Thứ bảy 08/08/2026 23:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Từ quyền bí mật đời tư đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Bộ luật Dân sự còn quy định việc đảm bảo bí mật riêng tư của cá nhân, gia đình trong trường hợp có những chủ thể khác được quyền tiếp cận do gắn liền với các hợp đồng. Thông thường, ở đây tồn tại một cam kết giữ bí mật giữa hai bên, bên được cung cấp thông tin cần phải giữ kín những thông tin tiếp nhận được từ chủ sở hữu thông tin trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng.

1. Thực trạng quy định pháp luật về quyền bí mật đời tư nay là quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
1.1. Nội dung pháp luật điều chỉnh quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
Theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể xác định nội dung pháp luật điều chỉnh quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình như sau:

Thứ nhất, cá nhân có quyền bất khả xâm phạm đối với các thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
Bí mật cá nhân, bí mật gia đình là những thông tin về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan đến cá nhân, đến gia đình trong quá khứ cũng như trong hiện tại, những thông tin đó được pháp luật bảo vệ và được bảo mật bằng những biện pháp mà pháp luật thừa nhận. Đời sống riêng tư là khái niệm rộng, bao gồm những suy nghĩ, hành động, những sự việc, quan hệ liên quan đến cá nhân mà cá nhân giữ cho riêng mình, những vấn đề thuộc về đời sống riêng tư tuy không phải là các bí mật nhưng vẫn được pháp luật bảo hộ. Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã nhấn mạnh về các quyền nhân thân này (đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình), yêu cầu sự tuyệt đối tôn trọng (bất khả xâm phạm) và được pháp luật bảo vệ. Khi có hành vi xâm phạm, cá nhân có quyền áp dụng các phương thức do pháp luật quy định để bảo vệ quyền lợi của mình.

Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được bản thân cá nhân đó đồng ý, tương tự, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên của gia đình đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, những hành vi thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình nhưng không được phép của chủ sở hữu thông tin sẽ bị coi là hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Chẳng hạn như, hành vi sử dụng phương tiện điện tử để quay phim, chụp ảnh, ghi âm lại cuộc nói chuyện, xâm nhập, sao chụp các vật phẩm chứa đựng thông tin cá nhân, chiếm đoạt kỷ vật cá nhân, xem hồ sơ bệnh án của cá nhân mà mình không có thẩm quyền xem hoặc những hành vi tự ý lưu giữ, sao chép các thông tin bí mật đời tư của người khác, mua bán, trao đổi những thông tin về đời tư người khác một cách trái phép; hành vi tiết lộ thông tin mà mình đã thu thập được hoặc đang có quyền quản lý, lưu trữ các thông tin đó cho người khác những người không được phép thu thập, tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật, thậm chí công bố chúng trên các phương tiện thông tin đại chúng như tivi, báo, mạng internet... Có thể nói, quy định này hướng tới việc tôn trọng đời sống riêng tư của mỗi cá nhân, mỗi gia đình trong xã hội, cá nhân và gia đình có quyền công bố hoặc không công bố các thông tin liên quan đến sự riêng tư của họ, khi họ không công bố - điều đó có nghĩa là các thông tin này được coi là “bí mật”.

Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự còn quy định việc đảm bảo bí mật riêng tư của cá nhân, gia đình trong trường hợp có những chủ thể khác được quyền tiếp cận do gắn liền với các hợp đồng. Thông thường, ở đây tồn tại một cam kết giữ bí mật giữa hai bên, bên được cung cấp thông tin cần phải giữ kín những thông tin tiếp nhận được từ chủ sở hữu thông tin trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng.

Thứ hai, cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật đối với thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của mình

Khi xã hội ngày càng phát triển, việc trao đổi thông tin được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau. Thư tín, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân là một trong những phương tiện truyền tải hoặc lưu giữ thông tin liên lạc giữa cá nhân với những người khác. Những thông tin được chuyển tải có thể chứa đựng bí mật đời tư của cá nhân hoặc những bí mật gia đình, có thể là những lời hỏi thăm mang tính chất tình cảm, công việc hoặc bất kỳ nội dung nào khác, tuy nhiên dù thế nào cũng không thể bị người khác tự tiện xâm phạm. Đó là quyền tự do dân chủ chính đáng của mọi công dân, bảo đảm cho sinh hoạt xã hội an toàn một cách cần thiết.

Hành vi xâm phạm bí mật đời tư liên quan đến thư tín, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân bao gồm các hành vi: Thu thập, công bố thông tin được truyền tải, ngăn cản hoặc làm gián đoạn sự truyền tải thông tin, tiêu hủy thông tin. Ví dụ như, hành vi tự ý bóc mở, tráo đổi thư, bưu kiện, bưu phẩm của cá nhân; đọc, nghe trộm, thu trộm thông tin trên mạng viễn thông, trộm cắp, sử dụng trái phép mật khẩu, khóa mật mã và thông tin riêng của cá nhân khác; tiếp theo hành vi thu thập thông tin trái phép, chủ thể tiếp cận thông tin đã công khai tiết lộ nội dung thông tin cho chủ thể khác hoặc hành vi làm nhiễu sóng, dùng thiết bị vô hiệu hóa các phương tiện thông tin, phát tán virus để phá hoại thông tin liên lạc thông qua các phương tiện điện tử; hành vi chiếm đoạt, làm mất, tiêu hủy thư tín, điện tín của cá nhân... Những hành vi trên đây có thể được thực hiện với bất cứ động cơ, mục đích gì tuy nhiên vẫn được xác định là hành vi xâm phạm quyền riêng tư, quyền bí mật đời tư của cá nhân.

Để đảm bảo sự tương thích trong các văn bản pháp luật, ngoài Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, trong Luật Bưu chính, Luật Viễn thông cũng ghi nhận nguyên tắc bảo mật là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của hoạt động bưu chính, viễn thông. Những hành vi xâm phạm nguyên tắc này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, chịu trách nhiệm dân sự hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, cần lưu ý việc bóc mở, kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân vẫn có thể diễn ra trong trường hợp luật định như nhằm bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia, đảm bảo giữ gìn an ninh trật tự...

1.2. Điểm tiến bộ và hạn chế trong quy định pháp luật điều chỉnh quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

1.2.1. Điểm tiến bộ

Như đã chỉ ra ở trên, tên điều luật đã được sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới, theo hướng mở rộng và cụ thể hơn so với quyền bí mật đời tư, trên cơ sở đó nội dung được quy định tại các điều khoản cũng có nhiều thay đổi.

Thứ nhất, Bộ luật Dân sự năm 2005 khẳng định, quyền bí mật đời tư của cá nhân “được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”, nhưng với Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quyền đó không chỉ là được tôn trọng mà còn là quyền “bất khả xâm phạm” - tức là yêu cầu một sự tuyệt đối tôn trọng và đương nhiên nếu có hành vi xâm phạm thì pháp luật sẽ phải bảo vệ. Tính chất bảo hộ, đảm bảo thực hiện cũng đã được nâng cao hơn. Về mặt câu chữ, không khó để nhận ra thuật ngữ “bất khả xâm phạm” có ý nghĩa mạnh mẽ hơn so với thuật ngữ “được tôn trọng”. Việc sửa đổi từ ngữ cho thấy sự rõ ràng, rành mạch trong tư duy của các nhà làm luật khi khẳng định không ai được quyền xâm phạm đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người khác. Tất nhiên để có thể đảm bảo thực hiện quyền bất khả xâm phạm này của cá nhân cũng cần phải có các chế tài phù hợp để những quyền này được thực hiện trên thực tế.

Thứ hai, khoản 2 Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bổ sung thêm 02 hành vi được coi là xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Nếu trước đây chỉ giới hạn ở việc thu thập và công bố thông tin liên quan đến bí mật đời tư thì nay luật quy định ngoài thu thập, công khai (tiết lộ thông tin) còn có lưu giữ, sử dụng thông tin mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu thông tin. Điều này góp phần làm rõ, chi tiết hơn phạm vi của các hành vi xâm phạm, hỗ trợ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Tòa án trong quá trình giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

Thứ ba, ghi nhận “bí mật gia đình” bên cạnh bí mật đời tư của cá nhân. Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau...”. Mỗi cá nhân đều là thành viên của gia đình nào đó nên có những thông tin không phải chỉ là bí mật riêng tư hoặc thuộc đời sống riêng tư của riêng cá nhân mà còn là của chung các thành viên trong cùng một gia đình. Chính vì vậy, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên của gia đình đồng ý. Quy định như vậy rất hợp lý vì nếu chỉ bảo vệ quyền riêng tư cá nhân thì sẽ dẫn đến quyền riêng tư của gia đình bị bỏ ngỏ và sẽ thật khập khiễng nếu chỉ bảo vệ những thông tin riêng tư, bí mật của cá nhân mà không bảo vệ những thông tin về đời sống, bí mật gia đình.

Thứ tư, tại khoản 3 Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015, thay thế “các hình thức thông tin điện tử khác” bằng cụm từ “cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác”. Đây là quy định kịp thời, phù hợp với thực trạng của xã hội, với sự phát triển của công nghệ thông tin, có thêm căn cứ để Nhà nước có thể xử lý các vụ việc xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình thông qua cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.

Thứ năm, một điểm mới đáng lưu ý tại khoản 4 Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 đó là quy định về việc đảm bảo bí mật riêng tư của cá nhân, gia đình trong trường hợp các bên trong hợp đồng đã biết được thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đối phương trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng nhưng không được phép tiết lộ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Có thể nói quy định này siết chặt hơn quy chế bảo mật thông tin của khách hàng, đối tác vẫn lỏng lẻo lâu nay của chúng ta, ngăn chặn các hành vi lạm dụng lòng tin của nhau trong quan hệ hợp đồng để nhằm mục đích trục lợi gây thiệt hại về danh dự, uy tín của cá nhân là chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng.

Từ những phân tích trên cho thấy, Nhà nước đã có sự quan tâm sâu sắc hơn đến quyền bí mật đời tư của cá nhân, Bộ luật Dân sự mới bên cạnh tính kế thừa đã có những quy định chặt chẽ, nâng cao và mở rộng hơn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

1.2.3. Điểm hạn chế

Dù đã sửa đổi, bổ sung theo hướng tiếp cận mới, tuy nhiên việc hiểu và áp dụng những quy định đó trong thực tế vẫn còn những hạn chế nhất định như:

Thứ nhất, trong luật chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”.

Trước đây cũng chưa hề có một quy định rõ ràng như thế nào là “bí mật đời tư”. Trong luật chỉ ghi nhận về quyền bí mật đời tư, coi đó là quyền mà các chủ thể có liên quan, được xác định phải tôn trọng, mặc dù trên thực tế “bí mật đời tư” được đề cập khá nhiều trong các văn bản pháp luật cũng như các văn bản áp dụng, hướng dẫn thi hành pháp luật của Nhà nước. Đây cũng chính là một trong những khó khăn mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền gặp phải khi áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp liên quan bí mật đời tư hoặc xử lý những hành vi xâm phạm bí mật đời tư. Bởi lẽ, quyền bí mật đời tư được xây dựng trên khái niệm bí mật đời tư. Muốn xác định được phạm vi của quyền bí mật đời tư đòi hỏi chúng ta phải xác định được khái niệm về bí mật đời tư. Tình trạng tương tự có thể diễn ra khi chưa có khái niệm nào về “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”.

Thứ hai, những quy định đặt ra còn khá chung chung, chưa xác định rõ giới hạn và cách nhận diện những thông tin như thế nào sẽ thuộc vào phạm vi “bất khả xâm phạm”

Phạm vi đời sống riêng tư của một cá nhân được xác định ra sao? Những dạng thông tin như thế nào được coi là bí mật cá nhân, bí mật gia đình bất khả xâm phạm nhất là đối với những cá nhân, những gia đình thường xuyên xuất hiện trước công chúng và được nhiều người biết đến? Có sự khác nhau về quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình giữa người bị tạm giữ, khởi tố về hình sự với người đã bị kết án không? Việc thu thập, lưu trữ, sử dụng, công bố thông tin riêng, nhận dạng cá nhân được thực hiện thế nào? Những câu hỏi này đều là các vấn đề có thể gây tranh cãi khó đi đến hồi kết, nếu không được luật hóa bằng các quy định cụ thể.

Quy định không rõ ràng sẽ dẫn đến cách hiểu khác nhau, cùng với sự tùy tiện trong quá trình thực thi pháp luật có thể khiến rất nhiều trường hợp chính hoạt động của cơ quan nhà nước (cơ quan điều tra, Tòa án) và của báo chí lại trở thành “chủ thể” của hành vi xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Dưới góc độ này, quy định của luật chưa thực sự mang lại ý nghĩa thiết thực.

Thứ ba, Bộ luật Dân sự quy định chưa đầy đủ các hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến việc bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Quy định về các hành vi bị nghiêm cấm là để nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Trong bối cảnh phát triển công nghệ thông tin hiện đại, bất cứ ai cũng có thể trở thành nạn nhân. Sự phổ biến của internet khiến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của cá nhân có thể bị lan truyền, phát tán với tốc độ cực nhanh chỉ sau một cú nhấp chuột, không chỉ giới hạn ở Việt Nam mà còn trên phạm vi thế giới, hệ quả là gây ra những thiệt hại nặng nề, ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống, công việc, danh dự, nhân phẩm của người trong cuộc. Chính vì thế, càng quy định chặt chẽ, rõ ràng và đầy đủ những hành vi bị nghiêm cấm thì Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền càng có cơ sở để áp dụng hậu quả pháp lý bất lợi đối với những chủ thể thực hiện hành vi này, từ đó quyền và lợi ích của cá nhân có thể được đảm bảo đầy đủ và chính xác hơn.

Các hành vi bị cấm liên quan đến việc xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình đã được mở rộng so với trước đây, bao gồm: Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân mà không được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình mà không được các thành viên gia đình đồng ý. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, các hành vi bị cấm do pháp luật quy định vẫn chưa đầy đủ, bởi lẽ bên cạnh những hành vi này còn có hành vi tiêu hủy, làm mất thông tin của cá nhân cũng có thể xếp vào nhóm hành vi xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và cần phải được nghiêm cấm. Tiêu hủy thông tin là hành vi cố ý của một chủ thể nhằm làm cho thông tin đó không còn tồn tại trên thực tế, làm mất thông tin là hành vi được thực hiện với lỗi vô ý của chủ thể làm cho thông tin đó không còn tồn tại, ngoài sự kiểm soát của chủ sở hữu thông tin. Như vậy, thay vì bí mật đó bị chiếm đoạt (thu thập) hoặc công khai cho người khác biết thì chủ thể xâm phạm đã cố ý hoặc vô ý làm cho bí mật không còn tồn tại (tiêu hủy, làm mất), điều này gây hậu quả đôi khi không hề nhỏ bởi trong nhiều trường hợp vật chứa đựng thông tin đó chỉ có duy nhất một bản, một vật.

Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự cũng có quy định liên quan đến “giới hạn” của quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình - đó là có thể thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin về đời tư của cá nhân trong trường hợp luật có quy định khác, không cần tới sự đồng ý của chủ sở hữu thông tin.

Thứ tư, luật chưa tính đến những trường hợp có thể làm ảnh hưởng tới quvền lợi của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý trừ trường hợp theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, đây cũng là vấn đề cần chú ý khi sửa đổi Bộ luật Dân sự về quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

Có thể nói, chưa bao giờ nguy cơ xâm phạm về quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình lại cao như hiện nay, chính vì vậy, nếu không làm rõ được khái niệm “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”, nếu không chỉ rõ được ranh giới giữa an toàn và vi phạm thì “đời sống riêng tư”, “bí mật cá nhân”, “bí mật gia đình” khó có thể được bảo đảm và bảo vệ một cách hiệu quả.

2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ sự riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong đời sống hiện đại

Hoàn thiện các quy định pháp luậ tnhằm bảo vệ sự riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là một trong những vấn đề trọng tâm khi xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật dân sự nói riêng. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này bao gồm:

2.1. Sửa đổi quy định của Bộ luật Dân sự điều chỉnh quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Hiện nay, “quyền bí mật đời tư” đã được sửa đổi thành “quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”. Tuy nhiên, quy định này vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định, có ảnh hưởng rất lớn đến việc áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Để có cơ sở pháp lý hoàn chỉnh, chính xác, khách quan và thống nhất trong việc áp dụng pháp luật để xác định, xử lý các hành vi xâm phạm cần phải sửa đổi điều luật này theo hướng:

Một là, đưa ra một định nghĩa cụ thể, xác định rõ thế nào là đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình? Đây sẽ là cơ sở để xác định một thông tin cụ thể có được coi là thuộc về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình hay không, là căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền của cá nhân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình khi quyền đó bị xâm phạm.

Hai là, xác định giới hạn và nhận diện những thông tin nào thuộc vào phạm vi “bất khả xâm phạm” của đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình?

Ba là, đối với các hành vi bị cấm bổ sung thêm hành vi tiêu hủy, làm mất thông tin của cá nhân.

Bốn là, bổ sung quy định về việc được phép thu thập, lưu trữ, sử dụng, công khai thông tin về đời tư của cá nhân nhưng nếu ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý trừ trường hợp theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

2.2. Ban hành văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thi hành và bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Ban hành văn bản dưới luật hướng dẫn về quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là hết sức cần thiết, nhất là trong bối cảnh chúng ta xây dựng và ban hành Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa lâu. Các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về “quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” mới chỉ là những quy định mang tính chất chung nhất. Bộ luật Dân sự năm 2015 không thể liệt kê tất cả các thông tin được coi là thuộc về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình cũng như các hành vi xâm phạm, các biện pháp bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Chính vì thế, trước mắt, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn quy định của Bộ luật Dân sự đối với “quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”, từ đó có thể tiến tới việc Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự đối với “quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”. Sự lúng túng của một số Toà án trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến nhóm quyền này trong thời gian qua là một trong những minh chứng cho thấy sự cần thiết ban hành văn bản hướng dẫn liên quan đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, điều đó khiến cho việc hiểu và áp dụng pháp luật được thống nhất. Cụ thể, văn bản hướng dẫn được đề cập ở trên phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, cần giải thích rõ khái niệm để mọi người dễ dàng hiểu được thế nào là đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Hai là, đối với những thông tin được coi là thuộc về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: Văn bản hướng dẫn cần khái quát chung các đặc điểm liên quan đến thông tin được coi là thuộc về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Sau đó có thể có sự liệt kê một cách cụ thể, chi tiết các thông tin được coi thuộc về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

Ba là, đối với các hành vi bị coi là xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: Cần xác định giới hạn của đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, trên cơ sở đó xác định rõ ràng, cụ thể các hành vi bị coi là xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình cũng như những hành vi không bị coi là xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong những trường hợp cụ thể.

Bốn là, đối với các biện pháp bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: Các biện pháp bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình phải được mô tả chi tiết với những yêu cầu cụ thể liên quan đến việc áp dụng các biện pháp này để bảo vệ quyền lợi cho chủ thể liên quan đến quyền bí mật đời tư.

2.3. Hoàn thiện và sửa đổi các quy định trong một số văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan đến việc thực hiện quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được quy định trong Bộ luật Dân sự, tuy nhiên những biểu hiện cụ thể của quyền này lại có thể được liệt kê trong một số văn bản pháp luật chuyên ngành khác như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Báo chí, Luật Xuất bản, các văn bản pháp luật về y tế, bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin... Do đó, đồng thời với việc sửa đổi, bổ sung các quy định tương ứng trong Bộ luật Dân sự cần phải rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan trong những văn bản pháp luật chuyên ngành.

Chẳng hạn, cần có những quy định rõ ràng, cụ thể hơn về các trường hợp được phép và không được phép cung cấp thông tin về người phạm tội trong cấp trích lục, sao bản án; về trách nhiệm bảo mật thông tin liên quan đến người lao động hoặc cán bộ, công chức làm việc trong cơ quan nhà nước của bên sử dụng lao động, bên tuyển dụng; về trách nhiệm của cơ quan thuế, tổ chức tín dụng trong việc bảo mật các thông tin của người nộp thuế, thông tin của khách hàng, trừ những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định. Tương tự như vậy, trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin cũng cần có các quy định đảm bảo sự bảo mật đối với các thông tin của khách hàng, những người tham gia vào các giao dịch thông qua cơ sở dữ liệu, thông điệp điện tử. Trong trường hợp này, việc tiết lộ bí mật của khách hàng cho những người khác biết không chỉ đơn thuần là xâm phạm đến bí mật đời tư mà cần phải coi đó là hành vi phạm tội để xử lý theo quy định của pháp luật. Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Báo chí, Luật Xuất bản cũng cần có các quy định cụ thể để hạn chế đến mức tối đa các hành vi bị coi là xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Ví dụ, trong việc khai thác thông tin, hình ảnh liên quan đến người thực hiện hành vi phạm tội hoặc “bị cho là thực hiện hành vi phạm tội”: Về nguyên tắc nếu chưa có bản án kết tội có hiệu lực của Toà án thì một cá nhân vẫn được coi là chưa có tội, tuy nhiên nhiều trường hợp trước đó mọi thông tin, hình ảnh liên quan đến người này đã bị báo giới khai thác một cách triệt để, bất luận đó là thông tin gì liên quan đến người bị “cho là thực hiện hành vi phạm tội”. Đây cũng chính là một trong những biểu hiện cụ thể của hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư...

Tóm lại, các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối vớiquyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình cần phải được thực hiện một cách đồng bộ, có như vậy, việc điều chỉnh pháp luật để đảm bảo quyền riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình mới thực sự có hiệu quả, nhất là trong đời sống hiện đại.

ThS. Nguyễn Thị Vinh Hương

Trường Đại học Thương mại



Tài liệu tham khảo:

1. Phùng Trung Tập, ‘‘Bí mật đời tư bất khả xâm phạm’’, Tạp chí Luật học số 6/1996;

2. ThS. Lê Văn Sua, ‘‘Quyền bí mật đời tư cần được hướng dẫn cụ thể’’, Tạp chí Luật sư Việt Nam số 5/2016;

3. ThS Nguyễn Thị Vinh Hương (2017), “Pháp luật về quyền bí mật đời tư ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”, Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Trường Đại học Thương mại;

4. Lê Đình Nghị (2007), “Quyền bí mật đời tư theo pháp luật dân sự Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.

Theo dõi chúng tôi trên: