Thứ năm 12/03/2026 13:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tội ra bản án trái pháp luật - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Tội ra bản án trái pháp luật năm trong các tội xâm phạm hoạt động tư pháp cho nên khách thể của tội phạm này là hoạt động đúng đắn của cơ quan, Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp. Tội ra bản án trái pháp luật xâm phạm trực tiếp đến hoạt động xét xử của Tòa án. Tức là xâm phạm đến uy tín của Tòa án trong hoạt động bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải.

1. Các dấu hiệu pháp lý của tội ra bản án trái pháp luật theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015

Tội ra bản án trái pháp luật được quy định tại Điều 370 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo đó, tội ra bản án trái pháp luật bao gồm các dấu hiệu pháp lý sau đây:

1.1. Các dấu hiệu định tội

Thứ nhất, về dấu hiệu thuộc khách thể của tội phạm

Tội ra bản án trái pháp luật năm trong các tội xâm phạm hoạt động tư pháp cho nên khách thể của tội phạm này là hoạt động đúng đắn của cơ quan, Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp. Tội ra bản án trái pháp luật xâm phạm trực tiếp đến hoạt động xét xử của Tòa án. Tức là xâm phạm đến uy tín của Tòa án trong hoạt động bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải. Từ đó, gây ra sự sụt giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân vào cơ quan bảo vệ pháp luật. Đồng thời, tội ra bản án trái pháp luật còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng; quyền lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân.

Bản án là một văn bản tố tụng do Hội đồng xét xử ban hành, bao gồm bản án hình sự, bản án dân sự, bản án hôn nhân gia đình, bản án kinh doanh thương mại, bản án hành chính và bản án lao động. Đối với bản án hình sự, đây là văn bản ghi nhận phán quyết của Tòa án về việc xác định một người là có tội hoặc không có tội. Trong khi đó đối với vụ án hành chính và dân sự, bản án thể hiện việc chấp nhận hay không chấp nhận, cho hưởng hoặc không cho hưởng một quyền nào đó của đương sự, buộc đương sự thực hiện các nghĩa vụ nếu các đương sự không thỏa thuận được toàn bộ vấn đề của vụ án.

Thứ hai, về dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này được quy định là chủ thể đặc biệt. Theo đó, chủ thể của tội này là thẩm phán hoặc hội thẩm nhân dân. Theo nguyên tắc, hội thẩm nhân dân ngang quyền với thẩm phán. Do đó, mỗi thành viên trong Hội đồng xét xử đều có trách nhiệm hình sự khi cố ý ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật. Nhưng qua thực tiễn, cần xem xét sự việc cụ thể và thái độ của từng thành viên trong Hội đồng xét xử khi biểu quyết để xác định trách nhiệm cụ thể của từng người (như đối với một bản án hoặc quyết định được cố ý ra trái pháp luật được biểu quyết theo đa số, một thành viên của Hội đồng xét xử đã biểu quyết ngược lại, thì không thể bị xử lý về tội này).

Theo nguyên tắc “khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” Hội đồng xét xử trong mọi trường hợp đều phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc xét xử vụ án. Khi cần thiết hoặc khi Tòa án cấp dưới hỏi, Tòa án cấp trên có thể cho những ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn về việc áp dụng pháp luật, nhưng không đề ra mức xử lý cụ thể và không có tính chất ra mệnh lệnh. Do đó, nếu các thành viên của Hội đồng xét xử, theo sự hướng dẫn của cấp trên, ra bản án hoặc quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luật vẫn bị xử lý theo Điều 370 Bộ luật Hình sự. Cấp trên hướng dẫn Hội đồng xét xử ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật có thể bị xử lý hành chính; nếu cho ý kiến có tính chất cố ý ép buộc Hội đồng xét xử ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật thì cũng bị xử lý về tội ra bản án hoặc trái pháp luật[1].

Thứ ba, về các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội này là hành vi ra bản án trái pháp luật về hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình và lao động trong các giai đoạn tố tụng về sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, thi hành án.

Hành vi ra bản án trái pháp luật ở đây được hiểu là hành vi của thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết đồng ý với quyết định của bản án và tuyên bản án trái pháp luật. Theo đó, có thể có trường hợp tất cả các thành viên Hội đồng xét xử đều có hành vi ra bản án trái pháp luật và cũng có có thể chỉ có một số thành viên hội đồng xét xử có hành vi này vì thành viên khác không biểu quyết đồng ý với quyết định của bản án[2].

Bản án được ví như là sản phẩm cuối cùng của quá trình điều tra, truy tố, xét xử nhưng đó là kết quả trực tiếp của hoạt động xét xử của Hội đồng xét xử. Do đó, trách nhiệm trực tiếp đối với bản án là của các thành viên của Hội đồng xét xử. Vì là kết quả của quá trình tố tụng nên bản án phải là một văn bản có giá trị thi hành, nếu mới viết ra (soạn thảo) mà chưa tuyên đọc hoặc chưa ban hành thì chưa coi là đã “ra bản án”, mà đó chỉ là dự thảo bản án[3].

Tội ra bản án trái pháp luật là tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức, cho nên hậu quả của tội phạm không có ý nghĩa trong việc định tội mà chỉ là căn cứ để định khung hình phạt, đồng thời làm căn cứ để xác định tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, qua đó quyết định hình phạt. Tội ra bản án trái pháp luật được coi là hoàn thành nếu người phạm tội có hành vi tuyên án. Trường hợp thẩm phán đã tuyên đọc bản án trái pháp luật nhưng sau khi tuyên án, vì sợ bị trách nhiệm nên đã sửa chữa bản án (bản án được phát hành) theo hướng không trái pháp luật thì người thẩm phán đó vẫn phạm tội ra bản án trái pháp luật, bởi lẽ bản án tuy chưa ban hành nhưng đã công bố (tuyên án) là đã hoàn thành hành vi ra bản án trái pháp luật.

Thứ tư, về dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm

Lỗi của người phạm tội ra bản án trái pháp luật là lỗi cố ý trực tiếp. Điều 370 Bộ luật Hình sự quy định “biết rõ là trái pháp luật”, tức là người phạm tội biết rõ bản án mà mình ban hành là trái pháp luật thì mới phạm tội. Còn trong trường hợp bản án được tuyên trái pháp luật vì lý do khách quan hoặc do trình độ chuyên môn nghiệp vụ hạn chế mà không biết rõ bản án là trái luật thì không coi là phạm tội ra bản án trái pháp luật. Khi thực hiện hành vi ra bản án trái pháp luật, người phạm tội có thể có động cơ, mục đích khác nhau. Tuy nhiên, động cơ, mục đích phạm tội không có ý nghĩa trong việc định tội mà chỉ có ý nghĩa trong việc lượng hình.

1.2. Các dấu hiệu định khung hình phạt

Trước đây, theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, tội ra bản án trái pháp luật chỉ bao gồm ba tình tiết định khung hình phạt tăng nặng “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”. Đây là những tình tiết định khung hình phạt xác định dựa trên hậu quả của tội phạm, tuy nhiên, chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về “hậu quả nghiêm trọng”, “rất nghiêm trọng”, “đặc biệt nghiêm trọng” đối với tội ra bản án trái pháp luật dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất.

Khắc phục nhược điểm trên, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã cụ thể hóa các tình tiết định khung trên thành các tình tiết cụ thể: “Kết án oan người vô tội về tội phạm nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng”, “bỏ lọt tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng”; “gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện từ 11% đến 45%”; “gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng”; “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”; “kết án oan người vô tội về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”; “bỏ lọt tội phạm nghiêm trọng hoặc hoặc người phạm tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”; “gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện 46% trở lên”, “dẫn đến bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện tự sát”; “gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên”. Các tình tiết này đều được xác định là hậu quả của hành vi ra bản án trái pháp luật gây ra nên khi áp dụng các tình tiết này cần phải chứng minh giữa hành vi ra bản án trái pháp luật và các hậu quả này phải có mối quan hệ nhân quả với nhau.

Bên cạnh việc cụ thể hóa các tình tiết định khung mang tính chất định tính, để đảm bảo phân hóa trách nhiệm hình sự và cơ sở để quyết định hình phạt, Điều 370 Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng quy định thêm tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội từ 02 lần trở lên” “đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu”. Đây là các tình tiết tăng nặng được xác định dựa trên số lần phạm tội hoặc các đối tượng đặc biệt cần ưu tiên đặc biệt.

2. Một số vấn đề về tội ra bản án trái pháp luật theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015

Mặc dù quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã khắc phục được phần lớn những bất cập, hạn chế trong quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, những quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng sẽ có những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội phạm này. Qua nghiên cứu về quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tác giả nhận thấy bất cập, vướng mắc tập trung vào một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, về vấn đề xác định giai đoạn thực hiện tội phạm đối với tội ra bản án trái pháp luật

Về mặt lý luận, tội phạm hoàn thành khi hành vi phạm tội thỏa mãn tất cả các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm. Đối với cấu thành tội phạm vật chất, tội phạm được xác định là hoàn thành khi hậu quả của tội phạm đã xảy ra. Đối với tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức, tội phạm hoàn thành khi hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm đã được thực hiện. Tội ra bản án trái pháp luật hình sự là tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức. Do vậy, việc xác định hành vi ra bản án trái pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thời điểm tội phạm hoàn thành, phạm tội chưa đạt và chuẩn bị phạm tội.

Hành vi khách quan của tội phạm theo quy định của điều luật là hành vi “ra bản án trái pháp luật”. Ra bản án là một trong hoạt động tố tụng, do vậy việc ra bản án phải tuân thủ các trình tự thủ tục quy định trong luật tố tụng. Theo đó, về thủ tục ra bản án, bản án sẽ được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phiên tòa. Trước khi tiến hành ra bản án, Tòa án sẽ nghị án và biểu quyết từng nội dung của vụ án, các nội dung biểu quyết phải được ghi nhận trong biên bản nghị án. Sau khi kết thúc nghị án, bản án sẽ được ban hành và tuyên án ngay tại phiên tòa. Vậy nếu như hành vi phạm tội chỉ dừng ở việc nghị án, chưa ban hành bản án và chưa tuyên án thì hành vi phạm tội được xác định ở giai đoạn nào?

Có ý kiến cho rằng, hành vi nghị án không phải là hành vi ra bản án trái pháp luật và người phạm tội trong trường hợp này không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra bản án trái pháp luật mà tùy trường hợp, Hội đồng xét xử có thể bị xử lý về tội ra quyết định trái pháp luật[4].

Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng hành ra bản án trái pháp luật không chỉ là ra bản án mà còn là việc thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết đồng ý với quyết định của bản án (sẽ tuyên)[5]. Như vậy thì với quan điểm này, hành vi nghị án cũng được hiểu là ra bản án trái pháp luật và mặc dù chưa có bản án, chưa tuyên án thì người phạm tội cũng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra bản án trái pháp luật.

Theo quan điểm của tác giả, hành vi nghị án không phải là hành vi ra bản án trái pháp luật nhưng đây là hành vi có mối quan hệ mật thiết với hành vi ra bản án trái pháp luật, ngay sau khi nghị án Hội đồng xét xử phải ra bản án và tuyên án. Do vậy, hành vi này được xác định là hành vi liền trước hành vi ra bản án trái pháp luật. Người phạm tội nếu chỉ dừng lại ở hành vi nghị án thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra bản án trái pháp luật ở giai đoạn phạm tội chưa đạt.

Thứ hai, về việc xác định bản án trái pháp luật

Đối với tội ra bản án trái pháp luật thì tính chất trái pháp luật của bản án được ban hành là dấu hiệu quan trọng để định tội. Theo Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì tính chất trái pháp luật được thể hiện ở nội dung bản án (như kết án người rõ ràng không có tội; tuyên không có tội đối với người rõ ràng có tội, truất quyền thừa kế, quyền sở hữu của công dân không có căn cứ hợp pháp…). Như vậy, theo Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ thì một bản án được coi là trái pháp luật khi nội dung của bản án trái với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nếu một bản được ban hành không đúng về trình tự, thủ tục; có sai phạm nghiêm trọng trong thủ tục khi xét xử, ra bản án thì bản án đó có được coi là trái pháp luật hay không. Ví dụ như trường hợp thẩm phán, hội thẩm biết rõ mình thuộc trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thẩm phán hội thẩm theo quy định tại Điều 53 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhưng vẫn tham gia xét xử và ra bản án. Bản án trong trường hợp này có thể không sai về mặt nội dung nhưng có căn cứ để tiến hành giám đốc thẩm, hủy bản án để xét xử lại. Bản án trong trường hợp này được coi là trái pháp luật, nhưng nó có được coi là đối tượng tác động của tội ra bản án trái pháp luật hay không, cần có văn bản hướng dẫn để thống nhất xử lý trong trường hợp này.

Thứ ba, về dấu hiệu “biết rõ là trái pháp luật” trong cấu thành tội phạm ra bản án trái pháp luật

Một trong những dấu hiệu định tội của tội này là “biết rõ là trái pháp luật”, tức là người phạm tội phải nhận thức rõ được việc ra bản án là trái pháp luật thì mới cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, việc quy định dấu hiệu này dẫn đến khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc chứng minh người đã ra bản án trái pháp luật có phạm tội hay không. Thông thường, người phạm tội thường cho là do chủ quan nóng vội, do chưa hiểu biết đầy đủ các quy định của pháp luật, chứ ít ai cho rằng mình biết rõ pháp luật. Hơn nữa người phạm tội là thẩm phán, hội thẩm, là những người có hiểu biết pháp luật nên trước và sau khi ra bản án trái pháp luật đã có nhiều thủ đoạn hoặc hành vi gian đối để hợp thức hóa việc ra bản án trái pháp luật của mình. Vì vậy mà khi cơ quan tiến hành tố tụng điều tra vào cuộc thì các tài liệu chứng cứ có thể đã không còn hoặc không thể xác định được. Thông thường chỉ trong trường hợp bản án rõ ràng là trái pháp luật như không xét xử mà ra bản án, biên bản nghị án ghi áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhưng bản án lại phạt tù nhưng cho hưởng án treo... hoặc trước khi ra bản án xác định thẩm phán hoặc hội thẩm có hành vi nhận hối lộ để ra bản án trái pháp luật thì mới có thể xử lý hình sự những trường hợp này. Do vậy, có ý kiến cho rằng cần sửa đổi dấu hiệu “biết rõ là trái pháp luật” thành “cố ý ra bản án trái pháp luật”[6].

Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, việc quy định dấu hiệu “biết rõ là trái pháp luật” ở tội ra bản án trái pháp luật là cần thiết, bởi vì đấy là ranh giới phân biệt giữa hành vi ra bản án trái pháp luật là tội phạm và không phải là tội phạm. Việc ra bản án trái pháp luật có thể do khách quan, cũng có thể do những nguyên nhân về chủ quan. Về chủ quan, có thể do bản thân thẩm phán, hội thẩm năng lực còn hạn chế, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ nên ra bản án trái pháp luật, nhưng cũng sẽ có những trường hợp cố tình ra bản án trái pháp luật. Cho nên, chỉ khi người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là ra bản án trái pháp luật thì khi đó hành vi ra bản án trái pháp luật mới thể hiện đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.

Thứ tư, về tình tiết định khung “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội”

Một trong những định hướng sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2015 đó là hạn chế quy định các tình tiết mang tính chất định tính trong quy định của Bộ luật Hình sự. Do vậy, các tình tiết mang tính chất định tính như “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả nghiêm trọng” của tội ra bản án trái pháp luật đã được cụ thể hóa bằng các tình tiết định khung cụ thể. Tuy nhiên, trong Điều 370 Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định tình tiết định khung mới “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội”. Đây cũng là một tình tiết mang tính chất định tính và hiện nay cũng chưa có văn bản hướng dẫn như thế nào là ra bản án trái pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, có thể có cách hiểu và vận dụng không thống nhất về tình tiết này, dẫn đến áp dụng pháp luật không chính xác và bỏ lọt tội phạm. Do vậy, cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn tình tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội” trong Bộ luật Hình sự năm 2015 nói chung và trong quy định của tội ra bản án trái pháp luật nói riêng./.

ThS. Nguyễn Thành Long
Khoa Pháp luật hình sự, Đại học Luật Hà Nội




[1] Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự.

[2] Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm, quyển 2, Nxb. Công an nhân dân, tr.296.

[3] Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phần các tội phạm, quyển 10 - Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.

[4] Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phần các tội phạm, quyển 10 - Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.

[5] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm, quyển 2, Nxb. Công an nhân dân, tr. 296.

[6] Bùi Đức Bằng (2013), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội ra bản án trái pháp luật trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.79.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: