Thứ bảy 24/10/2026 03:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có sự đổi mới khi quy định cụ thể nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng nói chung tại Điều 387. Tiếp cận dưới góc độ pháp luật chuyên ngành, có thể thấy, xu hướng luật hóa nghĩa vụ cung cấp thông tin và trách nhiệm pháp lý phát sinh do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động sẽ tạo ra cơ sở pháp lý rõ ràng cho quá trình áp dụng pháp luật.

1. Đặt vấn đề

Nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động đặt ra các yêu cầu bắt buộc đối với các chủ thể có ý định giao kết hợp đồng. Họ phải tiến hành những xử sự nhất định hoặc không được tiến hành một số xử sự nhất định; trường hợp các chủ thể làm trái với những yêu cầu của nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng tất yếu dẫn đến trách nhiệm pháp lý nhất định. Điều 2.301 Bộ nguyên tắc Luật Hợp đồng châu Âu (PECL) ghi nhận: “Một bên được tự do đàm phán và không phải chịu trách nhiệm nếu không đạt được thỏa thuận. Tuy nhiên, nếu họ đã đàm phán hoặc phá vỡ đàm phán một cách không thiện chí và không công bằng thì phải chịu trách nhiệm với những tổn thất đã gây ra cho bên kia. Không thiện chí và không công bằng có nghĩa là một bên bước vào đàm phán nhưng không có ý định đàm phán thực sự để đi tới thỏa thuận cuối cùng với bên kia”. Keit Hain, Lorman Frank cũng có quan điểm tương tự: “Tại thời điểm các bên bắt đầu tiến hành đàm phán, mỗi bên đều đáp ứng được yêu cầu về sự trung thực và công bằng trong việc xây dựng mối quan hệ với bên còn lại”[1]. Như vậy, có thể thấy, nguyên tắc thiện chí và trung thực đã đặt ra nghĩa vụ thông tin khi giao kết hợp đồng. Chủ thể vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng lao động nói riêng sẽ dẫn đến việc phát sinh trách nhiệm pháp lý. Trong Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế xác định: Một bên có thể tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối, ép buộc khi cam kết của họ được thiết lập, tuy nhiên, sự đe dọa này phải là cấp thiết, nghiêm trọng và không chính đáng. Có thể thấy, trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ thông tin khi giao kết hợp đồng lao động được xem xét dựa trên mối quan hệ nhân quả, biện chứng giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng và sự gánh chịu trách nhiệm bất lợi; trong đó, hành vi vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng xuất hiện trước về mặt thời gian và tất yếu dẫn đến kết quả là các chủ thể phải gánh chịu sự bất lợi tương ứng.

2. Nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động

2.1. Quy định chung về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng

Thông tin là một yếu tố đặc biệt quan trọng khi giao kết hợp đồng; các bên tham gia đàm phán hợp đồng cần thông tin để xem xét, lựa chọn lĩnh vực giao kết hợp đồng, giúp thỏa mãn các nhu cầu về vật chất, tinh thần của các bên[2]. Thông tin giúp các bên hiểu rõ về nhau cũng như sản phẩm (đối tượng) các bên hướng tới đàm phán, định hướng cho họ lựa chọn phạm vi phù hợp để giao kết hợp đồng. Thông tin là sức mạnh vì thông tin định hướng hành vi con người[3]. Nguyên tắc chi phối đến nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng thể hiện rõ ở khoản 3 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015: Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực. Sự thiện chí trong cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng là “điều kiện cần” trong nghĩa vụ cung cấp thông tin, còn trung thực được xem là “điều kiện đủ” trong nghĩa vụ cung cấp thông tin. Thông tin trung thực là những thông báo được gửi đi đúng với sự thật, không làm sai lệch đi so với sự vốn có của nó[4]. Theo nghĩa rộng, nghĩa vụ trung thực trong cung cấp thông tin bao gồm cả việc thông báo được gửi đi đúng với sự thật và gửi đầy đủ các thông tin mà bên chiếm ưu thế có được. Trong phạm vi rộng, trung thực thông tin hàm chứa cả tính chất của thiện chí khi cung cấp thông tin phục vụ cho giao kết hợp đồng.

Như vậy, có thể thấy rằng, với nguyên tắc trung thực, thiện chí khi cung cấp thông tin giao kết hợp đồng được ghi nhận tại những điều luật đầu tiên của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã chứng tỏ pháp luật chung về hợp đồng đặc biệt coi trọng loại nghĩa vụ này.

Bên cạnh đó, Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 còn ghi nhận: “Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết… Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Điều 387 đã minh thị về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng phải là những “thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng”. Tuy nhiên, thông tin này bao gồm những thông tin nào thì Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa đề cập. Trên thực tế, việc quy định cụ thể loại thông tin nào là rất khó cho nhà làm luật vì với mỗi loại hợp đồng thì thông tin cần cung cấp có thể rất khác nhau. Chính vì vậy, với vai trò là pháp luật chung về hợp đồng, Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ nêu lên vai trò của loại thông tin này đối với bên được cung cấp thông tin là các thông tin này ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của một bên. Tuy nhiên, việc quy định như vậy có thể dẫn tới tranh chấp giữa các bên.

2.2. Quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động

Trên cơ sở Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015, cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động được quy định là nghĩa vụ của cả người sử dụng lao động và người lao động. Việc cung cấp thông tin của hai bên bảo đảm cho phía bên kia biết được các thông tin cơ bản nhất, để người lao động biết người sử dụng lao động có đáp ứng được các yêu cầu của người lao động hay không, đặc biệt là vấn đề tiền lương và điều kiện làm việc cũng như để người sử dụng lao động đánh giá người lao động có đáp ứng được các điều kiện mà người sử dụng lao động đặt ra khi tuyển dụng hay không. Điều này sẽ bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng sau này đúng theo nguyên tắc tại khoản 1 Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2019: Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực. So với Bộ luật Lao động năm 2012, Bộ luật Lao động năm 2019 đã bổ sung yêu cầu thông tin được cung cấp phải trung thực. Ngoài những loại thông tin cụ thể được liệt kê, Điều 16 Bộ luật Lao động năm 2019 còn quy định mỗi bên có nghĩa vụ cung cấp cho bên kia những thông tin khác “liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động” nếu được bên kia yêu cầu. Quy định này khá tương đồng với đoạn 3 Điều 112-1 Bộ luật Dân sự năm 2016 của Pháp: “Thông tin có tầm quan trọng mang tính quyết định là những thông tin có mối liên hệ trực tiếp và cần thiết tới nội dung hợp đồng hoặc với tư cách của các bên, Tòa án có trách nhiệm giải thích mối liên hệ trực tiếp và cần thiết này”. Theo đó, Điều 16 Bộ luật Lao động năm 2019 được đánh giá là hợp lý, vì quan hệ lao động liên quan đến nhiều vấn đề mà nhu cầu của các bên thì rất đa dạng, Bộ luật Lao động năm 2019 không thể liệt kê được hết những vấn đề mà mỗi bên có nhu cầu cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động. Tuy nhiên, đây lại là quy định mang tính chất định tính và khó xác định trên thực tế.

3. Trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động và những vấn đề cần hoàn thiện

3.1. Quy định chung về trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng

Thông tin khi giao kết hợp đồng liên quan đến quyết định giao kết hợp đồng nên việc vi phạm nghĩa vụ này được coi là một sai phạm và chế tài cho việc vi phạm này có thể là hợp đồng vô hiệu. Trách nhiệm pháp lý từ hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin hợp đồng được tìm thấy trong pháp luật các nước Anh, Pháp, Mỹ hay trong Điều 4.107 PECL và Điều 3.8 Bộ nguyên tắc của Unidroit[5]. Tại Việt Nam, trên cơ sở Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng vô hiệu có thể được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng giao kết do bị lừa dối (hành vi này có thể xuất hiện trong hợp đồng nhưng cũng có thể phát sinh từ giai đoạn các bên đàm phán giao kết hợp đồng).

Ngoài ra, theo quy định chung về hợp đồng tại Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015, bồi thường thiệt hại là trách nhiệm pháp lý phát sinh do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng. Có thể thấy, nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng là loại nghĩa vụ do luật định, vì vậy, khi vi phạm nghĩa vụ này sẽ phát sinh trách nhiệm ngoài hợp đồng. Do đó, vi phạm nghĩa vụ này sẽ chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng khá lớn của hệ thống pháp luật Civil law nên quan điểm về bồi thường thiệt hại khi giao kết hợp đồng như nêu trên hoàn toàn dễ hiểu. Trên thực tế, các Tòa án khi giải quyết những vụ việc liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin cũng viện dẫn đến các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng[6]. Tuy nhiên, quy định hiện nay về bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng chưa thực sự rõ ràng, đầy đủ.

Như vậy, khi một bên tham gia giao kết hợp đồng do bị lừa dối thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó là vô hiệu. Tuy nhiên, Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 trực tiếp điều chỉnh hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin giao kết hợp đồng chỉ ghi nhận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà không quy định hợp đồng có vô hiệu hay không? Điều luật này có thể hiểu theo hướng, hành vi không cung cấp thông tin không vi phạm yếu tố tự nguyện trong xác lập giao dịch chỉ đặt ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Chính vì vậy, để phù hợp hơn với pháp luật các nước, Bộ luật Dân sự năm 2015 cần quy định rõ hơn theo hướng, không chỉ hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin trong hợp đồng mà cả hành vi vi phạm nghĩa vụ thông tin khi giao kết hợp đồng cũng có thể bị tuyên vô hiệu.

3.2. Quy định về trách nhiệm pháp lý khi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động

Theo điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động năm 2019, vi phạm nguyên tắc “tự nguyện, bình đẳng, thiện chí và trung thực” sẽ dẫn đến hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ. Có thể thấy, nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động gắn bó mật thiết và được xây dựng từ nguyên tắc thiện chí và trung thực. Vì vậy, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin có thể dẫn đến hậu quả pháp lý là hợp đồng lao động vô hiệu. Tuy nhiên, cùng là vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng nhưng theo quy định chung về hợp đồng tại Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì trách nhiệm pháp lý tương ứng là bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra, còn pháp luật lao động lại đặt ra trách nhiệm pháp lý là hợp đồng vô hiệu tương tự như nội dung của chế định giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối tại Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vậy, hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động mà gây ra thiệt hại cho bên còn lại thì có áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại giống như quy định tại Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 hay không, đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng? Mức bồi thường và cách xác định thiệt hại ra sao? Hơn nữa, Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019 về xử lý hợp đồng lao động vô hiệu mới chỉ dừng lại ở việc quy định rất khái quát: “… 2. Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động được giải quyết theo quy định của pháp luật; trường hợp do ký sai thẩm quyền thì hai bên ký lại; 3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”. Vậy, khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, người lao động và người sử dụng lao động có ký lại hợp đồng lao động hay không? Nếu ký lại, quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi hợp đồng lao động được ký lại xử lý như thế nào? Trường hợp hai bên không ký lại hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì xử lý hậu quả như thế nào[7]? Đây là những vấn đề mà nghị định của Chính phủ cần có hướng dẫn cụ thể hơn.

Trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động là một chủ đề không mới. Theo các quy định hiện hành, trách nhiệm pháp lý được áp dụng cho hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng là hợp đồng vô hiệu toàn bộ. Tuy nhiên, trong mối quan hệ với các quy đinh chung về hợp đồng đã đặt ra những vấn đề cần có hướng dẫn cụ thể hơn./.

TS. Đỗ Thị Hoa

Khoa Luật - Trường Đại học Thương mại

[1]. Nguyễn Thị Kiều Linh, “Nghĩa vụ tiền hợp đồng và điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi trong bối cảnh sửa đổi Bộ luật Dân sự”, Tạp chí Luật học, số đặc biệt, tháng 6/2015.

[2]. Lê Trường Sơn (2015), “Nghĩa vụ bảo mật thông tin có được trong giai đoạn tiền hợp đồng”, Tạp chí Khoa học pháp lý, tr. 26.

[3]. Nguyễn Như Phát, Lê Thị Thu Thủy (2003), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay”, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 22.

[4]. http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Trung_th%E1%BB%B1c, truy cập ngày 15/12/2023.

[5]. https://iluatsu.com/dan-su/he-qua-phap-ly-do-vi-pham-nghia-vu-cung-cap-thong-tin-tien-hop-dong/.

[6]. Đỗ Văn Đại (2007), “Nghĩa vụ thông tin trong pháp luật hợp đồng Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, tr. 36.

[7]. Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Văn Bình (2021), “Bình luận khoa học Bộ luật Lao động năm 2019”, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 147 - 148.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 400), tháng 3/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: