Thứ tư 04/03/2026 04:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ trong lĩnh vực pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

“Hoàn trả” có thể hiểu là việc một người phải trả lại một khoản tiền cho người khác do trước đó đã mượn, vay hoặc trước đó đã được người khác trả hộ một khoản tiền, trong trách nhiệm bồi thường của Nhà nước việc hoàn trả được hiểu là người thi hành công vụ phải hoàn trả lại cho Nhà nước một khoản tiền (toàn bộ hoặc một phần) mà Nhà nước đã bỏ ra để bồi thường cho người bị thiệt hại.

Có thể nói, quy định về trách nhiệm hoàn trả đã được hình thành từ rất sớm nhưng chính thức được khẳng định một cách rõ nét kể từ khi ban hành Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995, BLDS năm 2005 và hiện nay chế định về hoàn trả đang được điều chỉnh bởi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 (Luật TNBTCNN). Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ cung cấp thông tin sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của các quy định về trách nhiệm hoàn trả, so sánh đối chiếu các quy định của pháp luật về hoàn trả cũng như một số hạn chế, bất cập của quy định hiện hành về trách nhiệm hoàn trả và đề xuất một số hướng hoàn thiện.

1. Sơ lược về sự hình thành của các quy định về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ trong pháp luật Việt Nam

Pháp luật về hoàn trả được hình thành từ sớm nhưng rõ nét là từ năm 1995 Theo đó, trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đây không chỉ là nghĩa vụ của người thi hành công vụ mà đồng thời là trách nhiệm của cơ quan nhà nước yêu cầu người thi hành công vụ thực hiện, phải hoàn trả khoản tiền mà mình đã bồi thường cho người bị thiệt hại, cụ thể tại Điều 623 BLDS năm 1995 về bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước gây ra quy định: “Cơ quan nhà nước phải bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm yêu cầu công chức, viên chức phải hoàn trả khoản tiền mà mình đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật, nếu công chức, viên chức có lỗi trong khi thi hành công vụ”. Tinh thần đó, cũng được thể hiện rõ trong việc cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu công chức, viên chức hoàn trả khoản tiền mà mình đã bồi thường cho người bị thiệt hại cụ thể tại Điều 624 BLDS về bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra quy định: “Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã gây thiệt hại phải hoàn trả khoản tiền mà mình đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền đó có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ”.

Để cụ thể hóa quy định tại BLDS năm 1995, Nghị định số 47/CP ngày 03/5/1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra (Nghị định số 47/CP) tại Điều 12 quy định trách nhiệm hoàn trả, theo đó, công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng phải hoàn trả khoản tiền mà cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng đã bồi thường cho người bị thiệt hại. Mức hoàn trả do Thủ trưởng cơ quan đó quyết định trên cơ sở kiến nghị của Hội đồng xét giải quyết việc hoàn trả bồi thường thiệt hại.

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra (Nghị quyết số 388), có quy định về nghĩa vụ hoàn trả, theo đó người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây oan do lỗi của mình trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự có nghĩa vụ hoàn trả theo quy định của pháp luật (Điều 16). Đồng thời, về thẩm quyền quyết định hoàn trả tại Nghị quyết số 388 quy định quyền quyết định chủ yếu thuộc về cá nhân, trong đó, giao trách nhiệm xác định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ cho Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng, hoặc Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp nếu Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường là người có nghĩa vụ hoàn trả (Điều 17).

Tương tự như quy định tại BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 có sự kế thừa các quy định của BLDS năm 1995, theo đó trách nhiệm hoàn trả được quy định không chỉ là một nghĩa vụ của người thi hành công vụ mà là trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải yêu cầu người thi hành công vụ thực hiện: "Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ. Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm yêu cầu cán bộ, công chức phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu cán bộ, công chức có lỗi trong khi thi hành công vụ" (Điều 619). Theo đó, Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp cán bộ, công chức thực thi công vụ gây ra thiệt hại. Đồng thời, tại Điều 620 BLDS về bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, quy định: “Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thẩm quyền đã gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ”.

Sự ra đời của Luật TNBTCNN đã tạo cơ sở pháp lý hơn nữa cho việc thực hiện xem xét trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ do có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại trong khi thi hành công vụ, đã được cụ thể tại Chương VII của Luật TNBTCNN. Đồng thời, trách nhiệm hoàn trả được chi tiết hóa tại các quy định cụ thể trong các văn bản hướng dẫn thi hành tại Chương III của Nghị định số 16/2010/NĐ-CP ngày 03/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TNBTCNN (Nghị định số 16) và tại Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT- BTP-TANDTC-VKSNDTC của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ (TTLT số 04) theo đó, quy định về căn cứ xác định mức hoàn trả; trình tự, thủ tục xem xét trách nhiệm hoàn trả, trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ trong một số trường hợp cụ thể và hiệu lực của quyết định hoàn trả, khiếu nại, khiếu kiện quyết định hoàn trả.

2. So sánh quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các quy định trước đây về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ

Về nguyên tắc hoàn trả, cơ quan nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại, sau đó yêu cầu công chức, viên chức gây ra thiệt hại phải hoàn trả khoản tiền mà cơ quan nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại. Bên cạnh đó, có một số điểm khác nhau về hoàn trả:

Thứ nhất, về cơ chế xác định trách nhiệm hoàn trả

Theo quy định của Nghị định số 47/CP, Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành đều quy định cơ chế xác định trách nhiệm hoàn trả thông qua cơ chế tập thể, chỉ khác nhau về tên gọi, nếu như Nghị định số 47/CP quy định là Hội đồng xét giải quyết việc hoàn trả bồi thường thiệt hại, tại Luật TNBTCNN là Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả. Đối với quy định về thành phần, cơ chế làm việc theo hướng chỉ có chức năng tư vấn không có quyền quyết định nội dung liên quan đến hoàn trả. Trong hoạt động tố tụng hình sự có sự khác nhau tại Nghị quyết số 388, Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành, theo đó Nghị quyết số 388 quy định quyền quyết định chủ yếu thuộc về cá nhân, trong đó, giao trách nhiệm xác định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ cho Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng, hoặc Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp nếu Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường là người có nghĩa vụ hoàn trả (Điều 17), theo Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành thì quyền quyết định thuộc về Hội đồng.

Thứ hai, về yếu tố lỗi

Tương tự quy định về lỗi phải bồi thường thiệt hại khi công chức, viên chức gây ra thiệt hại thì công chức, viên chức chỉ cần có lỗi gây ra thiệt hại thì hoàn trả cho cơ quan nhà nước (Điều 623, 624 BLDS năm 1995; Điều 619, 620 BLDS năm 2005). Riêng trong hoạt động tố tụng hình sự, Luật TNBTCNN có sự phân biệt giữa lỗi cố ý và vô ý theo đó thì người thi hành công vụ chỉ phải chịu trách nhiệm hoàn trả khi có lỗi cố ý (khoản 2 Điều 56). Khác với quy định của Luật TNBTCNN chỉ phải chịu trách nhiệm với lỗi cố ý, tại Nghị quyết số 388 không có sự phân biệt giữa lỗi cố ý và vô ý, theo đó người thi hành công vụ chỉ cần có lỗi thì có nghĩa vụ hoàn trả cụ thể: “Người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây oan do lỗi của mình trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự có nghĩa vụ hoàn trả theo quy định của pháp luật” (Điều 16).

Thứ ba, về căn cứ xác định mức hoàn trả

Theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 47/CP, điểm 8 Thông tư số 54/1998/TT-TCCP ngày 04/6/1998 của Ban tổ chức - cán bộ Chính phủ (Thông tư số 54) hướng dẫn một số điều của Nghị định số 47/CP quy định căn cứ xác định mức hoàn trả, có sự mở rộng hơn so với quy định của Luật TNBTCNN dựa trên 4 căn cứ bao gồm: Mức độ lỗi của người thi hành công vụ; mức độ thiệt hại thực tế; hoàn cảnh gia đình và nhân thân và tài sản của đương sự. Trong khi đó, theo quy định của Luật TNBTCNN quy định căn cứ xác định mức hoàn trả dựa trên 3 căn cứ bao gồm: Mức độ lỗi của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại; mức độ thiệt hại đã gây ra và điều kiện kiện kinh tế của người thi hành công vụ (Điều 57 Luật TNBTCNN và Điều 14 Nghị định số 16). Việc căn cứ vào điều kiện kiện kinh tế của người thi hành công vụ rất quan trọng để bảo đảm việc áp dụng cho phù hợp với tính thực tiễn, tránh trường hợp có quy định nhưng không có điều kiện để bảo đảm thi hành dẫn đến việc quy định chỉ là quy định không phù hợp với thực tiễn. Đồng thời, tại Điều 8 TTLT số 04 quy định cụ thể định lượng số tiền bồi thường mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại.

Thứ tư, về mức hoàn trả

Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành có sự kế thừa quy định của Nghị quyết số 388 về việc định lượng cụ thể mức hoàn trả, theo quy định của Luật TNBTCNN cũng đã định lượng mức hoàn trả đối với trường hợp người thi hành công vụ, có sự phân biệt giữa lỗi cố ý và vô ý, cụ thể như sau:

1. Trường hợp người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây ra thiệt hại, nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường căn cứ vào mức độ thiệt hại gây ra, điều kiện kinh tế của người đó để quyết định họ phải hoàn trả một khoản tiền nhất định, nhưng tối đa không quá 36 tháng lương của người đó tại thời điểm quyết định việc hoàn trả.

Trường hợp người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây ra thiệt hại mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự do việc thực hiện hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại đó thì phải hoàn trả toàn bộ số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự.

2. Trường hợp người thi hành công vụ có lỗi vô ý gây ra thiệt hại thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường căn cứ vào mức độ thiệt hại gây ra, điều kiện kinh tế của người đó để quyết định họ phải hoàn trả một khoản tiền nhất định, nhưng tối đa không quá 3 tháng lương của người đó tại thời điểm quyết định việc hoàn trả, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Khác với quy định của pháp luật hiện hành, Nghị định số 47/CP không quy định mức hoàn trả mà trên cơ sở việc xem xét, đánh giá thiệt hại, xác định mức độ lỗi và khả năng kinh tế của công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng và kiến nghị với Thủ trưởng cơ quan về mức hoàn trả và phương thức hoàn trả bồi thường thiệt hại. Nghị quyết số 388 quy định việc xác định mức hoàn trả và phương thức hoàn trả được thực hiện theo quy định của pháp luật về trách nhiệm vật chất của cán bộ, công chức (khoản 3 Điều 17 Nghị quyết số 388).

Thứ năm, về phương thức hoàn trả

Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật cũng đã mở rộng hơn về phương thức hoàn trả so với quy định của Nghị quyết số 388 như trừ dần vào lương (Điều 23 Nghị định 97/1998/NĐ-CP trường hợp gây thiệt hại dưới 5 triệu đồng về nguyên tắc phải bồi thường toàn bộ thiệt hại bằng cách trừ dần vào lương; nếu do vô ý thì phải bồi thường nhiều nhất là 3 tháng lương và được trừ dần vào lương hàng tháng nhưng không dưới 10% và không vượt quá 30% tổng thu nhập tiền lương và phụ cấp (nếu có)). Theo đó, các quy định của Luật TNBTCNN cũng quy định cụ thể việc hoàn trả với 3 phương thức: Việc hoàn trả có thể thực hiện việc hoàn trả một lần hoặc nhiều lần; trong trường hợp việc hoàn trả được thực hiện bằng cách trừ dần vào lương hàng tháng của người thi hành công vụ thì mức tối thiểu không dưới 10% và tối đa không quá 30% thu nhập từ tiền lương hàng tháng (Điều 62 Luật TNBTCNN).

Thứ sáu, về hiệu lực của quyết định hoàn trả

So với quy định của Thông tư số 54 về hiệu lực của quyết định hoàn trả có khác so với quy định của Luật TNBTCNN: Trong trường hợp cán bộ, công chức gây thiệt hại không thống nhất với mức hoàn trả hoặc từ chối hoàn trả thì Thủ trưởng cơ quan phải lập hồ sơ yêu cầu Tòa án giải quyết (mục 10 Thông tư số 54/1998). Khác với quy định trên, Luật TNBTCNN quy định: “Trường hợp người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả không đồng ý với quyết định hoàn trả thì có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện quyết định hoàn trả theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính” (Điều 60 Luật TNBTCNN)

Như vậy, so với quy định trước đây thì Luật TNBTCNN đã mở rộng phạm vi để người thi hành công vụ thực hiện quyền của mình, nếu như quy định tại Thông tư số 54 thì người thi hành công vụ chỉ được quyền khởi kiện ra tòa, tuy nhiên, theo Luật TNBTCNN thì người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện đối với quyết định hoàn trả.

Thứ bảy, về việc miễn trách nhiệm hoàn trả

Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 47/CP có quy định về việc miễn trách nhiệm hoàn trả, có dẫn chiếu áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự 1995 cụ thể: Nguyên tắc xác định thiệt hại, mức bồi thường và mức hoàn trả khoản tiền bồi thường thiệt hại và việc miễn, giảm, hoãn hoàn trả bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự. Đồng thời, tại Mục 9 Thông tư số 54 có quy định: Thủ trưởng cơ quan quyết định mức hoàn trả trên cơ sở đề nghị của Hội đồng và thông báo cho công chức, viên chức gây thiệt hại biết để thực hiện theo quy định của pháp luật. Các trường hợp miễn, giảm mức bồi hoàn phải ghi rõ căn cứ pháp lý và lý do giải quyết. Tuy nhiên, theo quy định của Luật TNBTCN và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, hiện nay không quy định việc miễn trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ.

Thứ tám, trách nhiệm hoàn trả trong một số trường hợp cụ thể

Nếu như Nghị định số 47/CP và Nghị quyết số 388 quy định còn chung chung về trường hợp đặc biệt trong hoàn trả, Luật TNBTCN và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật có quy định cụ thể nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật cũng như thu hồi, bù đắp số tiền mà Nhà nước đã bỏ ra khi bồi thường cho người bị thiệt hại cũng như để giáo dục, răn đe nhằm phòng ngừa. Tại Điều 16 đến Điều 19 TTLT số 04 quy định một số trường hợp cụ thể: Trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp đã nghỉ hưu, đã chuyển công tác đến cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, không còn làm việc trong các cơ quan nhà nước. Đặc biệt, kế thừa quy định tại Nghị định 47/CP, quyền của cơ quan có trách nhiệm bồi thường yêu cầu tòa án giải quyết triệt để vấn đề trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ, tại Điều 20 của TTLT số 04 cũng đã có quy định cụ thể.

3. Một số hạn chế, bất cập của các quy định hiện hành về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Thứ nhất, một số quy định của pháp luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cần có sự thống nhất

- Về nghĩa vụ hoàn trả cần có sự thống nhất trong 3 hoạt động: Quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án

Tại khoản 1 Điều 56 Luật TNBTCNN đã quy định, người thi hành công vụ có lỗi gây ra thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 56 Luật TNBTCNN lại quy định, người thi hành công vụ có lỗi vô ý gây ra thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự không phải chịu trách nhiệm hoàn trả. Quy định trên trong hoạt động tố tụng hình sự như vậy là không thống nhất với các hoạt động khác như quản lý hành chính và thi hành án.Trong hoạt động tố tụng hình sự các vụ việc về bồi thường chủ yếu được xác định là do lỗi vô ý của người thi hành công vụ nên không phát sinh trách nhiệm hoàn trả. Theo Báo cáo số 552/BC-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ thì số tiền mà Nhà nước phải bồi thường trong các quyết định giải quyết bồi thường, bản án, quyết định về việc giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật trong phạm vi cả nước đối với 3 hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án là 42 tỷ 536 triệu 450 nghìn đồng (trong đó riêng vụ ông Nguyễn Thanh Chấn, Bắc Giang số tiền 7,2 tỷ đồng). Như vậy, chỉ riêng vụ ông Chấn đã chiếm số lượng tương đối lớn về số tiền mà Nhà nước phải bồi thường, nếu trường hợp không truy cứu trách nhiệm hình sự, khi đó người thi hành công vụ xử vụ của ông Chấn sẽ không phải bồi thường như vậy sẽ không công bằng đối với hoạt động quản lý hành chính và thi hành án, không có tác dụng trong việc răn đe, phòng ngừa, cũng như không tương xứng với kinh phí Nhà nước đã chi trả cho người bị thiệt hại. Do đó, khi sửa đổi, bổ sung Luật TNBTCNN cần quy định thống nhất về trách nhiệm hoàn trả giữa những người thi hành công vụ trong các lĩnh vực nhằm bảo đảm có sự công bằng giữa 3 hoạt động: quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án.

- Chưa có sự thống nhất về thời điểm xem xét trách nhiệm hoàn trả

Theo quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật TNBTCNN quy định thì quy trình xem xét trách nhiệm hoàn trả được thực hiện sau khi cơ quan nhà nước đã chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại. Quy định này hợp lý bởi sau khi chi trả cho người bị thiệt hại xong thì có cơ sở để xác định mức hoàn trả là dựa trên số tiền thực tế mà Nhà nước đã chi trả bồi thường thiệt hại, cũng như mức độ thiệt hại gây ra.

Tuy nhiên, đoạn 2 khoản 3 Điều 6 Thông tư liên tịch số 71/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 09/5/2012 quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện trách nhiệm bồi thường của nhà nước (TTLT số 71) có quy định: “Trường hợp đối với những vụ việc phức tạp, có số tiền lớn cần phải kiểm tra xem xét, cơ quan tài chính trao đổi với cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường và cơ quan liên quan để tạm ứng kinh phí chi trả tiền bồi thường. Sau khi cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoàn chỉnh hồ sơ bồi thường, xác định trách nhiệm hoàn trả của cá nhân, tổ chức thì có văn bản gửi cơ quan tài chính để thẩm tra và thông báo dự toán ngân sách bổ sung”. Như vậy, theo quy trình quy định tại TTLT số 71 đã nêu ở trên thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải xác định trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ trước khi thực hiện xong việc chi trả tiền bồi thường. Quy định như trên là không thống nhất với quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật TNBTCNN, dẫn đến hệ lụy, có thể đề nghị của cơ quan có trách nhiệm bồi thường sẽ không được chấp nhận hoặc được chấp nhận không đủ số tiền bồi thường, hoặc có thể sẽ không được phê duyệt bổ sung kinh phí bồi thường như đã đề nghị, gây khó khăn cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Từ thực tiễn này có thể xem xét khi tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật TNBTCNN theo đó, cần có sự thống nhất giữa Luật và văn bản hướng dẫn thi hành, bảo đảm tính phù hợp theo quy trình giải quyết bồi thường.

Thứ hai, cần có sự quy định cụ thể đối với một số trường hợp chưa được pháp luật điều chỉnh hoặc chưa có quy định cụ thể

- Pháp luật hiện hành chưa quy định trường hợp không xác định được mức lương

Hiện nay, theo quy định của Luật TNBTCNN thì việc hoàn trả được thực hiện bằng cách trừ dần vào lương hàng tháng của người thi hành công vụ, theo đó mức tối thiểu không dưới 10% và tối đa không quá 30% thu nhập từ tiền lương hàng tháng. Tuy nhiên, trên thực tế cũng có trường hợp người thi hành công vụ đã nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần nên không nhận lương hưu hàng tháng, lao động tự do, không xác định được mức thu nhập…

Đối với trường hợp này, hiện chưa có quy định điều chỉnh cụ thể, phương án đề xuất để giải quyết có thể dựa trên căn cứ mức lương cơ sở do Nhà nước quy định áp dụng cho công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước tại thời điểm hoàn trả làm căn cứ để xác định lương hàng tháng trên cơ sở mức lương tối thiểu hiện hành mà Nhà nước quy định, theo đó người thi hành công vụ sẽ phải hoàn trả cho ngân sách nhà nước. Như vậy, trong quá trình triển khai trên thực tiễn còn vướng mắc bởi pháp luật chưa dự liệu các trường hợp trên nên còn có khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng giải quyết. Trên cơ sở vướng mắc từ thực tiễn khi thực hiện sửa đổi, bổ sung Luật TNBTCNN cần quy định hành lang pháp lý để giải quyết đối với những trường hợp trên.

- Quy định về xử lý kỷ luật người thi hành công vụ trong việc gây ra thiệt hại dẫn đến Nhà nước phải bồi thường

Hiện nay, việc xử lý kỷ luật người thi hành công vụ chưa được các văn bản hướng dẫn thi hành Luật TNBTCNN quy định cụ thể về mức độ, hình thức kỷ luật hành chính tương xứng với hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại, dẫn đến việc thực hiện Luật TNBTCNN không nghiêm, chưa có tác dụng răn đe trong thực thi công vụ. Do đó, Luật TNBTCNN sửa đổi, bổ sung cần có hành lang pháp lý quy định các hình thức kỷ luật phù hợp đối với công chức có hành vi trái pháp luật làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Qua đó, nâng cao hơn nữa ý thức trách nhiệm của người thi hành công vụ, hạn chế việc phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, phòng ngừa đối với những vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ.

Nhìn chung, chế định pháp luật về hoàn trả đã hình thành từ rất sớm ngày càng được hoàn thiện hơn. Trong điều kiện hiện nay, khi xã hội ngày càng phát triển, nhận thức pháp luật của người dân ngày càng được nâng cao cũng như đòi hỏi ngày càng lớn của người dân, việc thực thi công vụ của công chức phải nghiêm, qua đó, từng bước nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả, hiệu quả của nền công vụ. Nhiệm vụ sửa đổi, bổ sung Luật TNBTCNN đang là một yêu cầu quan trọng đặt ra hiện nay, nhất là trong điều kiện mà Hiến pháp năm 2013 được ban hành với nhiều quy định mới. Nhằm bảo đảm phù hợp với thực tiễn vừa bảo đảm hạn chế những hành vi vi phạm của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

ThS. Chu Thị Tuyết Lan

Cục Bồi thường nhà nước

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: