Thứ sáu 16/01/2026 01:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trao đổi văn bản trong hoạt động thi hành án dân sự

Trao đổi văn bản có vai trò quan trọng trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong hoạt động thi hành án dân sự, việc trao đổi văn bản giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cá nhân, tổ chức được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Bài viết này đề cập một số bất cập và đưa ra kiến nghị trong việc trao đổi văn bản giữa cơ quan thi hành án dân sự với đương sự và giữa cơ quan thi hành án dân sự với Tòa án.

Trao đổi văn bản có vai trò quan trọng trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong hoạt động thi hành án dân sự, việc trao đổi văn bản giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cá nhân, tổ chức được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Bài viết này đề cập một số bất cập và đưa ra kiến nghị trong việc trao đổi văn bản giữa cơ quan thi hành án dân sự với đương sự và giữa cơ quan thi hành án dân sự với Tòa án.

1. Một số bất cập trong hoạt động trao đổi văn bản

Trong hoạt động trao đổi văn bản giữa cơ quan thi hành án dân sự (THADS) với đương sự hoặc giữa cơ quan THADS với Tòa án được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Điều này tạo thuận lợi để các bên trong quá trình trao đổi văn bản được quyền lựa chọn hình thức phù hợp giúp việc truyền tải, tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ, rõ ràng, chính xác nhất. Tuy nhiên, quá trình thực hiện trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với đương sự hoặc giữa cơ quan THADS với Tòa án có một số bất cập như sau:

Thứ nhất, thông báo thi hành án

Trong quá trình THADS, cơ quan THADS thông báo cho đương sự các loại văn bản như quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án (khoản 1 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự)). Các hình thức thông báo này được thực hiện theo khoản 3 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự, bao gồm: Thông báo trực tiếp; qua cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật; niêm yết công khai; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 thì: “Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu được nhận thông báo bằng điện tín, fax, email hoặc hình thức khác thì việc thông báo trực tiếp có thể được thực hiện theo hình thức đó nếu không gây trở ngại cho cơ quan thi hành án dân sự”.

Sự đa dạng các hình thức thông báo như trên tạo thuận lợi cho cơ quan THADS và đương sự trong việc trao đổi, phối hợp thi hành án. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay, cơ quan THADS vẫn chủ yếu dựa vào các hình thức truyền thống như thông báo trực tiếp, niêm yết công khai, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng (các hình thức thông báo khác như điện tín, fax, email... có thể được thực hiện khi đương sự có yêu cầu). Điều này không bảo đảm tính kịp thời, tốn kém về thời gian, chi phí, nhân lực cho cơ quan THADS. Đồng thời, việc thực hiện thông báo bằng hình thức truyền thống như trên dẫn đến các thông báo của cơ quan THADS đến đương sự đôi khi chưa kịp thời, đầy đủ đã ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của đương sự (ví dụ, chấp hành viên chậm thông báo quyết định thi hành án đến người phải thi hành án dẫn đến việc kéo dài thời gian thi hành án; chấp hành viên thông báo không đầy đủ về tài sản, thu nhập của người phải thi hành án đã ảnh hưởng đến sự công khai, minh bạch trong quá trình thi hành án...).

Hoạt động tố tụng là một quá trình xuyên suốt từ khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện cho đến khi thi hành xong bản án/quyết định của Tòa án. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (các luật tố tụng) quy định phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng gồm các hình thức như sau: Trực tiếp, người thứ ba được ủy quyền, dịch vụ bưu chính, niêm yết công khai, phương tiện thông tin đại chúng và phương tiện điện tử (Điều 119 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 190 Luật Tố tụng hành chính năm 2015). Các phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được quy định trong các luật tố tụng có nội hàm tương tự như thông báo thi hành án trong Luật Thi hành án dân sự. Đối chiếu Luật Thi hành án dân sự với các luật tố tụng về các hình thức thông báo thì các luật tố tụng còn quy định thêm hình thức bằng phương tiện điện tử theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Chính vì vậy, việc quy định các hình thức thông báo như trên đối với đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong Luật Thi hành án dân sự dẫn đến sự cắt khúc, không liền mạch về các hình thức thông báo trong quá trình tố tụng. Đồng thời, việc này thể hiện sự chưa tương đồng giữa các quy định về hình thức thông báo giữa Luật Thi hành án dân sự với các luật tố tụng. Bên cạnh đó, Luật Thi hành án dân sự quy định “cứng” các hình thức thông báo thi hành án đã tạo ra sự bị động trong tổ chức thực hiện và thiếu không gian cần thiết để điều chỉnh kịp thời đối với các vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn.

Thứ hai, trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với Tòa án

Hoạt động trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với Tòa án được thực hiện dựa trên quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản pháp luật liên quan. Luật Thi hành án dân sự quy định các hình thức về trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với Tòa án như sau:

- Đối với thủ tục giao, nhận bản án/quyết định, Điều 29 Luật Thi hành án dân sự quy định: “Việc giao, nhận trực tiếp bản án, quyết định phải có chữ ký của hai bên; trường hợp nhận được bản án, quyết định và tài liệu có liên quan bằng đường bưu điện thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án, trọng tài thương mại đã chuyển giao biết”. Theo đó, trong hoạt động giao, nhận bản án/quyết định giữa Tòa án, trọng tài thương mại đối với cơ quan THADS thì được thực hiện bằng hình thức trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính.

- Đối với hoạt động trao đổi văn bản khác giữa cơ quan THADS và Tòa án như hoạt động giải thích bản án/quyết định; báo cáo kết quả thi hành bản án/quyết định; xác nhận tình trạng pháp lý của phán quyết trọng tài thương mại... thì Luật Thi hành án dân sự không quy định cụ thể hình thức trao đổi văn bản. Tuy nhiên, trong thực tiễn thì hoạt động trao đổi văn bản này được thực hiện tương tự như thủ tục giao, nhận bản án/quyết định, tức là thực hiện bằng hình thức trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính.

Các hình thức trao đổi văn bản như trên đã tạo thuận lợi cho cơ quan THADS, Tòa án, trọng tài thương mại trong việc lựa chọn hình thức trao đổi văn bản phù hợp nhất (dịch vụ bưu chính được thực hiện đối với các cơ quan ở xa nhau). Tuy nhiên, các hình thức trao đổi không bảo đảm tính kịp thời trong quá trình chuyển giao văn bản. Đồng thời, hình thức gây tốn kém về thời gian, chi phí, nhân lực cho các cơ quan trong việc chuyển giao văn bản, tài liệu. Bên cạnh đó, Luật Thi hành án dân sự quy định “cứng” các hình thức giao, nhận bản án/quyết định như trên đã tạo ra sự bị động, thiếu không gian điều chỉnh cần thiết, kịp thời trước sự thay đổi nhanh chóng và nhiều biến động như trong cuộc sống hiện nay.

Hiện nay, các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước, việc gửi, nhận văn bản điện tử đã được thực hiện thông qua Trục liên thông văn bản quốc gia (khoản 3 Điều 3, khoản 1 Điều 12 Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg ngày 12/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước). Việc gửi, nhận văn bản điện tử qua Trục liên thông văn bản quốc gia là do văn bản điện tử có giá trị pháp lý tương tự như bản gốc văn bản giấy (khoản 1 Điều 5 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư). Đối chiếu với hình thức trao đổi văn bản giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước, hình thức trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với Tòa án chưa được thực hiện bằng văn bản điện tử, chưa hình thành trục trao đổi văn bản liên thông giữa các cơ quan hoạt động tố tụng. Điều này dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong hoạt động cải cách hành chính với cải cách hành chính tư pháp.

2. Kiến nghị

Cơ quan THADS, Tòa án, đương sự là những chủ thể chính trong hoạt động THADS. Do đó, hoạt động trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với đương sự và giữa cơ quan THADS với Tòa án có vai trò rất quan trọng trong hoạt động THADS. Chính vì vậy, việc hoàn thiện các hình thức trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với đương sự và giữa cơ quan THADS với Tòa án giúp các chủ thể này tuân thủ nghiêm túc pháp luật về THADS, nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả trong quá trình thi hành án. Thông qua bài viết này, tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau:

Một là, đối với thông báo thi hành án

Hoàn thiện thông báo thi hành án nhằm nâng cao hoạt động trao đổi thông tin giữa cơ quan THADS với đương sự được thường xuyên, liên tục, bảo đảm sự tham gia đầy đủ, kịp thời của đương sự trong quá trình thi hành án. Trên cơ sở phân tích những hạn chế các hình thức thông báo thi hành án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu tiến hành hoàn thiện đơn yêu cầu thi hành án và nâng cao dịch vụ công trực tuyến trong hoạt động THADS, cụ thể:

- Đơn yêu cầu thi hành án cần bổ sung mục thông tin liên hệ như email, số điện thoại di động, số điện thoại cơ quan (trường hợp đương sự là tổ chức), fax, zalo... Việc bổ sung những thông tin liên hệ như trên tạo thuận lợi cho cơ quan THADS trong việc đa dạng hóa các hình thức thông báo đối với đương sự, giảm thủ tục hành chính trong việc bổ sung thông tin của đương sự cho cơ quan THADS. Đồng thời, các hình thức thông báo này bảo đảm tính nhanh chóng, kịp thời, thuận tiện trong việc tống đạt các văn bản, giấy tờ của cơ quan THADS đến đương sự. Bên cạnh đó, các hình thức thông báo này góp phần giảm thời gian, chi phí, nhân lực cho cơ quan THADS trong việc thông báo thi hành án cho đương sự.

- Dịch vụ công trực tuyến được xem là một trong những chỉ số đo lường quan trọng nhất trong phát triển Chính phủ điện tử khi lấy người dân làm trung tâm, là đối tượng phục vụ. Dịch vụ công trực tuyến đã và đang cung cấp đến mọi người dân, mọi lúc, mọi nơi, góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí, nhân lực. Đồng thời, dịch vụ công trực tuyến làm cho hoạt động của các cơ quan nhà nước được minh bạch, hiệu quả, góp phần phòng, chống tham nhũng, cải cách hành chính toàn diện. Chính vì vậy, thiết nghĩ, cơ quan có thẩm quyền cần nâng cao dịch vụ công trực tuyến hoạt động THADS hiện nay lên mức độ 3, 4. Theo đó, khi đương sự có thể nộp hồ sơ THADS thì trong quá trình giải quyết hồ sơ thi hành án, cơ quan THADS sẽ gửi thông báo thi hành án cho đương sự trên dịch vụ công trực tuyến này. Thông qua dịch vụ công trực tuyến, đương sự nhận thông báo thi hành án từ cơ quan THADS mọi lúc, mọi nơi miễn là có mạng internet. Bên cạnh đó, việc nhận thông báo thông qua dịch vụ công trực tuyến trong hoạt động THADS sẽ tạo tương đồng về hình thức nhận các văn bản tố tụng thông qua dịch vụ công trực tuyến của người khởi kiện trong quá trình khởi kiện tại Tòa án.

Thứ hai, trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với Tòa án

Hoàn thiện mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với Tòa án và hoạt động trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với cơ quan tố tụng nói chung, góp phần quan trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động THADS. Trên cơ sở phân tích những hạn chế các hình thức trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu tiến hành rà soát, loại bỏ quy định không phù hợp các quy định pháp luật về thủ tục trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với Tòa án nói riêng và giữa các cơ quan tố tụng nói chung. Bên cạnh đó, các cơ quan có thẩm quyền cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trao việc trao đổi văn bản. Nội dung cụ thể như sau:

- Xem xét bỏ thủ tục chuyển giao bản án, quyết định được quy định tại Điều 29 Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, thủ tục chuyển giao bản án, quyết định hoặc các hình thức trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với các cơ quan tố tụng sẽ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn nhằm tạo không gian điều chỉnh kịp thời, phù hợp với từng hoàn cảnh, môi trường cụ thể.

- Thực hiện trao đổi văn bản số trên Trục liên thông văn bản quốc gia. Hiện nay, văn bản điện tử đã có giá trị pháp lý như bản gốc văn bản giấy. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan tư pháp nói riêng thực hiện trao đổi bằng văn bản điện tử. Thiết nghĩ, các bản án/quyết định do Tòa án ban hành (hoặc phán quyết/quyết định do trọng tài thương mại ban hành) cũng cần “số hóa” thành văn bản điện tử. Đồng thời, cơ quan tố tụng cần xây dựng hạ tầng kỹ thuật công nghệ kết nối với Trục liên thông văn bản quốc gia nhằm bảo đảm cho việc gửi, nhận văn bản điện tử được thông suốt giữa các cơ quan tố tụng nói riêng và cơ quan nhà nước nói chung. Điều này sẽ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho cơ quan, tổ chức tham gia. Bên cạnh đó, việc giao, nhận văn bản điện tử thông qua Trục liên thông văn bản quốc gia giúp các cơ quan tố tụng trong việc kiểm soát văn bản, hồ sơ, tài liệu và nâng cao hiệu quả công việc.

ThS. Hà Xuân Dũng
Công ty Luật TNHH CNC Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: