Thứ năm 08/10/2026 08:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trao đổi văn bản trong hoạt động thi hành án dân sự

Trao đổi văn bản có vai trò quan trọng trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong hoạt động thi hành án dân sự, việc trao đổi văn bản giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cá nhân, tổ chức được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Bài viết này đề cập một số bất cập và đưa ra kiến nghị trong việc trao đổi văn bản giữa cơ quan thi hành án dân sự với đương sự và giữa cơ quan thi hành án dân sự với Tòa án.

Trao đổi văn bản có vai trò quan trọng trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong hoạt động thi hành án dân sự, việc trao đổi văn bản giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cá nhân, tổ chức được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Bài viết này đề cập một số bất cập và đưa ra kiến nghị trong việc trao đổi văn bản giữa cơ quan thi hành án dân sự với đương sự và giữa cơ quan thi hành án dân sự với Tòa án.

1. Một số bất cập trong hoạt động trao đổi văn bản

Trong hoạt động trao đổi văn bản giữa cơ quan thi hành án dân sự (THADS) với đương sự hoặc giữa cơ quan THADS với Tòa án được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Điều này tạo thuận lợi để các bên trong quá trình trao đổi văn bản được quyền lựa chọn hình thức phù hợp giúp việc truyền tải, tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ, rõ ràng, chính xác nhất. Tuy nhiên, quá trình thực hiện trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với đương sự hoặc giữa cơ quan THADS với Tòa án có một số bất cập như sau:

Thứ nhất, thông báo thi hành án

Trong quá trình THADS, cơ quan THADS thông báo cho đương sự các loại văn bản như quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án (khoản 1 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự)). Các hình thức thông báo này được thực hiện theo khoản 3 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự, bao gồm: Thông báo trực tiếp; qua cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật; niêm yết công khai; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 thì: “Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu được nhận thông báo bằng điện tín, fax, email hoặc hình thức khác thì việc thông báo trực tiếp có thể được thực hiện theo hình thức đó nếu không gây trở ngại cho cơ quan thi hành án dân sự”.

Sự đa dạng các hình thức thông báo như trên tạo thuận lợi cho cơ quan THADS và đương sự trong việc trao đổi, phối hợp thi hành án. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay, cơ quan THADS vẫn chủ yếu dựa vào các hình thức truyền thống như thông báo trực tiếp, niêm yết công khai, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng (các hình thức thông báo khác như điện tín, fax, email... có thể được thực hiện khi đương sự có yêu cầu). Điều này không bảo đảm tính kịp thời, tốn kém về thời gian, chi phí, nhân lực cho cơ quan THADS. Đồng thời, việc thực hiện thông báo bằng hình thức truyền thống như trên dẫn đến các thông báo của cơ quan THADS đến đương sự đôi khi chưa kịp thời, đầy đủ đã ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của đương sự (ví dụ, chấp hành viên chậm thông báo quyết định thi hành án đến người phải thi hành án dẫn đến việc kéo dài thời gian thi hành án; chấp hành viên thông báo không đầy đủ về tài sản, thu nhập của người phải thi hành án đã ảnh hưởng đến sự công khai, minh bạch trong quá trình thi hành án...).

Hoạt động tố tụng là một quá trình xuyên suốt từ khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện cho đến khi thi hành xong bản án/quyết định của Tòa án. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (các luật tố tụng) quy định phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng gồm các hình thức như sau: Trực tiếp, người thứ ba được ủy quyền, dịch vụ bưu chính, niêm yết công khai, phương tiện thông tin đại chúng và phương tiện điện tử (Điều 119 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 190 Luật Tố tụng hành chính năm 2015). Các phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được quy định trong các luật tố tụng có nội hàm tương tự như thông báo thi hành án trong Luật Thi hành án dân sự. Đối chiếu Luật Thi hành án dân sự với các luật tố tụng về các hình thức thông báo thì các luật tố tụng còn quy định thêm hình thức bằng phương tiện điện tử theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Chính vì vậy, việc quy định các hình thức thông báo như trên đối với đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong Luật Thi hành án dân sự dẫn đến sự cắt khúc, không liền mạch về các hình thức thông báo trong quá trình tố tụng. Đồng thời, việc này thể hiện sự chưa tương đồng giữa các quy định về hình thức thông báo giữa Luật Thi hành án dân sự với các luật tố tụng. Bên cạnh đó, Luật Thi hành án dân sự quy định “cứng” các hình thức thông báo thi hành án đã tạo ra sự bị động trong tổ chức thực hiện và thiếu không gian cần thiết để điều chỉnh kịp thời đối với các vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn.

Thứ hai, trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với Tòa án

Hoạt động trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với Tòa án được thực hiện dựa trên quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản pháp luật liên quan. Luật Thi hành án dân sự quy định các hình thức về trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với Tòa án như sau:

- Đối với thủ tục giao, nhận bản án/quyết định, Điều 29 Luật Thi hành án dân sự quy định: “Việc giao, nhận trực tiếp bản án, quyết định phải có chữ ký của hai bên; trường hợp nhận được bản án, quyết định và tài liệu có liên quan bằng đường bưu điện thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án, trọng tài thương mại đã chuyển giao biết”. Theo đó, trong hoạt động giao, nhận bản án/quyết định giữa Tòa án, trọng tài thương mại đối với cơ quan THADS thì được thực hiện bằng hình thức trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính.

- Đối với hoạt động trao đổi văn bản khác giữa cơ quan THADS và Tòa án như hoạt động giải thích bản án/quyết định; báo cáo kết quả thi hành bản án/quyết định; xác nhận tình trạng pháp lý của phán quyết trọng tài thương mại... thì Luật Thi hành án dân sự không quy định cụ thể hình thức trao đổi văn bản. Tuy nhiên, trong thực tiễn thì hoạt động trao đổi văn bản này được thực hiện tương tự như thủ tục giao, nhận bản án/quyết định, tức là thực hiện bằng hình thức trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính.

Các hình thức trao đổi văn bản như trên đã tạo thuận lợi cho cơ quan THADS, Tòa án, trọng tài thương mại trong việc lựa chọn hình thức trao đổi văn bản phù hợp nhất (dịch vụ bưu chính được thực hiện đối với các cơ quan ở xa nhau). Tuy nhiên, các hình thức trao đổi không bảo đảm tính kịp thời trong quá trình chuyển giao văn bản. Đồng thời, hình thức gây tốn kém về thời gian, chi phí, nhân lực cho các cơ quan trong việc chuyển giao văn bản, tài liệu. Bên cạnh đó, Luật Thi hành án dân sự quy định “cứng” các hình thức giao, nhận bản án/quyết định như trên đã tạo ra sự bị động, thiếu không gian điều chỉnh cần thiết, kịp thời trước sự thay đổi nhanh chóng và nhiều biến động như trong cuộc sống hiện nay.

Hiện nay, các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước, việc gửi, nhận văn bản điện tử đã được thực hiện thông qua Trục liên thông văn bản quốc gia (khoản 3 Điều 3, khoản 1 Điều 12 Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg ngày 12/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước). Việc gửi, nhận văn bản điện tử qua Trục liên thông văn bản quốc gia là do văn bản điện tử có giá trị pháp lý tương tự như bản gốc văn bản giấy (khoản 1 Điều 5 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư). Đối chiếu với hình thức trao đổi văn bản giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước, hình thức trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với Tòa án chưa được thực hiện bằng văn bản điện tử, chưa hình thành trục trao đổi văn bản liên thông giữa các cơ quan hoạt động tố tụng. Điều này dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong hoạt động cải cách hành chính với cải cách hành chính tư pháp.

2. Kiến nghị

Cơ quan THADS, Tòa án, đương sự là những chủ thể chính trong hoạt động THADS. Do đó, hoạt động trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với đương sự và giữa cơ quan THADS với Tòa án có vai trò rất quan trọng trong hoạt động THADS. Chính vì vậy, việc hoàn thiện các hình thức trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với đương sự và giữa cơ quan THADS với Tòa án giúp các chủ thể này tuân thủ nghiêm túc pháp luật về THADS, nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả trong quá trình thi hành án. Thông qua bài viết này, tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau:

Một là, đối với thông báo thi hành án

Hoàn thiện thông báo thi hành án nhằm nâng cao hoạt động trao đổi thông tin giữa cơ quan THADS với đương sự được thường xuyên, liên tục, bảo đảm sự tham gia đầy đủ, kịp thời của đương sự trong quá trình thi hành án. Trên cơ sở phân tích những hạn chế các hình thức thông báo thi hành án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu tiến hành hoàn thiện đơn yêu cầu thi hành án và nâng cao dịch vụ công trực tuyến trong hoạt động THADS, cụ thể:

- Đơn yêu cầu thi hành án cần bổ sung mục thông tin liên hệ như email, số điện thoại di động, số điện thoại cơ quan (trường hợp đương sự là tổ chức), fax, zalo... Việc bổ sung những thông tin liên hệ như trên tạo thuận lợi cho cơ quan THADS trong việc đa dạng hóa các hình thức thông báo đối với đương sự, giảm thủ tục hành chính trong việc bổ sung thông tin của đương sự cho cơ quan THADS. Đồng thời, các hình thức thông báo này bảo đảm tính nhanh chóng, kịp thời, thuận tiện trong việc tống đạt các văn bản, giấy tờ của cơ quan THADS đến đương sự. Bên cạnh đó, các hình thức thông báo này góp phần giảm thời gian, chi phí, nhân lực cho cơ quan THADS trong việc thông báo thi hành án cho đương sự.

- Dịch vụ công trực tuyến được xem là một trong những chỉ số đo lường quan trọng nhất trong phát triển Chính phủ điện tử khi lấy người dân làm trung tâm, là đối tượng phục vụ. Dịch vụ công trực tuyến đã và đang cung cấp đến mọi người dân, mọi lúc, mọi nơi, góp phần tiết kiệm thời gian, chi phí, nhân lực. Đồng thời, dịch vụ công trực tuyến làm cho hoạt động của các cơ quan nhà nước được minh bạch, hiệu quả, góp phần phòng, chống tham nhũng, cải cách hành chính toàn diện. Chính vì vậy, thiết nghĩ, cơ quan có thẩm quyền cần nâng cao dịch vụ công trực tuyến hoạt động THADS hiện nay lên mức độ 3, 4. Theo đó, khi đương sự có thể nộp hồ sơ THADS thì trong quá trình giải quyết hồ sơ thi hành án, cơ quan THADS sẽ gửi thông báo thi hành án cho đương sự trên dịch vụ công trực tuyến này. Thông qua dịch vụ công trực tuyến, đương sự nhận thông báo thi hành án từ cơ quan THADS mọi lúc, mọi nơi miễn là có mạng internet. Bên cạnh đó, việc nhận thông báo thông qua dịch vụ công trực tuyến trong hoạt động THADS sẽ tạo tương đồng về hình thức nhận các văn bản tố tụng thông qua dịch vụ công trực tuyến của người khởi kiện trong quá trình khởi kiện tại Tòa án.

Thứ hai, trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với Tòa án

Hoàn thiện mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với Tòa án và hoạt động trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với cơ quan tố tụng nói chung, góp phần quan trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động THADS. Trên cơ sở phân tích những hạn chế các hình thức trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu tiến hành rà soát, loại bỏ quy định không phù hợp các quy định pháp luật về thủ tục trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với Tòa án nói riêng và giữa các cơ quan tố tụng nói chung. Bên cạnh đó, các cơ quan có thẩm quyền cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trao việc trao đổi văn bản. Nội dung cụ thể như sau:

- Xem xét bỏ thủ tục chuyển giao bản án, quyết định được quy định tại Điều 29 Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, thủ tục chuyển giao bản án, quyết định hoặc các hình thức trao đổi văn bản giữa cơ quan THADS với các cơ quan tố tụng sẽ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn nhằm tạo không gian điều chỉnh kịp thời, phù hợp với từng hoàn cảnh, môi trường cụ thể.

- Thực hiện trao đổi văn bản số trên Trục liên thông văn bản quốc gia. Hiện nay, văn bản điện tử đã có giá trị pháp lý như bản gốc văn bản giấy. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan tư pháp nói riêng thực hiện trao đổi bằng văn bản điện tử. Thiết nghĩ, các bản án/quyết định do Tòa án ban hành (hoặc phán quyết/quyết định do trọng tài thương mại ban hành) cũng cần “số hóa” thành văn bản điện tử. Đồng thời, cơ quan tố tụng cần xây dựng hạ tầng kỹ thuật công nghệ kết nối với Trục liên thông văn bản quốc gia nhằm bảo đảm cho việc gửi, nhận văn bản điện tử được thông suốt giữa các cơ quan tố tụng nói riêng và cơ quan nhà nước nói chung. Điều này sẽ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho cơ quan, tổ chức tham gia. Bên cạnh đó, việc giao, nhận văn bản điện tử thông qua Trục liên thông văn bản quốc gia giúp các cơ quan tố tụng trong việc kiểm soát văn bản, hồ sơ, tài liệu và nâng cao hiệu quả công việc.

ThS. Hà Xuân Dũng
Công ty Luật TNHH CNC Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: