Thứ tư 23/09/2026 01:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của luật sư trong việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Tóm tắt: Bài viết đề cập một số quy định mới liên quan đến vai trò của luật sư trong trong hoạt động xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và những kiến nghị sửa đổi.


Abstract: The article deals with some new regulations concerning the role of lawyers in the adjudication according to regulations of the Criminal Procedural Code of 2015 and some proposals for amendments.

1. Vai trò của luật sư trong hoạt động xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được ban hành với nhiều quy định tiến bộ, khẳng định vai trò, vị thế, của luật sư trong hoạt động tố tụng, đặc biệt là vai trò trong việc thực thi nguyên tắc bảo đảm tranh tụng cụ thể hóa những tinh thần và nội dung của Hiến pháp năm 2013.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì khi tham gia vụ án hình sự, luật sư có thể tham gia với tư cách là người bào chữa cho người bị buộc tội là các bị can, bị cáo. Luật sư cũng có thể tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại, đương sự trong vụ án. Dù ở tư cách nào thì luật sư cũng có sự chủ động trong việc thực hiện quyền tranh tụng của mình.

Thứ nhất, khi có yêu cầu của người bị buộc tội thì luật sư có quyền xuất hiện sớm kể từ thời điểm một người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt[1]. Trường hợp bắt, tạm giữ người thì luật sư được quyền có mặt từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ[2]. Trước đây, trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì quyền bào chữa xuất hiện muộn hơn, luật sư có mặt vào thời điểm một người bị tạm giữ[3].

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, việc luật sư xuất hiện sớm có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Trước hết, sự hiện diện của luật sư sẽ giúp người bị buộc tội ổn định về tâm lý, có sự bình tĩnh, kịp thời bảo vệ được những quyền lợi hợp pháp của họ.

Thứ hai, luật sư được quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, được gặp bị can, bị cáo, thu thập và xuất trình tài liệu, đồ vật, nghiên cứu hồ sơ vụ án...[4]. Theo Bộ luật Tố tụng năm 2003 thì không có quy định về việc luật sư được quyền hỏi người bị buộc tội sau khi Điều tra viên hỏi xong.

Thứ ba, luật sư được quyền tham gia tranh tụng với tất cả các chủ thể tham gia tố tụng, đặc biệt là chủ thể buộc tội. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án[5]. Đây là một quy định hoàn toàn mới mà trước đây Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không quy định. Có thể nhận thấy trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nguyên tắc tranh tụng đã được ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tố tụng hình sự. Nguyên tắc tranh tụng được thể chế hóa từ nguyên tắc hiến định trong Hiến pháp năm 2013[6]. Mặc dù điều luật quy định nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử nhưng nội dung của điều luật này cho phép luật sư thực hiện hoạt động tranh tụng của mình xuyên suốt các giai đoạn tố tụng bắt đầu từ khi người bị buộc tội bị tạm giữ, cho đến khi bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.

Như vậy, song song với việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng thì vị trí, vai trò của luật sư khi tham gia tố tụng cũng được đề cao. Cùng với việc quy định rõ chức năng buộc tội của Viện kiểm sát, chức năng xét xử của Tòa án thì chức năng bào chữa của luật sư được tôn trọng và bảo vệ.

Thứ tư, luật sư có quyền bình đẳng với các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Tại các giai đoạn tố tụng, sự bình đẳng thể hiện trong việc luật sư được đưa ra chứng cứ, được đánh giá chứng cứ, được đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Mọi tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp. Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải có mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, trừ trường hợp vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác mà pháp luật quy định.

Tòa án giữ vai trò là cơ quan xét xử phải có trách nhiệm bảo đảm cho sự bình đẳng trong quá trình tranh tụng. Các chủ thể tranh tụng (Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác) đều được Tòa án tạo điều kiện để thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình tại phiên tòa.

Theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tại giai đoạn xét xử “Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án. Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi trong bản án”[7]. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không có quy định nào như vậy.

Thứ năm, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định rõ trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là phải báo trước cho luật sư về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác. Ngược lại, trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì luật sư phải đề nghị với cơ quan tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm để có mặt khi hỏi cung bị can.

Thứ sáu, luật sư được quyền đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế trong những trường hợp cần thiết. Đây là một quy định mới nhằm phát huy vai trò của luật sư trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân đã được hiến định.

Trong trường hợp người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có biểu hiện gây cản trở, gây khó khăn đối với luật sư khi thực hiện các quyền này thì luật sư hoàn toàn có thể đưa ra những ý kiến để phản đối việc làm của họ nếu việc làm đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người bị buộc tội.

Thứ bảy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định cho luật sư có quyền thu thập chứng cứ, kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá. Có thể nói đây là một quy định hoàn toàn mới về quyền của người bào chữa. Ngoài các cơ quan tiến hành tố tụng gồm cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án thì luật sư cũng là chủ thể được quyền thu thập chứng cứ, kiểm tra và đánh giá chứng cứ[8].

Thứ tám, luật sư có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tiếp nhận, lập biên bản giao nhận, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên vụ án cung cấp để đưa vào hồ sơ vụ án nếu xét thấy có lợi cho thân chủ[9]. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định khá chặt chẽ nhằm ràng buộc trách nhiệm của cá nhân những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc thu thập và bảo quản chứng cứ.

Với một số những điểm mới trên đây cho thấy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã thể chế hóa tương đối đầy đủ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp, góp phần tăng cường hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân; cụ thể hóa các trình tự, thủ tục để người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền, trách nhiệm của mình theo luật định. Đặc biệt, nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử được chú trọng theo đó vai trò của luật sư khi tham gia tố tụng cũng được khẳng định.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Với những quy định mang tính tiến bộ, có thể coi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là một công cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện mới, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, góp phần vào việc bảo vệ chế độ, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân đã được hiến định. Mặc dù vậy, về mặt kỹ thuật lập pháp cho thấy Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vẫn còn có những hạn chế, bất cập dẫn đến cách hiểu không thống nhất, cách vận dụng luật còn thiếu đồng bộ cần khắc phục, hoàn thiện:

Thứ nhất, liên quan đến quyền tiếp xúc của luật sư đối với người bị buộc tội

Mặc dù Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có quy định: Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người người bị buộc tội, nhưng cũng tại điều luật này vẫn còn tồn tại quy định giống như quy định cũ của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, theo đó, người bào chữa muốn được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can thì phải được người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý. Đây là nút thắt làm mất đi cơ hội được tiếp xúc với người bào chữa của người bị buộc tội. Nếu như Điều tra viên không đồng ý thì đương nhiên luật sư không thể hỏi thân chủ của mình về một số những tình tiết liên quan đến vụ án, thu thập thông tin, hoặc làm rõ một số nội dung tình tiết phục vụ cho việc bào chữa của mình.

Thứ hai, liên quan đến lịch hẹn tiến hành các hoạt động tố tụng

Điều 79 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có quy định về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo trước một thời gian hợp lý cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, khoảng thời gian hợp lý này trên thực tế có thể hợp lý với chủ thể buộc tội nhưng không hợp lý với chủ thể gỡ tội. Hiện nay, khoảng thời gian hợp lý đang được áp dụng là trước 24 (hai mươi bốn) giờ, trường hợp người bào chữa ở xa có thể thông báo trước 48 (bốn mươi tám) giờ[10]. Như vậy, đối với cơ quan điều tra thì họ hoàn toàn có sự chủ động từ trước về việc tiến hành các hoạt động tố tụng. Nhưng với luật sư thì lại ở thế bị động. Không chỉ một vụ việc mà luật sư còn thực hiện nhiều vụ việc khác đan xen, đặc biệt là tham gia phiên tòa. Nếu như chỉ báo trước một ngày thì luật sư khó có thể thu xếp để tham gia được (khoảng thời gian trước 24 giờ có thể hợp lý với Điều tra viên nhưng lại không hợp lý đối với luật sư. Đó là khoảng thời gian quá ngắn).

Về hình thức thông báo, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng không quy định rõ là thông báo bằng hình thức nào, bằng miệng hay bằng văn bản. Nếu bằng miệng, thông qua gọi điện thì luật sư có thể tiếp nhận thông tin ngay, nhưng nếu thông báo bằng văn bản mà gửi qua đường bưu điện thì khi luật sư nhận được văn bản thì buổi lấy cung đã được hoàn tất.

Luật quy định rằng nếu vắng người bào chữa thì hoạt động tố tụng vẫn diễn ra bình thường. Trong những trường hợp như vậy thì buổi lấy cung có thực sự khách quan hay không? Quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội liệu có được bảo đảm không? Tình trạng ép cung, mớm cung có bị đẩy lùi? Và một điều dễ nhận thấy là thiếu luật sư trong các buổi lấy cung sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nguyên tắc bảo đảm tranh tụng cũng như vai trò của luật sư khi tham gia vụ án.

Thứ ba, liên quan đến quyền bình đẳng trong thu thập, xuất trình và đánh giá chứng cứ

Mặc dù đây là quy định mới, tiến bộ trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuy nhiên, để điều luật đi vào cuộc sống là cả một vấn đề.

Luật sư cũng như người bị buộc tội đều có quyền thu thập, xuất trình và đánh giá chứng cứ. Với luật sư thì việc thực hiện các quyền này thuận tiện hơn nhưng đối với người bị buộc tội thì rất khó có thể thực hiện các quyền này vì họ là bên đối trọng với bên buộc tội. Đối với chủ thể buộc tội, họ là những người trực tiếp giải quyết vụ án và áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với người bị buộc tội theo quy định của pháp luật. Còn người bị buộc tội lại là đối tượng chịu sự quản lý của họ. Nếu bị tạm giam thì không có cơ hội thực hiện việc thu thập, xuất trình và đánh giá chứng cứ. Nếu người bị buộc tội được tại ngoại thì lại bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nên cơ hội thu thập, xuất trình và đánh giá chứng cứ bị hạn chế rất nhiều. Việc quy định tính bình đẳng trong thu thập, xuất trình và đánh giá chứng cứ là không khả thi trong thực tiễn khi mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa có quy định nào ràng buộc trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là phải tạo điều kiện cho người bị buộc tội có cơ hội bình đẳng trong việc thu thập, xuất trình và đánh giá chứng cứ.

Thứ tư, liên quan đến hoạt động điều khiển phiên tòa

Trong giai đoạn xét xử, mặc dù Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định chủ tọa không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện cho bên buộc tội, bên gỡ tội được tranh luận, trình bày hết ý kiến của mình, tuy vậy lại vẫn còn tồn tại quy định rằng chủ tọa phiên tòa có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án. Ở đây, hiểu thể nào là ý kiến không liên quan hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của cá nhân người tiến hành tố tụng. Với người bị buộc tội hay người bào chữa thì ý kiến trình bày đó là nội dung minh chứng cho quan điểm bào chữa của mình. Nhưng với chủ tọa phiên tòa khi không hiểu rõ hoặc có ý bênh một trong hai bên lại viện cớ cho rằng ý kiến mà luật sư trình bày không liên quan đến việc bào chữa và họ có quyền cắt đi. Và như vậy quyền tranh luận của bên gỡ tội đã bị hạn chế. Nguyên tắc tranh tụng chưa được bảo đảm tuyệt đối.

Thứ năm, liên quan đến trách nhiệm tranh tụng tại phiên tòa

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung nguyên tắc mới đó là nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26), theo đó Tòa án đóng vai trò là cơ quan xét xử có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, hiệu quả tranh tụng tại các phiên tòa chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức và trình độ, năng lực của các chủ thể tham gia tranh tụng còn hạn chế. Hai chủ thể chính tham gia vào quá trình tranh tụng là Kiểm sát viên và luật sư. Nếu một trong hai chủ thể hoặc cả hai chủ thể đó không phát huy vai trò của mình thì hiệu quả tranh tụng không cao. Theo quy định thì “Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu, lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa”[11]. Quy định là vậy nhưng trên thực tế, rất nhiều trường hợp Kiểm sát viên không đối đáp lại quan điểm của luật sư. Lý do Kiểm sát viên không tham gia đối đáp là do Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mới chỉ quy định đối đáp là trách nhiệm, là quyền năng của Kiểm sát viên, nhưng lại không quy định đó là nghĩa vụ. Do đó không có chế tài nào cho việc vi phạm nghĩa vụ đó. Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên không đối đáp mà chỉ bảo lưu ý kiến thì đương nhiên việc tranh tụng sẽ dừng lại ở đó. Do vậy, cần thiết phải quy định đối đáp là nghĩa vụ của Kiểm sát viên để nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa.

Thứ sáu, liên quan đến văn hóa pháp đình

Đây là một vấn đề ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hiện chưa có một quy định cụ thể nào về việc buộc các chủ thể tham gia tố tụng phải có nghĩa vụ tôn trong văn hóa pháp đình. Dù là Kiểm sát viên, luật sư hay bất cứ người nào đã tham gia tố tụng là phải thực hiện nghĩa vụ đó.

Thực tiễn cho thấy, tại nhiều phiên tòa đã có những trường hợp chủ thể buộc tội và chủ thể gỡ tội đã có những hành xử thiếu văn minh, xúc phạm lẫn nhau bằng những lời lẽ thô tục. Các chủ thể thay vì tìm các tài liệu chứng cứ, lập luận, quan điểm để đối đáp với phía bên kia nhằm tìm ra sự thật khách quan của vụ án thì họ lại quay ra chỉ trích lẫn nhau. Và dĩ nhiên, việc đối đáp trong trường hợp này sớm bị kết thúc. Ngoài ra, trong nhiều phiên tòa cũng còn có những hình ảnh các thành viên hội đồng xét xử thiếu nghiêm túc trong quá trình xét xử. Họ có thể nói chuyện với nhau, nghe điện thoại hoặc làm những việc khác trong khi luật sư đang trình bày quan điểm bào chữa. Hành động đó được coi là không tôn trọng người bào chữa. Có cả trường hợp thành viên hội đồng xét xử bỏ ra ngoài khi đang xét xử. Vậy trong trường hợp này thì quan điểm của luật sư dù hay đến đâu, thuyết phục đến đâu đi chăng nữa thì hội đồng xét xử dường như không quan tâm. Sự “vô tư” đó của thành viên hội đồng xét xử đã cắt đi nguồn cảm hứng của luật sư và ảnh hưởng đến chất lượng tranh tụng tại phiên tòa. Tôn trọng văn hóa pháp đình là một vấn đề cần thiết phải quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự, đó là nghĩa vụ mà tất cả các chủ thể tố tụng phải tuân theo.

Luật sư Lưu Thị Ngọc Lan

Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2]. Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3]. Khoản 2 Điều 48 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[4]. Khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[5]. Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[6]. Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.

[7]. Khoản 4, Điều 322 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[8]. Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[9]. Khoản 2, khoản 4 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[10]. Thông tư số 70/2011/TT-BCA ngày 10/10/2011 của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

[11]. Điều 322 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: