay không. Ví dụ như trường hợp thẩm phán, hội thẩm biết rõ mình thuộc trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thẩm phán hội thẩm theo quy định tại Điều 53 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhưng vẫn tham gia xét xử và ra bản án. Bản án trong trường hợp này có thể không sai về mặt nội dung nhưng có căn cứ để tiến hành giám đốc thẩm, hủy bản án để xét xử lại. Bản án trong trường hợp này được coi là trái pháp luật, nhưng nó có được coi là đối tượng tác động của tội ra bản án trái pháp luật hay không, cần có văn bản hướng dẫn để thống nhất xử lý trong trường hợp này.

Thứ ba, về dấu hiệu “biết rõ là trái pháp luật” trong cấu thành tội phạm ra bản án trái pháp luật

Một trong những dấu hiệu định tội của tội này là “biết rõ là trái pháp luật”, tức là người phạm tội phải nhận thức rõ được việc ra bản án là trái pháp luật thì mới cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, việc quy định dấu hiệu này dẫn đến khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc chứng minh người đã ra bản án trái pháp luật có phạm tội hay không. Thông thường, người phạm tội thường cho là do chủ quan nóng vội, do chưa hiểu biết đầy đủ các quy định của pháp luật, chứ ít ai cho rằng mình biết rõ pháp luật. Hơn nữa người phạm tội là thẩm phán, hội thẩm, là những người có hiểu biết pháp luật nên trước và sau khi ra bản án trái pháp luật đã có nhiều thủ đoạn hoặc hành vi gian đối để hợp thức hóa việc ra bản án trái pháp luật của mình. Vì vậy mà khi cơ quan tiến hành tố tụng điều tra vào cuộc thì các tài liệu chứng cứ có thể đã không còn hoặc không thể xác định được. Thông thường chỉ trong trường hợp bản án rõ ràng là trái pháp luật như không xét xử mà ra bản án, biên bản nghị án ghi áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhưng bản án lại phạt tù nhưng cho hưởng án treo... hoặc trước khi ra bản án xác định thẩm phán hoặc hội thẩm có hành vi nhận hối lộ để ra bản án trái pháp luật thì mới có thể xử lý hình sự những trường hợp này. Do vậy, có ý kiến cho rằng cần sửa đổi dấu hiệu “biết rõ là trái pháp luật” thành “cố ý ra bản án trái pháp luật”[6].

Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, việc quy định dấu hiệu “biết rõ là trái pháp luật” ở tội ra bản án trái pháp luật là cần thiết, bởi vì đấy là ranh giới phân biệt giữa hành vi ra bản án trái pháp luật là tội phạm và không phải là tội phạm. Việc ra bản án trái pháp luật có thể do khách quan, cũng có thể do những nguyên nhân về chủ quan. Về chủ quan, có thể do bản thân thẩm phán, hội thẩm năng lực còn hạn chế, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ nên ra bản án trái pháp luật, nhưng cũng sẽ có những trường hợp cố tình ra bản án trái pháp luật. Cho nên, chỉ khi người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là ra bản án trái pháp luật thì khi đó hành vi ra bản án trái pháp luật mới thể hiện đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.

Thứ tư, về tình tiết định khung “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội”

Một trong những định hướng sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2015 đó là hạn chế quy định các tình tiết mang tính chất định tính trong quy định của Bộ luật Hình sự. Do vậy, các tình tiết mang tính chất định tính như “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả nghiêm trọng” của tội ra bản án trái pháp luật đã được cụ thể hóa bằng các tình tiết định khung cụ thể. Tuy nhiên, trong Điều 370 Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định tình tiết định khung mới “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội”. Đây cũng là một tình tiết mang tính chất định tính và hiện nay cũng chưa có văn bản hướng dẫn như thế nào là ra bản án trái pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, có thể có cách hiểu và vận dụng không thống nhất về tình tiết này, dẫn đến áp dụng pháp luật không chính xác và bỏ lọt tội phạm. Do vậy, cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn tình tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội” trong Bộ luật Hình sự năm 2015 nói chung và trong quy định của tội ra bản án trái pháp luật nói riêng./.

ThS. Nguyễn Thành Long
Khoa Pháp luật hình sự, Đại học Luật Hà Nội




[1] Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự.

[2] Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm, quyển 2, Nxb. Công an nhân dân, tr.296.

[3] Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phần các tội phạm, quyển 10 - Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.

[4] Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phần các tội phạm, quyển 10 - Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.

[5] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm, quyển 2, Nxb. Công an nhân dân, tr. 296.

[6] Bùi Đức Bằng (2013), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội ra bản án trái pháp luật trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.79.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: