Chủ nhật 16/08/2026 04:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cộng đồng dân cư trong kiểm soát ô nhiễm môi trường ở làng nghề Việt Nam

Tóm tắt: Những năm qua, việc kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề chưa thực sự hiệu quả, quan hệ giữa các nhà quản lý môi trường với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tại các làng nghề nhiều khi mang tính tư lợi... Bài viết này đề cập nghiên cứu thực trạng pháp luật về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng dân cư trong kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề ở Việt Nam và yêu cầu nâng cao giáo dục nhận thức về bảo vệ môi trường ở các làng nghề.

Abstract:The control of environment pollution in trade villages has been not yet effective in recent years. The relationships between environment administrators and production, business, service establishments in trade villages often bear private interests. This article deals with the study of the legal situation of state agencies and communities in controlling environment pollution in tradevillages in Vietnam and theneed to improve education of awareness with respect to environment protection in trade villages.

1. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề theo pháp luật Việt Nam

Các cơ quan quản lý nhà nước trong kiểm soát ô nhiễm môi trường ở làng nghề có thể phân chia thành 02 nhóm: Nhóm thứ nhất, các cơ quan có thẩm quyền chung về kiểm soát ô nhiễm tại các làng nghề, bao gồm Chính phủ và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp; Nhóm thứ hai, các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn trong kiểm soát ô nhiễm ở làng nghề, gồm có Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường và cán bộ quản lý môi trường cấp xã, phường, thị trấn.

Theo Điều 2 Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04/3/2013 của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường, khắc phục sự cố môi trường và suy thoái môi trường, cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường nói chung và khu vực làng nghề nói riêng. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra và ra quyết định thanh tra hoạt động bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật (Điều 159 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014).

Ở các địa phương, Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với UBND cấp huyện thực hiện điều tra, đánh giá mức độ ô nhiễm ở làng nghề; xây dựng kế hoạch, giải pháp, xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề trên địa bàn tỉnh, trình UBND cấp tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện; phối hợp với các cơ quan liên quan của tỉnh xây dựng quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn gắn với các quy định về kiểm soát ô nhiễm; phối hợp với Sở Tài chính trong việc phân bổ và theo dõi, kiểm tra việc sử dụng kinh phí từ nguồn sự nghiệp môi trường cho các địa phương có làng nghề; phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương thực hiện hỗ trợ các giải pháp kỹ thuật xử lý chất thải, kỹ thuật áp dụng công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường; các giải pháp sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng; chủ trì hoặc phối hợp với Sở Y tế, Sở Công Thương, UBND cấp huyện, UBND cấp xã và các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, đại diện cộng đồng dân cư tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức về vệ sinh môi trường, kiểm soát ô nhiễm ở làng nghề; tổ chức thu phí môi trường đối với nước thải, khí thải và chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở trong làng nghề theo quy định; thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường chi tiết theo thẩm quyền đối với các cơ sở trong làng nghề; thực hiện quan trắc môi trường làng nghề; chủ trì hoặc phối hợp với UBND cấp huyện, UBND cấp xã tổ chức thanh tra, kiểm tra và hướng dẫn cơ sở thực hiện các quy định của pháp luật kiểm soát ô nhiễm ở làng nghề theo thẩm quyền.

Phòng Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn của UBND huyện tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện quản lý nhà nước về kiểm soát ô nhiễm tại các làng nghề, đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Tài nguyên và Môi trường. Cán bộ quản lý môi trường cấp xã, phường và thị trấn hiện nay thường là cán bộ địa chính kiêm nhiệm. Ngoài ra còn có các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ cũng có chức năng nhiệm vụ quyền hạn trong quá trình tham gia hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường theo phạm vi ngành, lĩnh vực thuộc quyền quản lý trực tiếp của mình. Các cơ quan này có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc thực hiện quản lý nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Xây dựng, lực lượng cảnh sát môi trường…

Về cơ bản, chức năng quản lý nhà nước về kiểm soát ô nhiễm ở làng nghề đã được pháp luật quy định tập trung vào một đầu mối thống nhất là Bộ Tài nguyên và Môi trường, tuy nhiên vẫn chưa thật sự triệt để và còn thể hiện một số hạn chế, bất cập sau đây:

Thứ nhất, hiện nay các quy định về trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường ở làng nghề vẫn còn sự chồng chéo và không rõ ràng giữa các bộ, ngành và các cấp chính quyền địa phương. Đơn cử như việc quản lý các cơ sở sản xuất là “doanh nghiệp công nghiệp” thì do ngành Công thương; quản lý các cơ sở (trong đó có cả doanh nghiệp) “hoạt động trong lĩnh vực chế biến nông, lâm, thủy sản, diêm nghiệp” thì do ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Các tổ chức, cá nhân “sản xuất nông nghiệp” thuộc trách nhiệm quản lý của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Như vậy là đã có sự chồng chéo về phân công trách nhiệm đối với “doanh nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản”. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc nhóm ngành nghề tái chế, dệt nhuộm… không được giao cho ngành nào quản lý; hơn nữa, quy định về phân công trách nhiệm thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm môi trường đối với đối tượng sản xuất trong làng nghề là chưa rõ. Trên cùng một địa bàn làng nghề, nếu là doanh nghiệp công nghiệp thì thuộc trách nhiệm của ngành Công thương; hộ thuần nông, hộ sản xuất cá thể trong lĩnh vực chế biến nông, lâm, thủy sản thuộc ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; cơ sở gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc ngành Tài nguyên và Môi trường. Như vậy, nhiều bộ, ngành được phân công như trên, nhưng trên thực tế, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tình hình thi hành pháp luật nói chung và pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường nói riêng tại các làng nghề là chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra1.

Thứ hai, việc phối kết hợp giữa các bộ, ngành trong quá trình thực thi các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế. Dễ dàng nhận thấy, chức năng quản lý phát triển các làng nghề giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Bộ Công thương còn rất nhiều quy định chồng chéo, khó thực hiện dẫn đến việc thiếu các văn bản hướng dẫn, định hướng và hỗ trợ cụ thể trong hoạt động sản xuất, kinh doanh bền vững ở các làng nghề. Bên cạnh đó, các hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam chưa có sự phối hợp chặt chẽ, còn thiếu tính răn đe.

Thứ ba, theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của Tổng cục Môi trường tiến hành năm 2010, số lượng cán bộ tham gia vào công tác quản lý môi trường trên phạm vi toàn quốc ở địa phương là 2.601 cán bộ. Lực lượng cán bộ này phải triển khai đồng thời rất nhiều nội dung như thanh tra, kiểm tra, thẩm định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường (BVMT), đề án BVMT; kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải; thẩm định phí môi trường; quan trắc môi trường và xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường... Khoảng 95% cán bộ quản lý môi trường cấp huyện không có bằng cấp chuyên môn trực tiếp về môi trường. Hơn nữa, đội ngũ này cũng không được đào tạo, tập huấn, nâng cao trình độ thường xuyên trong lĩnh vực BVMT nên rất lúng túng, khó khăn trong hướng dẫn, thi hành, áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT hiện hành. Đối với cấp xã, phường và thị trấn (là cấp liên quan trực tiếp đến công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường ở làng nghề): Trình độ chuyên môn về môi trường cũng rất yếu. Tại cấp thôn, mọi trách nhiệm trong đó có trách nhiệm về kiểm soát ô nhiễm môi trường đều được giao cho trưởng thôn, với trình độ hạn chế, với tâm lý nể nang, quan hệ dòng tộc, làng xã ở địa phương thì hiệu quả thực thi các hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường còn rất thấp. Cho đến nay, chưa có một làng nghề nào có cán bộ chuyên trách về quản lý môi trường2. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ thanh tra về môi trường làng nghề hiện còn yếu về chuyên môn và thiếu về số lượng nên không thể kiểm soát và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường ở làng nghề chưa được tiến hành thường xuyên, không có hiệu quả dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ở làng nghề ngày càng trở nên trầm trọng.

2. Trách nhiệm, nghĩa vụ của cộng đồng dân cư trong kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề ở Việt Nam hiện nay

Trách nhiệm của cộng đồng dân cư trong việc bảo vệ môi trường cũng được quy định cụ thể tại các Điều 81, 82, 83 và 146 Luật Bảo vệ môi trường năm 20143. Đặc biệt, liên quan đến hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, trách nhiệm của tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường cũng được quy định một cách rõ ràng, cụ thể. Đây là tổ chức được thành lập và hoạt động dựa trên nguyên tắc tự nguyện, cộng đồng trách nhiệm. Trong quá trình kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường có trách nhiệm bố trí lực lượng, phương tiện và thiết bị thu gom, vận chuyển chất thải rắn đến các điểm tập kết theo quy định; thực hiện việc quản lý, vận hành, duy tu, cải tạo các công trình thuộc kết cấu hạ tầng về bảo vệ môi trường theo sự phân công của UBND cấp xã; niêm yết các quy định và theo dõi, đôn đốc việc thực hiện giữ vệ sinh nơi công cộng; xây dựng và tổ chức thực hiện hương ước, quy ước có nội dung kiểm soát ô nhiễm môi trường; tuyên truyền, vận động nhân dân xóa bỏ các hủ tục, thói quen mất vệ sinh, có hại cho môi trường; tham gia kiểm tra, giám sát thực hiện quy định về giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường của cơ sở trên địa bàn theo sự phân công của UBND cấp xã. Khi phát hiện ra dấu hiệu bất thường về ô nhiễm môi trường hoặc sự cố môi trường hoặc các hành vi vi phạm quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường tại địa bàn được phân công quản lý thì xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo ngay cho UBND cấp xã. Báo cáo UBND cấp xã về hiện trạng hoạt động, tình hình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải theo quy định4. Mặt khác, vai trò của cộng đồng dân cư trong hoạt động đánh giá môi trường cũng vô cùng quan trọng. Pháp luật về đánh giá môi trường đã quy định từ khâu lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, chủ dự án đã phải tổ chức tham vấn ý kiến của đại diện cộng đồng dân cư. Tiếp đó đến khâu thẩm định hay giám sát sau thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, pháp luật quy định cộng đồng dân cư có quyền đưa ra ý kiến đồng ý hay không đồng ý đối với việc đặt dự án tại khu vực nơi họ đang sinh sống hay đối với các phương án kiểm soát ô nhiễm môi trường của dự án. Họ có quyền kiểm tra, giám sát và phát hiện những hành vi vi phạm trong quá trình thực thi pháp luật về đánh giá môi trường của các chủ thể khác…

Với những quy định về trách nhiệm của cộng đồng dân cư trong kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam, bước đầu đã tạo được những chuyển biến đáng kể về hành vi kiểm soát ô nhiễm ở cộng đồng dân cư. Tại nhiều làng nghề, hương ước, quy ước đóng vai trò rất tích cực trong việc đề cao các chuẩn mực đạo lý, truyền thống của làng nghề, đồng thời cũng là công cụ tích cực nhằm vận động, tuyên truyền phổ biến, giáo dục về kiểm soát ô nhiễm ở làng nghề. Ngoài ra còn thúc đẩy phát triển sản xuất, giải quyết các mâu thuẫn, xung đột thường ngày trong khu vực làng nghề. Ý thức tự giác của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường tại các làng nghề.

Trong giai đoạn đổi mới toàn diện của Việt Nam hiện nay, việc nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng góp phần to lớn trong công tác bảo vệ môi trường nói chung và hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề nói riêng. Nó phù hợp với quan điểm chung của Đảng và Nhà nước là: Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Tức là nhiệm vụ đó không chỉ của riêng cơ quan ban ngành nào, của tổ chức hoặc các nhân nào mà là của toàn nhân dân và tất cả phải cùng hướng đến mục đích phát triển bền vững trong hiện tại và tương lai cho đất nước. Tuy nhiên, quan niệm và nhận thức của một bộ phận không nhỏ trong cộng đồng về kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề vẫn được coi là vấn đề xa vời, là trách nhiệm của Nhà nước, của Chính phủ, của xã hội chứ không phải của cá nhân. Điều này vẫn còn đang tồn tại rất phổ biến. Do vậy, công cụ giáo dục về kiểm soát ô nhiễm môi trường cũng rất quan trọng trong việc nâng cao ý thức cộng đồng, thúc đẩy họ tham gia tích cực vào hoạt động kiểm soát ô nhiễm, đặc biệt là tại các khu vực làng nghề. Pháp luật bảo vệ môi trường quy định công dân Việt Nam được giáo dục toàn diện về môi trường nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức bảo vệ môi trường. Giáo dục về môi trường là một nội dung của chương trình chính khóa của các cấp học phổ thông. Nhà nước ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường. Nội dung chủ yếu của giáo dục môi trường là đưa giáo dục môi trường vào trường học, cung cấp thông tin cho những người có quyền ra quyết định và đào tạo chuyên gia về môi trường5. Như vậy, việc tăng cường hơn nữa cho hoạt động tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức về kiểm soát ô nhiễm tại các khu vực làng nghề là rất cần thiết. Cần phải phân tích cho người dân tại các làng nghề hiểu được rằng kiểm soát ô nhiễm là một vấn đề đang được cả thế giới quan tâm và “tai hoạ sẽ đến với tất cả chúng ta không kể người đó giàu hay nghèo”6 nếu không ý thức được điều này.

TS. Lê Kim Nguyệt

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội



Tài liệu tham khảo:

1. Chính phủ, (2011), Báo cáo về việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề (thực hiện Nghị quyết số 1014/NQ/UBTVQH12), tháng 9 năm 2011

2. Đặng Đình Long, Đinh Thị Bích Thủy (2005), Tính cộng đồng và xung đột môi trường tại khu vực làng nghề ở đồng bằng sông Hồng. Thực trạng và xu hướng biến đổi, Nxb. Nông nghiệp.

3. Quốc hội (2014), Luật Bảo vệ môi trường, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội (Điều 81 quy định về bảo vệ môi trường nơi công cộng; Điều 82 quy định yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với hộ gia đình; Điều 83 quy định đối với tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường; Điều 146 quy định quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư).

4. Bộ Tài nguyên và môi trường (2011), Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT ngày 26/12/2011 quy định về bảo vệ môi trường làng nghề (khoản 1 Điều 3).

5. Nguyễn Thế Chinh, (2003) Giáo trình Kinh tế và Quản lý môi trường, Trường đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội, tr. 292, tr. 285, tr. 294, 295.

6. Bộ Thương Mại (1998), Thương mại - Môi trường và phát triển bền vững , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 162.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.

Theo dõi chúng tôi trên: