Thứ tư 29/04/2026 22:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có sự đổi mới khi quy định cụ thể nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng nói chung tại Điều 387. Tiếp cận dưới góc độ pháp luật chuyên ngành, có thể thấy, xu hướng luật hóa nghĩa vụ cung cấp thông tin và trách nhiệm pháp lý phát sinh do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động sẽ tạo ra cơ sở pháp lý rõ ràng cho quá trình áp dụng pháp luật.

1. Đặt vấn đề

Nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động đặt ra các yêu cầu bắt buộc đối với các chủ thể có ý định giao kết hợp đồng. Họ phải tiến hành những xử sự nhất định hoặc không được tiến hành một số xử sự nhất định; trường hợp các chủ thể làm trái với những yêu cầu của nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng tất yếu dẫn đến trách nhiệm pháp lý nhất định. Điều 2.301 Bộ nguyên tắc Luật Hợp đồng châu Âu (PECL) ghi nhận: “Một bên được tự do đàm phán và không phải chịu trách nhiệm nếu không đạt được thỏa thuận. Tuy nhiên, nếu họ đã đàm phán hoặc phá vỡ đàm phán một cách không thiện chí và không công bằng thì phải chịu trách nhiệm với những tổn thất đã gây ra cho bên kia. Không thiện chí và không công bằng có nghĩa là một bên bước vào đàm phán nhưng không có ý định đàm phán thực sự để đi tới thỏa thuận cuối cùng với bên kia”. Keit Hain, Lorman Frank cũng có quan điểm tương tự: “Tại thời điểm các bên bắt đầu tiến hành đàm phán, mỗi bên đều đáp ứng được yêu cầu về sự trung thực và công bằng trong việc xây dựng mối quan hệ với bên còn lại”[1]. Như vậy, có thể thấy, nguyên tắc thiện chí và trung thực đã đặt ra nghĩa vụ thông tin khi giao kết hợp đồng. Chủ thể vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng lao động nói riêng sẽ dẫn đến việc phát sinh trách nhiệm pháp lý. Trong Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế xác định: Một bên có thể tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối, ép buộc khi cam kết của họ được thiết lập, tuy nhiên, sự đe dọa này phải là cấp thiết, nghiêm trọng và không chính đáng. Có thể thấy, trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ thông tin khi giao kết hợp đồng lao động được xem xét dựa trên mối quan hệ nhân quả, biện chứng giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng và sự gánh chịu trách nhiệm bất lợi; trong đó, hành vi vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng xuất hiện trước về mặt thời gian và tất yếu dẫn đến kết quả là các chủ thể phải gánh chịu sự bất lợi tương ứng.

2. Nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động

2.1. Quy định chung về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng

Thông tin là một yếu tố đặc biệt quan trọng khi giao kết hợp đồng; các bên tham gia đàm phán hợp đồng cần thông tin để xem xét, lựa chọn lĩnh vực giao kết hợp đồng, giúp thỏa mãn các nhu cầu về vật chất, tinh thần của các bên[2]. Thông tin giúp các bên hiểu rõ về nhau cũng như sản phẩm (đối tượng) các bên hướng tới đàm phán, định hướng cho họ lựa chọn phạm vi phù hợp để giao kết hợp đồng. Thông tin là sức mạnh vì thông tin định hướng hành vi con người[3]. Nguyên tắc chi phối đến nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng thể hiện rõ ở khoản 3 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015: Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực. Sự thiện chí trong cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng là “điều kiện cần” trong nghĩa vụ cung cấp thông tin, còn trung thực được xem là “điều kiện đủ” trong nghĩa vụ cung cấp thông tin. Thông tin trung thực là những thông báo được gửi đi đúng với sự thật, không làm sai lệch đi so với sự vốn có của nó[4]. Theo nghĩa rộng, nghĩa vụ trung thực trong cung cấp thông tin bao gồm cả việc thông báo được gửi đi đúng với sự thật và gửi đầy đủ các thông tin mà bên chiếm ưu thế có được. Trong phạm vi rộng, trung thực thông tin hàm chứa cả tính chất của thiện chí khi cung cấp thông tin phục vụ cho giao kết hợp đồng.

Như vậy, có thể thấy rằng, với nguyên tắc trung thực, thiện chí khi cung cấp thông tin giao kết hợp đồng được ghi nhận tại những điều luật đầu tiên của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã chứng tỏ pháp luật chung về hợp đồng đặc biệt coi trọng loại nghĩa vụ này.

Bên cạnh đó, Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 còn ghi nhận: “Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết… Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Điều 387 đã minh thị về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng phải là những “thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng”. Tuy nhiên, thông tin này bao gồm những thông tin nào thì Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa đề cập. Trên thực tế, việc quy định cụ thể loại thông tin nào là rất khó cho nhà làm luật vì với mỗi loại hợp đồng thì thông tin cần cung cấp có thể rất khác nhau. Chính vì vậy, với vai trò là pháp luật chung về hợp đồng, Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ nêu lên vai trò của loại thông tin này đối với bên được cung cấp thông tin là các thông tin này ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của một bên. Tuy nhiên, việc quy định như vậy có thể dẫn tới tranh chấp giữa các bên.

2.2. Quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động

Trên cơ sở Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015, cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động được quy định là nghĩa vụ của cả người sử dụng lao động và người lao động. Việc cung cấp thông tin của hai bên bảo đảm cho phía bên kia biết được các thông tin cơ bản nhất, để người lao động biết người sử dụng lao động có đáp ứng được các yêu cầu của người lao động hay không, đặc biệt là vấn đề tiền lương và điều kiện làm việc cũng như để người sử dụng lao động đánh giá người lao động có đáp ứng được các điều kiện mà người sử dụng lao động đặt ra khi tuyển dụng hay không. Điều này sẽ bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng sau này đúng theo nguyên tắc tại khoản 1 Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2019: Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực. So với Bộ luật Lao động năm 2012, Bộ luật Lao động năm 2019 đã bổ sung yêu cầu thông tin được cung cấp phải trung thực. Ngoài những loại thông tin cụ thể được liệt kê, Điều 16 Bộ luật Lao động năm 2019 còn quy định mỗi bên có nghĩa vụ cung cấp cho bên kia những thông tin khác “liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động” nếu được bên kia yêu cầu. Quy định này khá tương đồng với đoạn 3 Điều 112-1 Bộ luật Dân sự năm 2016 của Pháp: “Thông tin có tầm quan trọng mang tính quyết định là những thông tin có mối liên hệ trực tiếp và cần thiết tới nội dung hợp đồng hoặc với tư cách của các bên, Tòa án có trách nhiệm giải thích mối liên hệ trực tiếp và cần thiết này”. Theo đó, Điều 16 Bộ luật Lao động năm 2019 được đánh giá là hợp lý, vì quan hệ lao động liên quan đến nhiều vấn đề mà nhu cầu của các bên thì rất đa dạng, Bộ luật Lao động năm 2019 không thể liệt kê được hết những vấn đề mà mỗi bên có nhu cầu cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động. Tuy nhiên, đây lại là quy định mang tính chất định tính và khó xác định trên thực tế.

3. Trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động và những vấn đề cần hoàn thiện

3.1. Quy định chung về trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng

Thông tin khi giao kết hợp đồng liên quan đến quyết định giao kết hợp đồng nên việc vi phạm nghĩa vụ này được coi là một sai phạm và chế tài cho việc vi phạm này có thể là hợp đồng vô hiệu. Trách nhiệm pháp lý từ hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin hợp đồng được tìm thấy trong pháp luật các nước Anh, Pháp, Mỹ hay trong Điều 4.107 PECL và Điều 3.8 Bộ nguyên tắc của Unidroit[5]. Tại Việt Nam, trên cơ sở Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng vô hiệu có thể được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng giao kết do bị lừa dối (hành vi này có thể xuất hiện trong hợp đồng nhưng cũng có thể phát sinh từ giai đoạn các bên đàm phán giao kết hợp đồng).

Ngoài ra, theo quy định chung về hợp đồng tại Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015, bồi thường thiệt hại là trách nhiệm pháp lý phát sinh do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng. Có thể thấy, nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng là loại nghĩa vụ do luật định, vì vậy, khi vi phạm nghĩa vụ này sẽ phát sinh trách nhiệm ngoài hợp đồng. Do đó, vi phạm nghĩa vụ này sẽ chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng khá lớn của hệ thống pháp luật Civil law nên quan điểm về bồi thường thiệt hại khi giao kết hợp đồng như nêu trên hoàn toàn dễ hiểu. Trên thực tế, các Tòa án khi giải quyết những vụ việc liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin cũng viện dẫn đến các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng[6]. Tuy nhiên, quy định hiện nay về bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng chưa thực sự rõ ràng, đầy đủ.

Như vậy, khi một bên tham gia giao kết hợp đồng do bị lừa dối thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó là vô hiệu. Tuy nhiên, Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 trực tiếp điều chỉnh hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin giao kết hợp đồng chỉ ghi nhận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà không quy định hợp đồng có vô hiệu hay không? Điều luật này có thể hiểu theo hướng, hành vi không cung cấp thông tin không vi phạm yếu tố tự nguyện trong xác lập giao dịch chỉ đặt ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Chính vì vậy, để phù hợp hơn với pháp luật các nước, Bộ luật Dân sự năm 2015 cần quy định rõ hơn theo hướng, không chỉ hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin trong hợp đồng mà cả hành vi vi phạm nghĩa vụ thông tin khi giao kết hợp đồng cũng có thể bị tuyên vô hiệu.

3.2. Quy định về trách nhiệm pháp lý khi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động

Theo điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động năm 2019, vi phạm nguyên tắc “tự nguyện, bình đẳng, thiện chí và trung thực” sẽ dẫn đến hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ. Có thể thấy, nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động gắn bó mật thiết và được xây dựng từ nguyên tắc thiện chí và trung thực. Vì vậy, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin có thể dẫn đến hậu quả pháp lý là hợp đồng lao động vô hiệu. Tuy nhiên, cùng là vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng nhưng theo quy định chung về hợp đồng tại Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì trách nhiệm pháp lý tương ứng là bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra, còn pháp luật lao động lại đặt ra trách nhiệm pháp lý là hợp đồng vô hiệu tương tự như nội dung của chế định giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối tại Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vậy, hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động mà gây ra thiệt hại cho bên còn lại thì có áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại giống như quy định tại Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 hay không, đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng? Mức bồi thường và cách xác định thiệt hại ra sao? Hơn nữa, Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019 về xử lý hợp đồng lao động vô hiệu mới chỉ dừng lại ở việc quy định rất khái quát: “… 2. Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động được giải quyết theo quy định của pháp luật; trường hợp do ký sai thẩm quyền thì hai bên ký lại; 3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”. Vậy, khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ, người lao động và người sử dụng lao động có ký lại hợp đồng lao động hay không? Nếu ký lại, quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động kể từ khi bắt đầu làm việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu cho đến khi hợp đồng lao động được ký lại xử lý như thế nào? Trường hợp hai bên không ký lại hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì xử lý hậu quả như thế nào[7]? Đây là những vấn đề mà nghị định của Chính phủ cần có hướng dẫn cụ thể hơn.

Trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động là một chủ đề không mới. Theo các quy định hiện hành, trách nhiệm pháp lý được áp dụng cho hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng là hợp đồng vô hiệu toàn bộ. Tuy nhiên, trong mối quan hệ với các quy đinh chung về hợp đồng đã đặt ra những vấn đề cần có hướng dẫn cụ thể hơn./.

TS. Đỗ Thị Hoa

Khoa Luật - Trường Đại học Thương mại

[1]. Nguyễn Thị Kiều Linh, “Nghĩa vụ tiền hợp đồng và điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi trong bối cảnh sửa đổi Bộ luật Dân sự”, Tạp chí Luật học, số đặc biệt, tháng 6/2015.

[2]. Lê Trường Sơn (2015), “Nghĩa vụ bảo mật thông tin có được trong giai đoạn tiền hợp đồng”, Tạp chí Khoa học pháp lý, tr. 26.

[3]. Nguyễn Như Phát, Lê Thị Thu Thủy (2003), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay”, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 22.

[4]. http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Trung_th%E1%BB%B1c, truy cập ngày 15/12/2023.

[5]. https://iluatsu.com/dan-su/he-qua-phap-ly-do-vi-pham-nghia-vu-cung-cap-thong-tin-tien-hop-dong/.

[6]. Đỗ Văn Đại (2007), “Nghĩa vụ thông tin trong pháp luật hợp đồng Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, tr. 36.

[7]. Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Văn Bình (2021), “Bình luận khoa học Bộ luật Lao động năm 2019”, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 147 - 148.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 400), tháng 3/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: