Thứ bảy 23/05/2026 23:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của luật sư trong việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Tóm tắt: Bài viết đề cập một số quy định mới liên quan đến vai trò của luật sư trong trong hoạt động xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và những kiến nghị sửa đổi.


Abstract: The article deals with some new regulations concerning the role of lawyers in the adjudication according to regulations of the Criminal Procedural Code of 2015 and some proposals for amendments.

1. Vai trò của luật sư trong hoạt động xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được ban hành với nhiều quy định tiến bộ, khẳng định vai trò, vị thế, của luật sư trong hoạt động tố tụng, đặc biệt là vai trò trong việc thực thi nguyên tắc bảo đảm tranh tụng cụ thể hóa những tinh thần và nội dung của Hiến pháp năm 2013.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì khi tham gia vụ án hình sự, luật sư có thể tham gia với tư cách là người bào chữa cho người bị buộc tội là các bị can, bị cáo. Luật sư cũng có thể tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại, đương sự trong vụ án. Dù ở tư cách nào thì luật sư cũng có sự chủ động trong việc thực hiện quyền tranh tụng của mình.

Thứ nhất, khi có yêu cầu của người bị buộc tội thì luật sư có quyền xuất hiện sớm kể từ thời điểm một người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt[1]. Trường hợp bắt, tạm giữ người thì luật sư được quyền có mặt từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ[2]. Trước đây, trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì quyền bào chữa xuất hiện muộn hơn, luật sư có mặt vào thời điểm một người bị tạm giữ[3].

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, việc luật sư xuất hiện sớm có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Trước hết, sự hiện diện của luật sư sẽ giúp người bị buộc tội ổn định về tâm lý, có sự bình tĩnh, kịp thời bảo vệ được những quyền lợi hợp pháp của họ.

Thứ hai, luật sư được quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, được gặp bị can, bị cáo, thu thập và xuất trình tài liệu, đồ vật, nghiên cứu hồ sơ vụ án...[4]. Theo Bộ luật Tố tụng năm 2003 thì không có quy định về việc luật sư được quyền hỏi người bị buộc tội sau khi Điều tra viên hỏi xong.

Thứ ba, luật sư được quyền tham gia tranh tụng với tất cả các chủ thể tham gia tố tụng, đặc biệt là chủ thể buộc tội. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án[5]. Đây là một quy định hoàn toàn mới mà trước đây Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không quy định. Có thể nhận thấy trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nguyên tắc tranh tụng đã được ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tố tụng hình sự. Nguyên tắc tranh tụng được thể chế hóa từ nguyên tắc hiến định trong Hiến pháp năm 2013[6]. Mặc dù điều luật quy định nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử nhưng nội dung của điều luật này cho phép luật sư thực hiện hoạt động tranh tụng của mình xuyên suốt các giai đoạn tố tụng bắt đầu từ khi người bị buộc tội bị tạm giữ, cho đến khi bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.

Như vậy, song song với việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng thì vị trí, vai trò của luật sư khi tham gia tố tụng cũng được đề cao. Cùng với việc quy định rõ chức năng buộc tội của Viện kiểm sát, chức năng xét xử của Tòa án thì chức năng bào chữa của luật sư được tôn trọng và bảo vệ.

Thứ tư, luật sư có quyền bình đẳng với các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Tại các giai đoạn tố tụng, sự bình đẳng thể hiện trong việc luật sư được đưa ra chứng cứ, được đánh giá chứng cứ, được đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Mọi tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp. Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải có mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, trừ trường hợp vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác mà pháp luật quy định.

Tòa án giữ vai trò là cơ quan xét xử phải có trách nhiệm bảo đảm cho sự bình đẳng trong quá trình tranh tụng. Các chủ thể tranh tụng (Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác) đều được Tòa án tạo điều kiện để thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình tại phiên tòa.

Theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tại giai đoạn xét xử “Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án. Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi trong bản án”[7]. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không có quy định nào như vậy.

Thứ năm, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định rõ trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là phải báo trước cho luật sư về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác. Ngược lại, trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì luật sư phải đề nghị với cơ quan tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm để có mặt khi hỏi cung bị can.

Thứ sáu, luật sư được quyền đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế trong những trường hợp cần thiết. Đây là một quy định mới nhằm phát huy vai trò của luật sư trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân đã được hiến định.

Trong trường hợp người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có biểu hiện gây cản trở, gây khó khăn đối với luật sư khi thực hiện các quyền này thì luật sư hoàn toàn có thể đưa ra những ý kiến để phản đối việc làm của họ nếu việc làm đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người bị buộc tội.

Thứ bảy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định cho luật sư có quyền thu thập chứng cứ, kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá. Có thể nói đây là một quy định hoàn toàn mới về quyền của người bào chữa. Ngoài các cơ quan tiến hành tố tụng gồm cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án thì luật sư cũng là chủ thể được quyền thu thập chứng cứ, kiểm tra và đánh giá chứng cứ[8].

Thứ tám, luật sư có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tiếp nhận, lập biên bản giao nhận, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên vụ án cung cấp để đưa vào hồ sơ vụ án nếu xét thấy có lợi cho thân chủ[9]. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định khá chặt chẽ nhằm ràng buộc trách nhiệm của cá nhân những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc thu thập và bảo quản chứng cứ.

Với một số những điểm mới trên đây cho thấy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã thể chế hóa tương đối đầy đủ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp, góp phần tăng cường hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân; cụ thể hóa các trình tự, thủ tục để người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền, trách nhiệm của mình theo luật định. Đặc biệt, nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử được chú trọng theo đó vai trò của luật sư khi tham gia tố tụng cũng được khẳng định.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Với những quy định mang tính tiến bộ, có thể coi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là một công cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện mới, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, góp phần vào việc bảo vệ chế độ, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân đã được hiến định. Mặc dù vậy, về mặt kỹ thuật lập pháp cho thấy Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vẫn còn có những hạn chế, bất cập dẫn đến cách hiểu không thống nhất, cách vận dụng luật còn thiếu đồng bộ cần khắc phục, hoàn thiện:

Thứ nhất, liên quan đến quyền tiếp xúc của luật sư đối với người bị buộc tội

Mặc dù Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có quy định: Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người người bị buộc tội, nhưng cũng tại điều luật này vẫn còn tồn tại quy định giống như quy định cũ của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, theo đó, người bào chữa muốn được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can thì phải được người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý. Đây là nút thắt làm mất đi cơ hội được tiếp xúc với người bào chữa của người bị buộc tội. Nếu như Điều tra viên không đồng ý thì đương nhiên luật sư không thể hỏi thân chủ của mình về một số những tình tiết liên quan đến vụ án, thu thập thông tin, hoặc làm rõ một số nội dung tình tiết phục vụ cho việc bào chữa của mình.

Thứ hai, liên quan đến lịch hẹn tiến hành các hoạt động tố tụng

Điều 79 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có quy định về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo trước một thời gian hợp lý cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, khoảng thời gian hợp lý này trên thực tế có thể hợp lý với chủ thể buộc tội nhưng không hợp lý với chủ thể gỡ tội. Hiện nay, khoảng thời gian hợp lý đang được áp dụng là trước 24 (hai mươi bốn) giờ, trường hợp người bào chữa ở xa có thể thông báo trước 48 (bốn mươi tám) giờ[10]. Như vậy, đối với cơ quan điều tra thì họ hoàn toàn có sự chủ động từ trước về việc tiến hành các hoạt động tố tụng. Nhưng với luật sư thì lại ở thế bị động. Không chỉ một vụ việc mà luật sư còn thực hiện nhiều vụ việc khác đan xen, đặc biệt là tham gia phiên tòa. Nếu như chỉ báo trước một ngày thì luật sư khó có thể thu xếp để tham gia được (khoảng thời gian trước 24 giờ có thể hợp lý với Điều tra viên nhưng lại không hợp lý đối với luật sư. Đó là khoảng thời gian quá ngắn).

Về hình thức thông báo, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng không quy định rõ là thông báo bằng hình thức nào, bằng miệng hay bằng văn bản. Nếu bằng miệng, thông qua gọi điện thì luật sư có thể tiếp nhận thông tin ngay, nhưng nếu thông báo bằng văn bản mà gửi qua đường bưu điện thì khi luật sư nhận được văn bản thì buổi lấy cung đã được hoàn tất.

Luật quy định rằng nếu vắng người bào chữa thì hoạt động tố tụng vẫn diễn ra bình thường. Trong những trường hợp như vậy thì buổi lấy cung có thực sự khách quan hay không? Quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội liệu có được bảo đảm không? Tình trạng ép cung, mớm cung có bị đẩy lùi? Và một điều dễ nhận thấy là thiếu luật sư trong các buổi lấy cung sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nguyên tắc bảo đảm tranh tụng cũng như vai trò của luật sư khi tham gia vụ án.

Thứ ba, liên quan đến quyền bình đẳng trong thu thập, xuất trình và đánh giá chứng cứ

Mặc dù đây là quy định mới, tiến bộ trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuy nhiên, để điều luật đi vào cuộc sống là cả một vấn đề.

Luật sư cũng như người bị buộc tội đều có quyền thu thập, xuất trình và đánh giá chứng cứ. Với luật sư thì việc thực hiện các quyền này thuận tiện hơn nhưng đối với người bị buộc tội thì rất khó có thể thực hiện các quyền này vì họ là bên đối trọng với bên buộc tội. Đối với chủ thể buộc tội, họ là những người trực tiếp giải quyết vụ án và áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với người bị buộc tội theo quy định của pháp luật. Còn người bị buộc tội lại là đối tượng chịu sự quản lý của họ. Nếu bị tạm giam thì không có cơ hội thực hiện việc thu thập, xuất trình và đánh giá chứng cứ. Nếu người bị buộc tội được tại ngoại thì lại bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nên cơ hội thu thập, xuất trình và đánh giá chứng cứ bị hạn chế rất nhiều. Việc quy định tính bình đẳng trong thu thập, xuất trình và đánh giá chứng cứ là không khả thi trong thực tiễn khi mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa có quy định nào ràng buộc trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là phải tạo điều kiện cho người bị buộc tội có cơ hội bình đẳng trong việc thu thập, xuất trình và đánh giá chứng cứ.

Thứ tư, liên quan đến hoạt động điều khiển phiên tòa

Trong giai đoạn xét xử, mặc dù Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định chủ tọa không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện cho bên buộc tội, bên gỡ tội được tranh luận, trình bày hết ý kiến của mình, tuy vậy lại vẫn còn tồn tại quy định rằng chủ tọa phiên tòa có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án. Ở đây, hiểu thể nào là ý kiến không liên quan hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của cá nhân người tiến hành tố tụng. Với người bị buộc tội hay người bào chữa thì ý kiến trình bày đó là nội dung minh chứng cho quan điểm bào chữa của mình. Nhưng với chủ tọa phiên tòa khi không hiểu rõ hoặc có ý bênh một trong hai bên lại viện cớ cho rằng ý kiến mà luật sư trình bày không liên quan đến việc bào chữa và họ có quyền cắt đi. Và như vậy quyền tranh luận của bên gỡ tội đã bị hạn chế. Nguyên tắc tranh tụng chưa được bảo đảm tuyệt đối.

Thứ năm, liên quan đến trách nhiệm tranh tụng tại phiên tòa

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung nguyên tắc mới đó là nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26), theo đó Tòa án đóng vai trò là cơ quan xét xử có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, hiệu quả tranh tụng tại các phiên tòa chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức và trình độ, năng lực của các chủ thể tham gia tranh tụng còn hạn chế. Hai chủ thể chính tham gia vào quá trình tranh tụng là Kiểm sát viên và luật sư. Nếu một trong hai chủ thể hoặc cả hai chủ thể đó không phát huy vai trò của mình thì hiệu quả tranh tụng không cao. Theo quy định thì “Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu, lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa”[11]. Quy định là vậy nhưng trên thực tế, rất nhiều trường hợp Kiểm sát viên không đối đáp lại quan điểm của luật sư. Lý do Kiểm sát viên không tham gia đối đáp là do Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mới chỉ quy định đối đáp là trách nhiệm, là quyền năng của Kiểm sát viên, nhưng lại không quy định đó là nghĩa vụ. Do đó không có chế tài nào cho việc vi phạm nghĩa vụ đó. Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên không đối đáp mà chỉ bảo lưu ý kiến thì đương nhiên việc tranh tụng sẽ dừng lại ở đó. Do vậy, cần thiết phải quy định đối đáp là nghĩa vụ của Kiểm sát viên để nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa.

Thứ sáu, liên quan đến văn hóa pháp đình

Đây là một vấn đề ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hiện chưa có một quy định cụ thể nào về việc buộc các chủ thể tham gia tố tụng phải có nghĩa vụ tôn trong văn hóa pháp đình. Dù là Kiểm sát viên, luật sư hay bất cứ người nào đã tham gia tố tụng là phải thực hiện nghĩa vụ đó.

Thực tiễn cho thấy, tại nhiều phiên tòa đã có những trường hợp chủ thể buộc tội và chủ thể gỡ tội đã có những hành xử thiếu văn minh, xúc phạm lẫn nhau bằng những lời lẽ thô tục. Các chủ thể thay vì tìm các tài liệu chứng cứ, lập luận, quan điểm để đối đáp với phía bên kia nhằm tìm ra sự thật khách quan của vụ án thì họ lại quay ra chỉ trích lẫn nhau. Và dĩ nhiên, việc đối đáp trong trường hợp này sớm bị kết thúc. Ngoài ra, trong nhiều phiên tòa cũng còn có những hình ảnh các thành viên hội đồng xét xử thiếu nghiêm túc trong quá trình xét xử. Họ có thể nói chuyện với nhau, nghe điện thoại hoặc làm những việc khác trong khi luật sư đang trình bày quan điểm bào chữa. Hành động đó được coi là không tôn trọng người bào chữa. Có cả trường hợp thành viên hội đồng xét xử bỏ ra ngoài khi đang xét xử. Vậy trong trường hợp này thì quan điểm của luật sư dù hay đến đâu, thuyết phục đến đâu đi chăng nữa thì hội đồng xét xử dường như không quan tâm. Sự “vô tư” đó của thành viên hội đồng xét xử đã cắt đi nguồn cảm hứng của luật sư và ảnh hưởng đến chất lượng tranh tụng tại phiên tòa. Tôn trọng văn hóa pháp đình là một vấn đề cần thiết phải quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự, đó là nghĩa vụ mà tất cả các chủ thể tố tụng phải tuân theo.

Luật sư Lưu Thị Ngọc Lan

Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 58 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2]. Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3]. Khoản 2 Điều 48 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[4]. Khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[5]. Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[6]. Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.

[7]. Khoản 4, Điều 322 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[8]. Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[9]. Khoản 2, khoản 4 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[10]. Thông tư số 70/2011/TT-BCA ngày 10/10/2011 của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

[11]. Điều 322 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: