Thứ tư 04/03/2026 06:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Từ quyền bí mật đời tư đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Bộ luật Dân sự còn quy định việc đảm bảo bí mật riêng tư của cá nhân, gia đình trong trường hợp có những chủ thể khác được quyền tiếp cận do gắn liền với các hợp đồng. Thông thường, ở đây tồn tại một cam kết giữ bí mật giữa hai bên, bên được cung cấp thông tin cần phải giữ kín những thông tin tiếp nhận được từ chủ sở hữu thông tin trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng.

1. Thực trạng quy định pháp luật về quyền bí mật đời tư nay là quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
1.1. Nội dung pháp luật điều chỉnh quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
Theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể xác định nội dung pháp luật điều chỉnh quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình như sau:

Thứ nhất, cá nhân có quyền bất khả xâm phạm đối với các thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
Bí mật cá nhân, bí mật gia đình là những thông tin về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan đến cá nhân, đến gia đình trong quá khứ cũng như trong hiện tại, những thông tin đó được pháp luật bảo vệ và được bảo mật bằng những biện pháp mà pháp luật thừa nhận. Đời sống riêng tư là khái niệm rộng, bao gồm những suy nghĩ, hành động, những sự việc, quan hệ liên quan đến cá nhân mà cá nhân giữ cho riêng mình, những vấn đề thuộc về đời sống riêng tư tuy không phải là các bí mật nhưng vẫn được pháp luật bảo hộ. Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã nhấn mạnh về các quyền nhân thân này (đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình), yêu cầu sự tuyệt đối tôn trọng (bất khả xâm phạm) và được pháp luật bảo vệ. Khi có hành vi xâm phạm, cá nhân có quyền áp dụng các phương thức do pháp luật quy định để bảo vệ quyền lợi của mình.

Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được bản thân cá nhân đó đồng ý, tương tự, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên của gia đình đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, những hành vi thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình nhưng không được phép của chủ sở hữu thông tin sẽ bị coi là hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Chẳng hạn như, hành vi sử dụng phương tiện điện tử để quay phim, chụp ảnh, ghi âm lại cuộc nói chuyện, xâm nhập, sao chụp các vật phẩm chứa đựng thông tin cá nhân, chiếm đoạt kỷ vật cá nhân, xem hồ sơ bệnh án của cá nhân mà mình không có thẩm quyền xem hoặc những hành vi tự ý lưu giữ, sao chép các thông tin bí mật đời tư của người khác, mua bán, trao đổi những thông tin về đời tư người khác một cách trái phép; hành vi tiết lộ thông tin mà mình đã thu thập được hoặc đang có quyền quản lý, lưu trữ các thông tin đó cho người khác những người không được phép thu thập, tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật, thậm chí công bố chúng trên các phương tiện thông tin đại chúng như tivi, báo, mạng internet... Có thể nói, quy định này hướng tới việc tôn trọng đời sống riêng tư của mỗi cá nhân, mỗi gia đình trong xã hội, cá nhân và gia đình có quyền công bố hoặc không công bố các thông tin liên quan đến sự riêng tư của họ, khi họ không công bố - điều đó có nghĩa là các thông tin này được coi là “bí mật”.

Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự còn quy định việc đảm bảo bí mật riêng tư của cá nhân, gia đình trong trường hợp có những chủ thể khác được quyền tiếp cận do gắn liền với các hợp đồng. Thông thường, ở đây tồn tại một cam kết giữ bí mật giữa hai bên, bên được cung cấp thông tin cần phải giữ kín những thông tin tiếp nhận được từ chủ sở hữu thông tin trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng.

Thứ hai, cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật đối với thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của mình

Khi xã hội ngày càng phát triển, việc trao đổi thông tin được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau. Thư tín, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân là một trong những phương tiện truyền tải hoặc lưu giữ thông tin liên lạc giữa cá nhân với những người khác. Những thông tin được chuyển tải có thể chứa đựng bí mật đời tư của cá nhân hoặc những bí mật gia đình, có thể là những lời hỏi thăm mang tính chất tình cảm, công việc hoặc bất kỳ nội dung nào khác, tuy nhiên dù thế nào cũng không thể bị người khác tự tiện xâm phạm. Đó là quyền tự do dân chủ chính đáng của mọi công dân, bảo đảm cho sinh hoạt xã hội an toàn một cách cần thiết.

Hành vi xâm phạm bí mật đời tư liên quan đến thư tín, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân bao gồm các hành vi: Thu thập, công bố thông tin được truyền tải, ngăn cản hoặc làm gián đoạn sự truyền tải thông tin, tiêu hủy thông tin. Ví dụ như, hành vi tự ý bóc mở, tráo đổi thư, bưu kiện, bưu phẩm của cá nhân; đọc, nghe trộm, thu trộm thông tin trên mạng viễn thông, trộm cắp, sử dụng trái phép mật khẩu, khóa mật mã và thông tin riêng của cá nhân khác; tiếp theo hành vi thu thập thông tin trái phép, chủ thể tiếp cận thông tin đã công khai tiết lộ nội dung thông tin cho chủ thể khác hoặc hành vi làm nhiễu sóng, dùng thiết bị vô hiệu hóa các phương tiện thông tin, phát tán virus để phá hoại thông tin liên lạc thông qua các phương tiện điện tử; hành vi chiếm đoạt, làm mất, tiêu hủy thư tín, điện tín của cá nhân... Những hành vi trên đây có thể được thực hiện với bất cứ động cơ, mục đích gì tuy nhiên vẫn được xác định là hành vi xâm phạm quyền riêng tư, quyền bí mật đời tư của cá nhân.

Để đảm bảo sự tương thích trong các văn bản pháp luật, ngoài Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, trong Luật Bưu chính, Luật Viễn thông cũng ghi nhận nguyên tắc bảo mật là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của hoạt động bưu chính, viễn thông. Những hành vi xâm phạm nguyên tắc này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, chịu trách nhiệm dân sự hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, cần lưu ý việc bóc mở, kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân vẫn có thể diễn ra trong trường hợp luật định như nhằm bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia, đảm bảo giữ gìn an ninh trật tự...

1.2. Điểm tiến bộ và hạn chế trong quy định pháp luật điều chỉnh quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

1.2.1. Điểm tiến bộ

Như đã chỉ ra ở trên, tên điều luật đã được sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới, theo hướng mở rộng và cụ thể hơn so với quyền bí mật đời tư, trên cơ sở đó nội dung được quy định tại các điều khoản cũng có nhiều thay đổi.

Thứ nhất, Bộ luật Dân sự năm 2005 khẳng định, quyền bí mật đời tư của cá nhân “được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”, nhưng với Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyền đó không chỉ là được tôn trọng mà còn là quyền “bất khả xâm phạm” - tức là yêu cầu một sự tuyệt đối tôn trọng và đương nhiên nếu có hành vi xâm phạm thì pháp luật sẽ phải bảo vệ. Tính chất bảo hộ, đảm bảo thực hiện cũng đã được nâng cao hơn. Về mặt câu chữ, không khó để nhận ra thuật ngữ “bất khả xâm phạm” có ý nghĩa mạnh mẽ hơn so với thuật ngữ “được tôn trọng”. Việc sửa đổi từ ngữ cho thấy sự rõ ràng, rành mạch trong tư duy của các nhà làm luật khi khẳng định không ai được quyền xâm phạm đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người khác. Tất nhiên để có thể đảm bảo thực hiện quyền bất khả xâm phạm này của cá nhân cũng cần phải có các chế tài phù hợp để những quyền này được thực hiện trên thực tế.

Thứ hai, khoản 2 Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bổ sung thêm 02 hành vi được coi là xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Nếu trước đây chỉ giới hạn ở việc thu thập và công bố thông tin liên quan đến bí mật đời tư thì nay luật quy định ngoài thu thập, công khai (tiết lộ thông tin) còn có lưu giữ, sử dụng thông tin mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu thông tin. Điều này góp phần làm rõ, chi tiết hơn phạm vi của các hành vi xâm phạm, hỗ trợ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Tòa án trong quá trình giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

Thứ ba, ghi nhận “bí mật gia đình” bên cạnh bí mật đời tư của cá nhân. Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau...”. Mỗi cá nhân đều là thành viên của gia đình nào đó nên có những thông tin không phải chỉ là bí mật riêng tư hoặc thuộc đời sống riêng tư của riêng cá nhân mà còn là của chung các thành viên trong cùng một gia đình. Chính vì vậy, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên của gia đình đồng ý. Quy định như vậy rất hợp lý vì nếu chỉ bảo vệ quyền riêng tư cá nhân thì sẽ dẫn đến quyền riêng tư của gia đình bị bỏ ngỏ và sẽ thật khập khiễng nếu chỉ bảo vệ những thông tin riêng tư, bí mật của cá nhân mà không bảo vệ những thông tin về đời sống, bí mật gia đình.

Thứ tư, tại khoản 3 Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015, thay thế “các hình thức thông tin điện tử khác” bằng cụm từ “cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác”. Đây là quy định kịp thời, phù hợp với thực trạng của xã hội, với sự phát triển của công nghệ thông tin, có thêm căn cứ để Nhà nước có thể xử lý các vụ việc xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình thông qua cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.

Thứ năm, một điểm mới đáng lưu ý tại khoản 4 Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 đó là quy định về việc đảm bảo bí mật riêng tư của cá nhân, gia đình trong trường hợp các bên trong hợp đồng đã biết được thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đối phương trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng nhưng không được phép tiết lộ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Có thể nói quy định này siết chặt hơn quy chế bảo mật thông tin của khách hàng, đối tác vẫn lỏng lẻo lâu nay của chúng ta, ngăn chặn các hành vi lạm dụng lòng tin của nhau trong quan hệ hợp đồng để nhằm mục đích trục lợi gây thiệt hại về danh dự, uy tín của cá nhân là chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng.

Từ những phân tích trên cho thấy, Nhà nước đã có sự quan tâm sâu sắc hơn đến quyền bí mật đời tư của cá nhân, Bộ luật Dân sự mới bên cạnh tính kế thừa đã có những quy định chặt chẽ, nâng cao và mở rộng hơn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

1.2.3. Điểm hạn chế

Dù đã sửa đổi, bổ sung theo hướng tiếp cận mới, tuy nhiên việc hiểu và áp dụng những quy định đó trong thực tế vẫn còn những hạn chế nhất định như:

Thứ nhất, trong luật chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”.

Trước đây cũng chưa hề có một quy định rõ ràng như thế nào là “bí mật đời tư”. Trong luật chỉ ghi nhận về quyền bí mật đời tư, coi đó là quyền mà các chủ thể có liên quan, được xác định phải tôn trọng, mặc dù trên thực tế “bí mật đời tư” được đề cập khá nhiều trong các văn bản pháp luật cũng như các văn bản áp dụng, hướng dẫn thi hành pháp luật của Nhà nước. Đây cũng chính là một trong những khó khăn mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền gặp phải khi áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp liên quan bí mật đời tư hoặc xử lý những hành vi xâm phạm bí mật đời tư. Bởi lẽ, quyền bí mật đời tư được xây dựng trên khái niệm bí mật đời tư. Muốn xác định được phạm vi của quyền bí mật đời tư đòi hỏi chúng ta phải xác định được khái niệm về bí mật đời tư. Tình trạng tương tự có thể diễn ra khi chưa có khái niệm nào về “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”.

Thứ hai, những quy định đặt ra còn khá chung chung, chưa xác định rõ giới hạn và cách nhận diện những thông tin như thế nào sẽ thuộc vào phạm vi “bất khả xâm phạm”

Phạm vi đời sống riêng tư của một cá nhân được xác định ra sao? Những dạng thông tin như thế nào được coi là bí mật cá nhân, bí mật gia đình bất khả xâm phạm nhất là đối với những cá nhân, những gia đình thường xuyên xuất hiện trước công chúng và được nhiều người biết đến? Có sự khác nhau về quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình giữa người bị tạm giữ, khởi tố về hình sự với người đã bị kết án không? Việc thu thập, lưu trữ, sử dụng, công bố thông tin riêng, nhận dạng cá nhân được thực hiện thế nào? Những câu hỏi này đều là các vấn đề có thể gây tranh cãi khó đi đến hồi kết, nếu không được luật hóa bằng các quy định cụ thể.

Quy định không rõ ràng sẽ dẫn đến cách hiểu khác nhau, cùng với sự tùy tiện trong quá trình thực thi pháp luật có thể khiến rất nhiều trường hợp chính hoạt động của cơ quan nhà nước (cơ quan điều tra, Tòa án) và của báo chí lại trở thành “chủ thể” của hành vi xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Dưới góc độ này, quy định của luật chưa thực sự mang lại ý nghĩa thiết thực.

Thứ ba, Bộ luật Dân sự quy định chưa đầy đủ các hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến việc bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Quy định về các hành vi bị nghiêm cấm là để nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Trong bối cảnh phát triển công nghệ thông tin hiện đại, bất cứ ai cũng có thể trở thành nạn nhân. Sự phổ biến của internet khiến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của cá nhân có thể bị lan truyền, phát tán với tốc độ cực nhanh chỉ sau một cú nhấp chuột, không chỉ giới hạn ở Việt Nam mà còn trên phạm vi thế giới, hệ quả là gây ra những thiệt hại nặng nề, ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống, công việc, danh dự, nhân phẩm của người trong cuộc. Chính vì thế, càng quy định chặt chẽ, rõ ràng và đầy đủ những hành vi bị nghiêm cấm thì Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền càng có cơ sở để áp dụng hậu quả pháp lý bất lợi đối với những chủ thể thực hiện hành vi này, từ đó quyền và lợi ích của cá nhân có thể được đảm bảo đầy đủ và chính xác hơn.

Các hành vi bị cấm liên quan đến việc xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình đã được mở rộng so với trước đây, bao gồm: Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân mà không được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình mà không được các thành viên gia đình đồng ý. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, các hành vi bị cấm do pháp luật quy định vẫn chưa đầy đủ, bởi lẽ bên cạnh những hành vi này còn có hành vi tiêu hủy, làm mất thông tin của cá nhân cũng có thể xếp vào nhóm hành vi xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và cần phải được nghiêm cấm. Tiêu hủy thông tin là hành vi cố ý của một chủ thể nhằm làm cho thông tin đó không còn tồn tại trên thực tế, làm mất thông tin là hành vi được thực hiện với lỗi vô ý của chủ thể làm cho thông tin đó không còn tồn tại, ngoài sự kiểm soát của chủ sở hữu thông tin. Như vậy, thay vì bí mật đó bị chiếm đoạt (thu thập) hoặc công khai cho người khác biết thì chủ thể xâm phạm đã cố ý hoặc vô ý làm cho bí mật không còn tồn tại (tiêu hủy, làm mất), điều này gây hậu quả đôi khi không hề nhỏ bởi trong nhiều trường hợp vật chứa đựng thông tin đó chỉ có duy nhất một bản, một vật.

Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự cũng có quy định liên quan đến “giới hạn” của quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình - đó là có thể thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin về đời tư của cá nhân trong trường hợp luật có quy định khác, không cần tới sự đồng ý của chủ sở hữu thông tin.

Thứ tư, luật chưa tính đến những trường hợp có thể làm ảnh hưởng tới quvền lợi của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý trừ trường hợp theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, đây cũng là vấn đề cần chú ý khi sửa đổi Bộ luật Dân sự về quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

Có thể nói, chưa bao giờ nguy cơ xâm phạm về quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình lại cao như hiện nay, chính vì vậy, nếu không làm rõ được khái niệm “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”, nếu không chỉ rõ được ranh giới giữa an toàn và vi phạm thì “đời sống riêng tư”, “bí mật cá nhân”, “bí mật gia đình” khó có thể được bảo đảm và bảo vệ một cách hiệu quả.

2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ sự riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong đời sống hiện đại

Hoàn thiện các quy định pháp luậ tnhằm bảo vệ sự riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là một trong những vấn đề trọng tâm khi xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật dân sự nói riêng. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này bao gồm:

2.1. Sửa đổi quy định của Bộ luật Dân sự điều chỉnh quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Hiện nay, “quyền bí mật đời tư” đã được sửa đổi thành “quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”. Tuy nhiên, quy định này vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định, có ảnh hưởng rất lớn đến việc áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Để có cơ sở pháp lý hoàn chỉnh, chính xác, khách quan và thống nhất trong việc áp dụng pháp luật để xác định, xử lý các hành vi xâm phạm cần phải sửa đổi điều luật này theo hướng:

Một là, đưa ra một định nghĩa cụ thể, xác định rõ thế nào là đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình? Đây sẽ là cơ sở để xác định một thông tin cụ thể có được coi là thuộc về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình hay không, là căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền của cá nhân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình khi quyền đó bị xâm phạm.

Hai là, xác định giới hạn và nhận diện những thông tin nào thuộc vào phạm vi “bất khả xâm phạm” của đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình?

Ba là, đối với các hành vi bị cấm bổ sung thêm hành vi tiêu hủy, làm mất thông tin của cá nhân.

Bốn là, bổ sung quy định về việc được phép thu thập, lưu trữ, sử dụng, công khai thông tin về đời tư của cá nhân nhưng nếu ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý trừ trường hợp theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

2.2. Ban hành văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thi hành và bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Ban hành văn bản dưới luật hướng dẫn về quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là hết sức cần thiết, nhất là trong bối cảnh chúng ta xây dựng và ban hành Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa lâu. Các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về “quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” mới chỉ là những quy định mang tính chất chung nhất. Bộ luật Dân sự năm 2015 không thể liệt kê tất cả các thông tin được coi là thuộc về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình cũng như các hành vi xâm phạm, các biện pháp bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Chính vì thế, trước mắt, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn quy định của Bộ luật Dân sự đối với “quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”, từ đó có thể tiến tới việc Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự đối với “quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”. Sự lúng túng của một số Toà án trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến nhóm quyền này trong thời gian qua là một trong những minh chứng cho thấy sự cần thiết ban hành văn bản hướng dẫn liên quan đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, điều đó khiến cho việc hiểu và áp dụng pháp luật được thống nhất. Cụ thể, văn bản hướng dẫn được đề cập ở trên phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, cần giải thích rõ khái niệm để mọi người dễ dàng hiểu được thế nào là đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Hai là, đối với những thông tin được coi là thuộc về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: Văn bản hướng dẫn cần khái quát chung các đặc điểm liên quan đến thông tin được coi là thuộc về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Sau đó có thể có sự liệt kê một cách cụ thể, chi tiết các thông tin được coi thuộc về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

Ba là, đối với các hành vi bị coi là xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: Cần xác định giới hạn của đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, trên cơ sở đó xác định rõ ràng, cụ thể các hành vi bị coi là xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình cũng như những hành vi không bị coi là xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong những trường hợp cụ thể.

Bốn là, đối với các biện pháp bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: Các biện pháp bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình phải được mô tả chi tiết với những yêu cầu cụ thể liên quan đến việc áp dụng các biện pháp này để bảo vệ quyền lợi cho chủ thể liên quan đến quyền bí mật đời tư.

2.3. Hoàn thiện và sửa đổi các quy định trong một số văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan đến việc thực hiện quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được quy định trong Bộ luật Dân sự, tuy nhiên những biểu hiện cụ thể của quyền này lại có thể được liệt kê trong một số văn bản pháp luật chuyên ngành khác như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Báo chí, Luật Xuất bản, các văn bản pháp luật về y tế, bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin... Do đó, đồng thời với việc sửa đổi, bổ sung các quy định tương ứng trong Bộ luật Dân sự cần phải rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan trong những văn bản pháp luật chuyên ngành.

Chẳng hạn, cần có những quy định rõ ràng, cụ thể hơn về các trường hợp được phép và không được phép cung cấp thông tin về người phạm tội trong cấp trích lục, sao bản án; về trách nhiệm bảo mật thông tin liên quan đến người lao động hoặc cán bộ, công chức làm việc trong cơ quan nhà nước của bên sử dụng lao động, bên tuyển dụng; về trách nhiệm của cơ quan thuế, tổ chức tín dụng trong việc bảo mật các thông tin của người nộp thuế, thông tin của khách hàng, trừ những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định. Tương tự như vậy, trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin cũng cần có các quy định đảm bảo sự bảo mật đối với các thông tin của khách hàng, những người tham gia vào các giao dịch thông qua cơ sở dữ liệu, thông điệp điện tử. Trong trường hợp này, việc tiết lộ bí mật của khách hàng cho những người khác biết không chỉ đơn thuần là xâm phạm đến bí mật đời tư mà cần phải coi đó là hành vi phạm tội để xử lý theo quy định của pháp luật. Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Báo chí, Luật Xuất bản cũng cần có các quy định cụ thể để hạn chế đến mức tối đa các hành vi bị coi là xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Ví dụ, trong việc khai thác thông tin, hình ảnh liên quan đến người thực hiện hành vi phạm tội hoặc “bị cho là thực hiện hành vi phạm tội”: Về nguyên tắc nếu chưa có bản án kết tội có hiệu lực của Toà án thì một cá nhân vẫn được coi là chưa có tội, tuy nhiên nhiều trường hợp trước đó mọi thông tin, hình ảnh liên quan đến người này đã bị báo giới khai thác một cách triệt để, bất luận đó là thông tin gì liên quan đến người bị “cho là thực hiện hành vi phạm tội”. Đây cũng chính là một trong những biểu hiện cụ thể của hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư...

Tóm lại, các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối vớiquyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình cần phải được thực hiện một cách đồng bộ, có như vậy, việc điều chỉnh pháp luật để đảm bảo quyền riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình mới thực sự có hiệu quả, nhất là trong đời sống hiện đại.

ThS. Nguyễn Thị Vinh Hương

Trường Đại học Thương mại



Tài liệu tham khảo:

1. Phùng Trung Tập, ‘‘Bí mật đời tư bất khả xâm phạm’’, Tạp chí Luật học số 6/1996;

2. ThS. Lê Văn Sua, ‘‘Quyền bí mật đời tư cần được hướng dẫn cụ thể’’, Tạp chí Luật sư Việt Nam số 5/2016;

3. ThS Nguyễn Thị Vinh Hương (2017), “Pháp luật về quyền bí mật đời tư ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”, Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Trường Đại học Thương mại;

4. Lê Đình Nghị (2007), “Quyền bí mật đời tư theo pháp luật dân sự Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: