Thứ bảy 14/03/2026 06:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trao đổi về một số đặc thù của hoạt động thi hành án hành chính

Thi hành án hành chính là việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính được thi hành, trừ quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính.

Thi hành án hành chính là việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính được thi hành, trừ quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính. Xuất phát từ đặc trưng cơ bản của tranh chấp trong vụ án hành chính đã tạo nên những đặc thù của thi hành án hành chính, cụ thể như: Bên phải thi hành án là chủ thể mang quyền lực nhà nước với bên được thi hành án là tổ chức, cá nhân, công dân; đối tượng của thi hành án hành chính là các quyết định hành chính, hành vi hành chính và quá trình thi hành án hành chính thực chất là thực thi một hoạt động công vụ mà thường là ban hành một quyết định hành chính mới phù hợp; cơ chế thực hiện là cơ chế tự thi hành, chưa tạo ra tính bắt buộc đối với người phải thi hành án… Những đặc thù này sẽ có tác động tới kết quả của thi hành án hành chính, nhất là với cơ chế tự thi hành làm cho kết quả phụ thuộc nhiều vào nhận thức, ý thức trách nhiệm tự nguyện thi hành của chủ thể phải thi hành án. Với bài viết “Trao đổi về một số đặc thù của hoạt động thi hành án hành chính”, tác giả đi nghiên cứu, phân tích về khái niệm, đặc thù của thi hành án hành chính và tác động của nó tới kết quả của việc thi hành, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện cơ chế để kiểm soát quá trình tự thi hành án hành chính.

Thi hành án là hoạt động quan trọng của Nhà nước, có vai trò hiện thực hóa các bản án, quyết định về dân sự, hình sự, kinh tế, lao động, hành chính đã có hiệu lực của Tòa án; các quyết định của trọng tài và các chủ thể khác theo quy định của pháp luật, nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, công dân cũng như quyền và lợi ích của Nhà nước. Xuất phát từ đặc thù của các quan hệ tranh chấp được giải quyết, thi hành án được chia thành 03 lĩnh vực: Thi hành án dân sự, thi hành án hình sự và thi hành án hành chính. Trong bài viết này, chúng tôi xin được trao đổi một số đặc thù của hoạt động thi hành án hành chính và tác động của những đặc thù này đến kết quả thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án hành chính ở Việt Nam hiện nay.

1. Khái niệm về thi hành án hành chính

Để điều chỉnh hoạt động tố tụng hành chính và thi hành án hành chính ở Việt Nam, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua, ban hành ba văn bản pháp lý quan trọng, đầu tiên là Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, tiếp đó là Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và hiện nay là Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Các văn bản này ngoài việc quy định cụ thể về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án hành chính còn có những quy định điều chỉnh hoạt động thi hành án hành chính. Tuy nhiên, cả ba văn bản này đều không định nghĩa, giải thích về khái niệm thi hành án hành chính. Hiện nay, Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án (Nghị định số 71/2016/NĐ-CP) có quy định giải thích: “Thi hành án hành chính là việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính được thi hành quy định tại Điều 309 Luật Tố tụng hành chính, trừ quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính” (khoản 1 Điều 3).

Phân tích định nghĩa nêu trên, theo Từ điển tiếng Việt, “thi hành” có nghĩa là làm cho thành hiện thực điều đã được chính thức quyết định[1], theo đó, thi hành án hành chính được hiểu là việc đưa các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án về vụ án hành chính ra thi hành trên thực tế. Song, không phải mọi phán quyết trong bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính được đưa ra thi hành đều được phân loại là thi hành án hành chính. Cụ thể, việc thi hành những phán quyết về tài sản trong bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính (như án phí, bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản, giao lại đất đai được tuyên cụ thể trong bản án, quyết định của Tòa án[2]) được phân loại là thi hành án dân sự và do Luật Thi hành án dân sự điều chỉnh.

Việc xác định rõ nội hàm của khái niệm thi hành án hành chính có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn pháp luật áp dụng khi tổ chức thi hành các nội dung phán quyết trong bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính. Trong bài viết này, chúng tôi tiếp cận khái niệm thi hành án hành chính theo quy định hiện hành của pháp luật (không bao gồm việc thi hành các phán quyết về tài sản trong bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính).

2. Đặc thù của thi hành án hành chính

Thi hành án hành chính là một dạng thi hành án cụ thể, do đó, nó mang đầy đủ đặc điểm của thi hành án nói chung, đó là hoạt động diễn ra sau quá trình xét xử, giải quyết của Tòa án; bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án và nó là hoạt động mang tính hành chính - tư pháp... Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù quan hệ tranh chấp trong vụ án hành chính là quan hệ giữa một bên là cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức và người được Nhà nước giao quyền thực thi công vụ với một bên là tổ chức, cá nhân, công dân chịu sự tác động của quyết định hành chính, hành vi hành chính do cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, người được Nhà nước giao quyền thực thi công vụ ban hành/thực hiện, vì vậy, việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính có những đặc thù riêng so với các hoạt động thi hành án khác (những đặc thù này của thi hành án hành chính được đúc rút từ hoạt động theo dõi, quản lý nhà nước về thi hành án hành chính), cụ thể:

Một là, một bên trong quan hệ thi hành án hành chính luôn là chủ thể mang quyền lực nhà nước trong mối quan hệ với bên còn lại là các tổ chức, cá nhân, công dân. Đặc thù này xuất phát từ tranh chấp trong vụ án hành chính là sự không đồng tình của tổ chức, cá nhân, công dân đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức và người được Nhà nước giao quyền thực thi công vụ. Quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án có thẩm quyền xem xét về tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện[3]. Trường hợp quyết định hành chính, hành vi hành chính được cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, người được Nhà nước giao quyền thực thi công vụ ban hành/thực hiện trái pháp luật, Tòa án sẽ tuyên hủy quyết định hành chính trái pháp luật hoặc tuyên trái pháp luật đối với hành vi hành chính, đồng thời buộc chủ thể đã ban hành/thực hiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc nhất định (thường là ban hành quyết định hành chính mới theo đúng quy định của pháp luật) nhằm khôi phục, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, công dân. Trong quan hệ thi hành án hành chính này, bên phải thi hành án là chủ thể mang quyền lực nhà nước. Đặc thù này cho thấy, suy cho đến cùng, quan hệ thi hành án hành chính vẫn là một quan hệ quản lý hành chính nhà nước và vì vậy, nó tồn tại sự bất bình đẳng trên thực tế giữa người phải thi hành án và người được thi hành án. Theo đó, bên phải thi hành án là bên mang quyền lực nhà nước thường có xu hướng gây khó khăn cho bên được thi hành án, thậm chí vi phạm, không chấp hành, chấp hành không nghiêm, không kịp thời các phán quyết của Tòa án.

Hai là, đối tượng của thi hành án hành chính có khác biệt so với thi hành án dân sự, thi hành án hình sự. Trong thi hành án dân sự, đối tượng của thi hành án là các quyết định dân sự (theo nghĩa rộng) mang tính chất tài sản và nhân thân. Trong thi hành án hình sự, đối tượng của thi hành án là hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Trong khi đó, đối tượng của thi hành án hành chính là các quyết định hành chính, hành vi hành chính do cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức, người được Nhà nước giao quyền thực thi công vụ ban hành/thực hiện. Quá trình thi hành án hành chính thực chất là quá trình các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức phải thực thi một hoạt động công vụ cụ thể theo phán quyết của Tòa án (thường là ban hành một quyết định hành chính mới), phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, công dân là bên được thi hành án. Do pháp luật quản lý hành chính nhà nước phân cấp rõ thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước và phán quyết của Tòa án cũng phải trên cơ sở các quy định phân cấp thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước, vì vậy, hành vi thi hành án hành chính là hành vi không thể thay thế, có nghĩa là đích thân người phải thi hành án mới có thẩm quyền thực hiện. Đặc thù này lý giải vì sao cơ chế thi hành án hành chính theo pháp luật hiện hành là cơ chế “tự thi hành”.

Ba là, cơ chế thi hành án hành chính chưa tạo ra tính “bắt buộc” đối với người phải thi hành án. Nếu như thi hành án dân sự, thi hành án hình sự, pháp luật quy định cơ chế một chủ thể thứ ba (cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự) được Nhà nước giao trách nhiệm tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực thi hành, thì thi hành án hành chính được thực hiện theo cơ chế “tự thi hành” của người phải thi hành án. Theo đó, người phải thi hành án có trách nhiệm (tự mình) nghiêm chỉnh chấp hành các nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án.

Hiện nay, pháp luật thi hành án hành chính hiện hành cũng đã quy định những cơ chế tác động của chủ thể thứ ba đối với quá trình thi hành án hành chính của bên phải thi hành án, như: Cơ chế Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ra quyết định buộc thi hành án hành chính trong trường hợp người phải thi hành án vi phạm nghĩa vụ tự nguyện thi hành án; cơ chế cơ quan thi hành án dân sự theo dõi việc thi hành án hành chính của bên phải thi hành án; cơ chế Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính; cơ chế thủ trưởng trực tiếp, thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án có trách nhiệm chỉ đạo, đôn đốc người phải thi hành án chấp hành án và xử lý trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý có hành vi chậm thi hành án, không chấp hành hoặc chấp hành không đúng bản án, quyết định của Tòa án. Song, những cơ chế tác động này chỉ dừng lại ở việc tạo “sức ép” để bên phải thi hành án nghiêm chỉnh thi hành bản án, quyết định của Tòa án mà không có ý nghĩa “bắt buộc” người phải thi hành án thực hiện nghiêm phán quyết của Tòa án như trong lĩnh vực thi hành án hình sự, thi hành án hành chính.

Bốn là, thi hành án hành chính có tính phức tạp đặc biệt. Thi hành án nói chung là hoạt động phức tạp, song, hoạt động thi hành án hành chính có tính phức tạp đặc biệt hơn so với hoạt động thi hành án hình sự và thi hành án dân sự. Điều này xuất phát từ tính chất phức tạp của hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nó không chỉ đa dạng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội mà còn phức tạp ở nội dung các vấn đề cần giải quyết trong vụ việc tranh chấp. Thực tế theo dõi công tác thi hành án hành chính trên phạm vi cả nước cho thấy, trên 90% các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính phải thi hành thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai, đây là lĩnh vực hết sức phức tạp, thường các vụ việc đã kéo dài rất nhiều năm, qua nhiều cấp, nhiều ngành giải quyết. Việc thi hành một bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính trong lĩnh vực này còn có thể gây tác động dây chuyền làm phát sinh nhiều vụ án hành chính tương tự khác (liên quan đến các quyết định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bị khởi kiện trong các dự án Nhà nước thu hồi đất). Đặc thù này đòi hỏi để nâng cao hiệu quả thi hành án hành chính, ngoài việc nghiên cứu hoàn thiện cơ chế thi hành án hành chính thì việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai là hết sức cần thiết.

3. Tác động của những đặc thù của thi hành án hành chính đối với kết quả thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính

Điều 106 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Nguyên tắc Hiến định này đòi hỏi mọi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực phải được thực thi trên thực tế. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành án nói chung, trong đó có thi hành án hành chính nói riêng cho thấy, không phải mọi phán quyết có hiệu lực pháp luật của Tòa án đều được chấp hành nghiêm túc, kịp thời (tổng hợp kết quả thi hành án hành chính trên phạm vi cả nước theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015 trong 03 năm 2017, 2018, 2019 cho thấy: Số bản án, quyết định đã thi hành xong chỉ đạt tỷ lệ 68%, số chưa thi hành xong chiếm tỷ lệ 32%[4]). Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan tác động đến kết quả thi hành án này, trong đó có nguyên nhân từ những đặc thù của thi hành án hành chính, cụ thể:

3.1. Chủ thể có nghĩa vụ thi hành án hành chính là cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước mang quyền lực nhà nước trong mối quan hệ với bên được thi hành án là các tổ chức, cá nhân, công dân, do đó, thực tế bên phải thi hành án thường có xu hướng gây khó khăn cho bên được thi hành án, thậm chí không chấp hành, chấp hành không nghiêm, không kịp thời các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, công dân.

3.2. Đối tượng của thi hành án hành chính là các quyết định hành chính, hành vi hành chính, vì vậy, quá trình thi hành án hành chính không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật thi hành án hành chính mà còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật quản lý hành chính nhà nước trong ngành, lĩnh vực phát sinh tranh chấp. Đặc thù này làm cho quá trình kiểm soát tiến độ thi hành án hành chính của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức trên thực tế gặp không ít khó khăn, do thi hành án hành chính phát sinh ở nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau; mỗi ngành, lĩnh vực, mỗi nhiệm vụ công vụ lại có một quy trình thực hiện riêng do pháp luật quản lý hành chính thuộc ngành, lĩnh vực đó điều chỉnh. Vì vậy, trên thực tế, các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức là bên phải thi hành án thường dựa vào tính phức tạp, thậm chí không rõ thời hạn trong các quy định pháp luật quản lý chuyên ngành để “bao biện” quá trình thi hành án đang được thực hiện. Điều này làm ảnh hưởng đến kết quả thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính.

3.3. Với cơ chế “tự thi hành” trong án hành chính làm cho kết quả thi hành án hành chính phụ thuộc nhiều vào nhận thức, ý thức trách nhiệm tự nguyện thi hành của các cơ quan, tổ chức phải thi hành án hành chính. Trong khi đó, hiện nay, nhận thức về trách nhiệm chấp hành án của người phải thi hành án (thường là các cơ quan nhà nước) trong các bản án, quyết định về vụ án hành chính vẫn còn hạn chế, chưa kể tới việc không phải lúc nào cơ quan ban hành quyết định hành chính, có hành vi hành chính trái pháp luật cũng đồng ý với kết quả xét xử của Tòa án và trong thực tế, các chủ thể này luôn có xu hướng bảo vệ quyết định hành chính, hành vi hành chính mà mình đã ban hành/thực hiện. Khi người phải thi hành án cố tình không chấp hành án thì việc thi hành án trở nên khó khăn và kéo dài.

4. Kiến nghị

Từ những đặc thù của thi hành án hành chính và tác động của những đặc thù này đến kết quả thi hành án hành chính, chúng tôi thấy rằng: Cơ chế “tự thi hành” trong hoạt động thi hành án hành chính là cơ chế phù hợp với đặc thù về chủ thể và đối tượng của thi hành án hành chính, do đó, cần tiếp tục duy trì cơ chế này trong hoạt động thi hành án hành chính. Tuy nhiên, cần thiết phải có cơ chế để kiểm soát quá trình tự thi hành án hành chính của người phải thi hành án ngay trong bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính. Cụ thể:

Thứ nhất, pháp luật tố tụng hành chính cần quy định rõ trách nhiệm của hội đồng xét xử vụ án hành chính trong việc tuyên rõ, cụ thể nhiệm vụ, công vụ mà cơ quan, cán bộ, công chức phải thực hiện và thời hạn cụ thể phải hoàn thành nhiệm vụ, công vụ đó. Quy định như vậy sẽ khắc phục được tình trạng nhiều bản án, quyết định của Tòa án hiện nay chỉ tuyên chung chung theo hướng cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật mà không xác định rõ nhiệm vụ, công vụ phải thực hiện đó là gì và đặc biệt không xác định rõ thời hạn phải thực hiện xong nhiệm vụ, công vụ, điều này làm cho các cơ chế kiểm soát tiến độ thi hành án hành chính của các cơ quan thứ ba như cơ quan thi hành án án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân và thủ trưởng cơ quan cấp trên của người phải thi hành án hiện nay gặp khó khăn khi các cơ quan, cán bộ, công chức phải thi hành án “chây ì” trong thi hành án.

Thứ hai, bên cạnh các chế tài bảo đảm thi hành án hành chính đã được pháp luật hiện hành quy định (như chế tài kỷ luật đã được quy định tại Nghị định số 71/2016/NĐ-CP), pháp luật thi hành án hành chính cần nghiên cứu quy định bổ sung biện pháp phạt tiền trong thi hành án hành chính. Cụ thể, biện pháp này cần được Tòa án quyết định ngay trong bản án hành chính hoặc trong quyết định buộc thi hành án hành chính nhằm ngăn chặn việc không thi hành án của bên phải thi hành án và là chế tài áp dụng khi các chủ thể này vi phạm nghĩa vụ thi hành án hành chính. Số tiền phạt này cần được lấy từ nguồn tiết kiệm chi quản lý hành chính nhà nước của cơ quan, đơn vị phải thi hành án hành chính.

Thứ ba, song song với việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật thi hành án hành chính, pháp luật quản lý hành chính nhà nước trong các ngành, lĩnh vực cũng cần được nghiên cứu, hoàn thiện, bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật trong quá trình thi hành án hành chính của các cơ quan nhà nước được dễ dàng và không gặp phải vướng mắc vì thực chất của quá trình thi hành án hành chính là quá trình người phải thi hành án ban hành/thực hiện một quyết định hành chính, hành vi hành chính mới trên cơ sở quy định của pháp luật quản lý hành chính nhà nước theo ngành, lĩnh vực phát sinh vụ án hành chính.

ThS. Nguyễn Thị Hoàng Giang

ThS. Nguyễn Thị Kim Quy

Tổng cục Thi hành án dân sự





[1]. Xem: Trung tâm Từ điển học (1994), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 903.

[2]. Xem: Khoản 4 Điều 1 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 của liên ngành Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự.

[3]. Xem: Khoản 1 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

[4]. Báo cáo số 439/BC-CP ngày 14/10/2017 của Chính phủ về công tác thi hành án năm 2017; Báo cáo số 19/BC-CP ngày 09/10/2018 của Chính phủ về công tác thi hành án năm 2018; Báo cáo số 486/BC-CP ngày 14/10/2019 của Chính phủ về công tác thi hành án năm 2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: