Thứ bảy 16/05/2026 11:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của doanh nghiệp xanh trong xu thế phát triển kinh tế xanh toàn cầu

Kinh tế xanh, phát triển bền vững đang là xu thế chuyển dịch tất yếu của thế giới, là mô hình phát triển được nhiều quốc gia lựa chọn và hướng tới. Ở Việt Nam, tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “… chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh; quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên; lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường…”. Như vậy, với quyết tâm chính trị cao, Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra mục tiêu xây dựng nền kinh thế xanh trong hành trình phát triển bền vững cho tương lai, theo xu thế chung của toàn cầu.

Ảnh minh họa

Doanh nghiệp xanh - tế bào của nền kinh tế xanh

Kinh tế xanh được hiểu là một nền kinh tế có mức phát thải thấp, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm tính công bằng về mặt xã hội. Kinh tế xanh, tăng trưởng xanh góp phần giảm phát thải nhà kính, hướng tới mục tiêu trung hòa các-bon, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học, mất cân bằng hệ sinh thái. Khác với nền kinh tế nâu, đầu tư công trong kinh tế xanh cần phải ưu tiên cho việc duy trì và phát triển nguồn vốn tự nhiên, nhất là những nguồn tài sản thuộc sở hữu chung, mang lại lợi ích cho mọi người[1].

Doanh nghiệp chính là chủ thể khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và xả thải chủ yếu, lớn nhất ra môi trường, nên có vai trò quan trọng trong nền kinh tế xanh. Chiến lược xanh hóa sản xuất để cung cấp ra môi trường các sản phẩm, dịch vụ xanh là yêu cầu để phát triển bền vững không chỉ cho chính doanh nghiệp mà còn cho xã hội, cho tương lai không chỉ trong một quốc gia mà còn cho toàn nhân loại. Chỉ khi nào doanh nghiệp áp dụng quá trình sản xuất xanh tạo ra sản phẩm, dịch vụ xanh và được người tiêu dùng “xanh” thì nền kinh tế sẽ trở nên xanh. Khi đó, tài nguyên sẽ được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, môi trường được giữ gìn, bảo vệ; chất lượng cuộc sống con người được nâng cao. Như vậy, có thể thấy, doanh nghiệp xanh đóng vai trò nòng cốt và là tế bào của nền kinh tế xanh.

Đặc điểm, lợi ích mà doanh nghiệp xanh mang lại

Khác với các doanh nghiệp nâu là các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, tiêu dùng tốn nhiều nguyên vật liệu, năng lượng từ tự nhiên và thải ra nhiều chất thải gây tổn hại tới tự nhiên, môi trường, doanh nghiệp xanh không chỉ chú trọng vào tăng trưởng sản xuất, mang lại doanh thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp mà còn quan tâm và chú trọng đặc biệt tới giữ gìn, bảo vệ tài nguyên môi trường.

Như vậy, doanh nghiệp xanh có đặc điểm đặc trưng là làm ra lợi nhuận nhưng không làm tổn hại mà bảo vệ môi trường, cộng đồng xã hội. Muốn như vậy, ngay từ khâu bắt đầu và trong suốt quá trình sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ, các doanh nghiệp xanh đã phải tính toán đến yếu tố giữ gìn, bảo vệ môi trường. Những tính toán này được thể hiện ở việc các doanh nghiệp xanh đặc biệt quan tâm, chú ý tới nguyên liệu sử dụng để tạo ra sản phẩm; các chất thải ra trong quá trình khai thác, sử dụng nguyên liệu, sản xuất để tạo ra sản phẩm và ngay cả khâu tiêu dùng cuối cùng và thải bỏ sản phẩm cũng được các doanh nghiệp xanh thực hiện một cách có trách nhiệm.

Lợi ích mà doanh nghiệp xanh mang lại dựa trên 03 trụ cột chính đó là: lợi ích về môi trường, lợi ích về kinh tế và lợi ích về xã hội[2], cụ thể:

(i) Lợi ích về môi trường: như trên đã phân tích, doanh nghiệp xanh giúp bảo vệ môi trường bằng cách giảm thiểu lượng khí thải các-bon, sử dụng năng lượng tái tạo hiệu quả, giảm chất thải ra môi trường. Điều này không chỉ góp phần vào việc giảm thiểu biến đổi khí hậu mà còn bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá (đất, nước, khoáng sản, rừng…), giúp duy trì và cân bằng hệ sinh thái vốn có của trái đất.

(ii) Lợi ích về kinh tế: các doanh nghiệp xanh thường áp dụng công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng và quy trình sản xuất hiệu quả nên giảm chi phí vận hành, giảm chất thải ra môi trường. Hơn nữa, việc đầu tư vào công nghệ xanh góp phần cải thiện thương hiệu, uy tín của sản phẩm, giúp đưa sản phẩm đến với đông đảo người tiêu dùng và đặc biệt, đáp ứng các điều kiện xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài (đặc biệt ở những nước có nền kinh tế xanh phát triển mạnh), từ đó, tạo ra nguồn lợi kinh tế cho doanh nghiệp và xã hội.

(iii) Lợi ích về xã hội: các doanh nghiệp xanh không chỉ mang lại lợi ích cho môi trường mà còn cho xã hội. Các doanh nghiệp này thường tạo ra việc làm bền vững, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, đóng góp cho sự phát triển cộng đồng.

Ảnh minh họa

Thuận lợi và thách thức đối với các doanh nghiệp xanh ở Việt Nam

Tại Việt Nam, có nhiều doanh nghiệp đã và đang nỗ lực trong việc thay đổi quy trình sản xuất và hình thành xu hướng phát triển xanh, bảo vệ môi trường như: Công ty cổ phần sữa Việt Nam (vinamilk) đã thực hiện nhiều sáng kiến bảo vệ môi trường, bao gồm việc đầu tư vào các trang trạng bò sữa sinh thái, sử dụng năng lượng tái tạo và thực hiện các chương trình tiết kiệm năng lượng; Tập đoàn Trung Nguyên Legend đã triển khai các dự án trồng rừng, đồng thời, chú trọng sử dụng các bao bì tái chế và thân thiện với môi trường; Công ty PAN Group hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và thực phẩm, tập trung vào sản xuất sạch và bền vững, đồng thời, áp dụng các công nghệ tiên tiến để giảm thiểu tác động đến môi trường…

Để chuyển đổi từ doanh nghiệp nâu sang doanh nghiệp xanh, doanh nghiệp Việt Nam có một số thuận lợi sau:

Thứ nhất, về cơ chế, chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước. Chính sách quốc gia về tăng trưởng xanh là một chủ trương lớn và quan trọng của Đảng và Nhà nước nhằm xanh hóa nền kinh tế, bảo đảm phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững. Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050” đã chỉ ra rõ mục tiêu tổng quát của Chiến lược là tăng trưởng xanh góp phần thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nhằm đạt được thịnh vượng về kinh tế, bền vững về môi trường, công bằng về xã hội; Hướng tới nền kinh tế xanh, trung hòa các-bon và đóng góp vào mục tiêu hạn chế sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu.

Ngày 08/02/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 167/QĐ-TTg về phê duyệt “Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khu vực tư nhân kinh doanh bền vững giai đoạn 2022 - 2025”, trong đó nêu rõ đối với các doanh nghiệp được công nhận là doanh nghiệp kinh doanh bền vững sẽ nhận được những hỗ trợ về đào tạo, tư vấn xây dựng chiến lược, thiết kế mô hình kinh doanh bền vững, quản trị nội bộ; hỗ trợ công nghệ; hỗ trợ triển khai chuyển đổi số; tiếp cận tài chính, vốn đầu tư; hỗ trợ về truyền thông, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường...

Thứ hai, Việt Nam đã xây dựng được nhiều tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia liên quan đến lĩnh vực này. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 13.000 tiêu chuẩn quốc gia và gần 800 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được xây dựng[3]. Đặc biệt, trong số các tiêu chuẩn quốc gia, Việt Nam đã xây dựng được 750 tiêu chuẩn hướng tới thúc đẩy tăng trưởng xanh. Với sự ra đời và song hành của các tiêu chuẩn như trên, các doanh nghiệp có thể chủ động tham gia bảo vệ môi trường, đồng thời, tối ưu hóa khả năng sản xuất, kinh doanh thông qua tiết kiệm nguyên - nhiên vật liệu, sử dụng nguyên vật liệu tái tạo, giảm khí nhà kính…

Thứ ba, thói quen người tiêu dùng có xu hướng chuyển dịch sang dùng các sản phẩm xanh. Theo Bộ Công Thương, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm xanh tại Việt Nam tăng trưởng trung bình 15% mỗi năm trong giai đoạn 2021 - 2023. 72% người tiêu dùng Việt Nam sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các sản phẩm xanh, điều này cho thấy nhận thức và sự quan tâm ngày càng tăng của người dân đối với vấn đề bảo vệ môi trường[4]. Đây có lẽ là một trong những động lực mạnh mẽ để các doanh nghiệp mạnh dạn chuyển đổi sang mô hình kinh doanh xanh.

Bên cạnh những thuận lợi từ phía cơ chế, chính sách hỗ trợ của Đảng, Nhà nước và xu thế tiêu dùng xanh ngày càng tăng cao… doanh nghiệp cũng phải đối mặt với rất nhiều thách thức, cụ thể:

Một là, thách thức từ chính nhận thức và sự lựa chọn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp xanh luôn đứng trước sự lựa chọn giữa lợi nhuận và môi trường. Hầu hết các ngành kinh doanh đều tạo ra chất thải. Một số ngành có thể chỉ tạo ra những chất thải thông thường như giấy, nước; nhưng một số ngành khác lại thải ra môi trường nhiều chất độc, hại, nguy hiểm, đòi hỏi phải có biện pháp, quy trình xử lý đặc biệt. Thông thường việc xử lý chất thải, nhất là chất độc, hại, nguy hiểm có chi phí rất lớn, tốn kém. Do đó, việc cân bằng giữa lợi nhuận và thực hiện vòng tuần hoàn xanh khép kín có thể làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm đi (do chi phí tăng cao), nên một số doanh nghiệp có thể không ưu tiên, không chú trọng vào việc bảo vệ môi trường.

Hai là, thách thức về vốn đầu tư ban đầu. Có thể thấy, chi phí đầu tư ban đầu cho công nghệ xanh, năng lượng tái tạo, quy trình sản xuất sạch thường cao hơn so với các công nghệ truyền thống. Điều này có thể là rào cản đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chi phí vận hành, bảo trì các công nghệ xanh có thể cao hơn do tính phức tạp và kỹ thuật cao.

Ba là, thách thức về nguồn nhân lực xanh. Hiện nay, nguồn nhân lực am hiểu và có trình độ chuyền môn về công nghệ xanh ở Việt Nam còn rất ít. Tại các cơ sở giáo dục đào tạo, ngành công nghiệp xanh là ngành nghề mới mà chưa có nhiều cơ sở tiến hành đầu tư xây dựng lộ trình, chương trình học đối với ngành nghề này.

Bốn là, thách thức từ thị trường và cạnh tranh. Mức thu nhập của nhiều người dân Việt Nam ở mức trung bình và thấp, nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm xanh còn hạn chế. Chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm xanh thường lớn hơn nhiều so với loại hàng hóa tương tự nên giá thành cao và không có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Một số nghiên cứu cho thấy, mức giá trung bình của các hàng hóa xanh thường cao hơn 20 - 40% so với các loại hàng hóa tiêu dùng cùng loại. Vì vậy, người tiêu dùng (nhất là ở vùng nông thôn) vẫn có xu hướng sử dụng sản phẩm cùng loại có giá thành rẻ hơn chứ chưa quan tâm đến việc lựa chọn sản phẩm xanh.

Năm là, các chính sách hỗ trợ phát triển xanh, các chính sách hướng đến phát triển tiêu dùng xanh còn thiếu đồng bộ. Các chính sách thúc đẩy sản xuất sản phẩm, dịch vụ xanh chưa tạo động lực mạnh mẽ cho các doanh nghiệp. Chính sách hỗ trợ chưa thu hút được các doanh nghiệp đầu tư thay đổi dây chuyền công nghệ, chưa tạo ra được sự chuyển biến đáng kể để doanh nghiệp đổi mới công nghệ và quy trình sản xuất. Cơ chế, chính sách khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất sản phẩm xanh còn bộc lộ nhiều mặt bất cập. Nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước để hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ nhằm sản xuất hàng hóa thân thiện với môi trường còn ít, mức độ hỗ trợ thấp. Các quy định chính sách hỗ trợ thường tập trung cho khâu sản xuất, chưa hướng mạnh tới người tiêu dùng[5].

Sáu là, thách thức từ chính các quy định của “sân chơi” quốc tế ngày càng khắt khe đối với các sản phẩm xanh nhập khẩu. Điển hình như ngày 16/5/2023, Hội đồng châu Âu (EC) đã thông qua Quy định không gây mất rừng, trong đó sẽ cấm nhập khẩu những mặt hàng nông sản gồm: cà phê, dầu cọ, đậu nành, gỗ và đồ gỗ, gia súc, ca cao, cao su và một số sản phẩm phái sinh từ các quốc gia, vùng lãnh thổ mà quy trình sản xuất được thực hiện trên đất có nguồn gốc từ phá rừng và gây suy thoái rừng kể từ sau ngày 31/12/2020 vào thị trường EU. Như vậy, những sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam như: cà phê, gỗ và đồ gỗ, ca cao, cao su sẽ buộc phải tuân thủ quy định của EU về chống phá rừng, suy thoái rừng. Điều này cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp của Việt Nam.

Như vậy, doanh nghiệp xanh đã trở thành xu thế tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa và thế giới đang phải ứng phó với biến đổi khí hậu. Phát triển nền kinh tế xanh không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra nhiều giá trị, lợi ích, góp phần xây dựng xã hội bền vững. Mặc dù, các doanh nghiệp xanh ở Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn nhưng những lợi ích mà các doanh nghiệp xanh mang lại là không thể phủ nhận. Vì vậy, trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục tập trung các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo động lực cho doanh nghiệp xanh chuyển mình, vươn lên phát triển mang lại nhiều giá trị hơn nữa cho con người và môi trường sống./.

Quỳnh Vũ


[1] ThS. Nguyễn Trần Minh Trí, Xu hướng và kinh nghiệm quốc tế về phát triển xanh, https://dangcongsan.vn/phat-trien-kinh-te-xanh-ly-luan-va-thuc-tien/xu-huong-va-kinh-nghiem-quoc-te-ve-phat-trien-xanh-672235.html, truy cập ngày 01/12/2024.

[2] Trường Thịnh, Khuyến khích doanh nghiệp “xanh”: chiến lược đầu tư bền vững cho kinh tế Việt Nam, https://dantri.com.vn/kinh-doanh/khuyen-khich-doanh-nghiep-xanh-chien-luoc-dau-tu-ben-vung-cho-kinh-te-viet-nam-20240818171021775.htm, truy cập ngày 01/12/2024.

[3] Sửa đổi các quy định về quy chuẩn, tiêu chuẩn “làm khó” doanh nghiệp, https://dangcongsan.vn/thoi-su/sua-doi-cac-quy-dinh-ve-quy-chuan-tieu-chuan-lam-kho-doanh-nghiep-684677.html, truy cập ngày 01/12/2024.

[4] Minh Anh, Gia tăng nhu cầu tiêu dùng sản phẩm xanh tại Việt Nam, https://vneconomy.vn/gia-tang-nhu-cau-tieu-dung-san-pham-xanh-tai-viet-nam.htm, truy cập ngày 01/12/2024.

[5] Tiêu dùng xanh tại Việt Nam hiện nay: Thực trạng và giải pháp, https://tapchicongthuong.vn/tieu-dung-xanh-tai-viet-nam-hien-nay--thuc-trang-va-phai-phap-106815.htm, truy cập ngày 01/12/2024.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: