Thứ sáu 13/03/2026 00:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Văn bản pháp quy đính kèm - Một số khía cạnh pháp lý cần làm rõ

Tóm tắt: Trên cơ sở nghiên cứu về thực tiễn ban hành văn bản pháp quy hiện nay, bài viết đã chỉ ra các khía cạnh pháp lý cần làm rõ đối với văn bản pháp quy đính kèm theo văn bản pháp quy chính.

Tóm tắt: Trên cơ sở nghiên cứu về thực tiễn ban hành văn bản pháp quy hiện nay, bài viết đã chỉ ra các khía cạnh pháp lý cần làm rõ đối với văn bản pháp quy đính kèm theo văn bản pháp quy chính.

Abstract: Based on the study of the practice of current legal document promulgation, the paper points out legal aspects to be clarified towards a legal document attached to a main legal document.

1. Nhận thức về văn bản pháp quy đính kèm
Nghiên cứu về thực trạng ban hành văn bản pháp quy hiện nay có thể thấy, văn bản pháp quy có thể được ban hành dưới dạng văn bản pháp quy độc lập, trực tiếp đặt ra các quy định pháp luật ngay trong nội dung của văn bản đó, như: Nghị định, thông tư, quyết định (quy định trực tiếp); hoặc dưới dạng văn bản pháp quy đính kèm, tức là gián tiếp đặt ra các quy định pháp luật trong văn bản ban hành kèm theo như: Điều lệ, quy chế, quy định… Với dạng thứ hai, cơ quan có thẩm quyền phải soạn thảo hai văn bản bao gồm: Văn bản pháp quy chính (như nghị định, thông tư, quyết định) và văn bản pháp quy đính kèm (như quy chế, điều lệ, quy định…).
Như vậy, có thể hiểu, văn bản pháp quy đính kèm là một bộ phận không thể tách rời của văn bản pháp quy chính. Trong đó, văn bản chính chỉ tuyên bố về việc ban hành văn bản pháp quy đính kèm và hiệu lực pháp lý, còn nội dung chính là các quy phạm pháp luật lại được chứa đựng trong các văn bản pháp quy đính kèm, hiệu lực pháp lý của văn bản pháp quy đính kèm phụ thuộc hoàn toàn vào văn bản chính.
Để nhận diện văn bản pháp quy đính kèm, có thể tập trung vào một số đặc trưng sau:
Thứ nhất, về chủ thể ban hành. Như trên đã phân tích, văn bản pháp quy đính kèm là sản phẩm của hoạt động lập quy, vì vậy, chủ thể ban hành các văn bản này là những cơ quan hành chính nhà nước hoặc các cá nhân có thẩm quyền thuộc hệ thống các cơ quan này được Nhà nước trao quyền, bao gồm: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; các bộ, cơ quan ngang bộ; Ủy ban nhân dân các cấp.
Cần lưu ý, trên thực tế hiện nay, ngoài các cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan khác như Quốc hội, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân… thậm chí các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội hay doanh nghiệp cũng ban hành các văn bản đính kèm với hình thức tương tự. Tuy nhiên, nếu tiếp cận theo hướng này thì những văn bản đó sẽ không được hiểu là văn bản pháp quy phụ.
Thứ hai, về tên gọi. Hiện nay, dưới góc độ pháp lý, việc quy định về tên gọi của nhóm văn bản này như đã nhắc đến ở phần trên, mới chỉ được gián tiếp quy định tại Phụ lục I Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) thông qua việc liệt kê các tên gọi văn bản đính kèm trong mẫu hình thức văn bản. Theo đó, các văn bản được kể đến cụ thể là: Quy định, quy chế, điều lệ, danh mục. Tuy nhiên, trên thực tế, ngoài các văn bản nêu trên, các chủ thể có thẩm quyền ban hành đính kèm văn bản quy phạm pháp luật của mình nhiều văn bản có tên gọi rất đa dạng như: Quy tắc, quy trình, tiêu chuẩn, quy chuẩn, khung chương trình, khung giá... Do pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về trường hợp sử dụng các loại văn bản này, vì vậy, việc lựa chọn các văn bản để ban hành trong các tình huống cụ thể thường được thực hiện theo thông lệ.
Thứ ba, phải được ban hành kèm theo hình thức văn bản quy phạm pháp luật và có nội dung là quy phạm pháp luật. Trước hết, các văn bản pháp quy đính kèm phải được ban hành kèm theo văn bản chính là các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bởi các chủ thể nêu ở phần thứ nhất. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, các hình thức văn bản đó bao gồm: Nghị định của Chính phủ; quyết định (quy phạm) của Thủ tướng Chính phủ; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và quyết định (quy phạm) của Ủy ban nhân dân các cấp. Bên cạnh đó, nội dung của các văn bản pháp quy phụ phải được thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp luật, mà theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 tức là các quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Đây chính là biểu hiện để phân biệt văn bản pháp quy đính kèm với những văn bản có cùng tên gọi nhưng không đặt ra các quy tắc xử sự chung mà chỉ đặt ra các quy tắc xử sự nội bộ (quy phạm nội bộ) của các cơ quan, đơn vị khác nhau. Chẳng hạn, cùng tên gọi là điều lệ, trong đó Điều lệ trường tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định số 105/2018/NĐ-CP ngày 08/8/2018 của Chính phủ (Nghị định số 105/2018/NĐ-CP)… là văn bản pháp quy đính kèm nhưng Điều lệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh không phải là văn bản pháp quy đính kèm… vì văn bản của Đoàn Thanh niên không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Hay, cùng là quy chế được ban hành bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó quy chế thi trung học phổ thông quốc gia ban hành kèm theo thông tư là văn bản pháp quy đính kèm, song quy chế về chế độ làm việc ban hành kèm theo quyết định của Bộ trưởng chỉ là văn bản hành chính. Bởi lẽ, quy chế này chỉ là văn bản áp dụng pháp luật, không phải văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, quy chế này chỉ đặt ra những quy định áp dụng trong nội bộ cơ quan Bộ Giáo dục và Đào tạo, chứ không phải là các quy phạm pháp luật được áp dụng chung.
Thứ tư, về hiệu lực pháp lý. Vì là văn bản pháp quy đính kèm, vì vậy, hiệu lực pháp lý của các văn bản này hoàn toàn phụ thuộc vào văn bản chính. Điều này được thể hiện là những quy định về hiệu lực pháp lý (quy định về thời điểm có hiệu lực của văn bản, tuyên bố về việc bãi bỏ/thay thế các văn bản có liên quan, giao trách nhiệm thi hành văn bản) được quy định trong nội dung của văn bản chính, còn văn bản pháp quy đính kèm chỉ tập trung quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc… và các quy phạm cụ thể.
Thứ năm, về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản. Cũng xuất phát từ việc văn bản pháp quy đính kèm là một phần nội dung không tách rời của văn bản chính, nên theo hướng dẫn của pháp luật hiện hành về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản, trong các văn bản này không trình bày một số đề mục hình thức, như số và ký hiệu văn bản, địa danh, thời gian ban hành văn bản và nơi nhận. Bên cạnh đó, dưới phần trích yếu nội dung phải có phần chỉ dẫn văn bản chính (Ban hành kèm theo Nghị định/Thông tư/Quyết định số…/…/… ngày… tháng… năm… của…)
2. Thực tiễn ban hành và các khía cạnh pháp lý cần làm rõ về văn bản pháp quy đính kèm
Nghiên cứu thực tiễn ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính hiện nay, có rất nhiều trường hợp ban hành văn bản pháp quy đính kèm dưới nhiều tên gọi khác nhau, trong đó phổ biến nhất có thể kể đến như: Quy chế, quy định, điều lệ… Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, pháp luật hiện hành chưa có quy định chính thức về nhóm văn bản này mà chỉ mới quy định gián tiếp tại Phụ lục I về mẫu văn bản đính kèm Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Trong đó, hướng dẫn mẫu Quy định/Quy chế/Điều lệ/Danh mục... ban hành kèm theo Nghị định của Chính phủ (Mẫu số 02), ban hành kèm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Mẫu số 05), ban hành kèm theo Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ (Mẫu số 12); Mẫu Quy định/Quy chế... ban hành kèm theo Quyết định của Ủy ban nhân dân các cấp (Mẫu số 19, 23, 27). Như vậy, về mặt nội dung, pháp luật chưa có quy định cụ thể về nhóm văn bản này, mà chỉ có quy định về hình thức văn bản. Điều này dẫn đến tình trạng các chủ thể có thẩm quyền gặp khá nhiều khó khăn, lúng túng trong việc ban hành các văn bản pháp quy đính kèm, cho nên, trên cơ sở phân tích những bất cập trong thực tiễn ban hành các văn bản pháp quy phụ, thiết nghĩ, cần làm rõ những khía cạnh pháp lý về nhóm văn bản này để tạo sự thống nhất của hệ thống pháp luật.
Một là, cần phân biệt rõ ràng về trường hợp ban hành văn bản quy định trực tiếp và văn bản pháp quy đính kèm
Hiện nay, liên quan đến việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 chỉ quy định chung về nội dung của từng loại văn bản do các chủ thể khác nhau ban hành. Chẳng hạn, Điều 19 quy định về nội dung của nghị định; Điều 20 quy định nội dung của quyết định do Thủ tướng Chính phủ ban hành; Điều 24 quy định về nội dung của thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành; Điều 28, 29, 30 quy định về nội dung của quyết định do Ủy ban nhân dân các cấp ban hành… Các điều khoản trên chỉ “khoanh vùng” những vấn đề được phép quy định trong văn bản của từng chủ thể mà chưa có sự phân định rõ nội dung nào ban hành văn bản quy định trực tiếp, nội dung nào có thể ban hành kèm theo các văn bản pháp quy đính kèm. Điều này dẫn đến những lựa chọn khác nhau trong việc ban hành văn bản, cụ thể là cùng một loại công việc nhưng có văn bản quy định trực tiếp, có văn bản quy định gián tiếp trong các văn bản pháp quy đính kèm. Ví dụ, cùng quy định về tổ chức, hoạt động của các cơ quan trực thuộc Chính phủ, nhưng đối với bộ, cơ quang ngang bộ, Chính phủ ban hành nghị định quy định trực tiếp như: Nghị định số 96/2017/NĐ-CP ngày 16/8/2017 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp; Nghị định số 98/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương… Trong khi đó, quy định về tổ chức và hoạt động của các tập đoàn nhà nước như Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam… Chính phủ lại ban hành Điều lệ kèm theo Nghị định (Nghị định số 105/2018/NĐ-CP, Nghị định số 07/2018/NĐ-CP, Nghị định số 20/2018/NĐ-CP, Nghị định số 20/2018/NĐ-CP). Hay trường hợp khác, với quy định về trình tự, thủ tục thực hiện các công việc nhất định, thông thường các chủ thể có thẩm quyền sẽ ban hành văn bản quy định trực tiếp, tức là, toàn bộ các trình tự, thủ tục cụ thể sẽ được quy định ngay trong các chương, mục, điều, khoản, điểm của văn bản đó. Tuy nhiên, thực tiễn không ít những văn bản khi quy định về các vấn đề tương tự nhưng lại có hình thức thể hiện là ban hành kèm theo văn bản pháp quy đính kèm với tên gọi quy trình… Cụ thể, Quyết định số 27/2018/QĐ-UBND ngày 13/11/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Quy trình tiếp công dân và xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trong đó, nội dung của Quyết định (văn bản chính) chỉ tuyên bố về việc ban hành kèm theo Quy trình, thời điểm có hiệu lực của văn bản và giao trách nhiệm thi hành cho các chủ thể cấp dưới. Còn các nội dung cụ thể được quy định trong văn bản đính kèm là Quy trình.
Xuất phát từ thực tiễn trên, bên cạnh việc đã quy định về nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật như hiện nay, pháp luật cũng cần có thêm quy định để hướng dẫn cụ thể về việc những nội dung nào quy định trực tiếp trong văn bản quy phạm, nội dung nào có thể ban hành văn bản pháp quy đính kèm. Từ đó, tạo sự thống nhất cho việc ban hành văn bản của các chủ thể có thẩm quyền.
Hai là, xác định rõ trường hợp sử dụng văn bản pháp quy đính kèm với các văn bản hành chính có cùng tên gọi
Trên thực tế, với tên gọi như điều lệ, quy chế, quy định, nội quy…, các văn bản này được rất nhiều chủ thể khác nhau ban hành, đồng thời, tính chất quy phạm chứa đựng trong văn bản đó cũng có nhiều điểm khác biệt: Có những văn bản đặt ra các quy phạm pháp luật (quy tắc xử sự chung), có những văn bản đặt ra quy phạm nội bộ (quy tắc xử sự nội bộ). Điều này dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản. Không ít trường hợp, các cơ quan hành chính khi xây dựng các quy chế, quy định… chưa xác định được chính xác nội dung của quy chế, quy định là các quy phạm pháp luật hay quy phạm nội bộ để lựa chọn thẩm quyền và quy trình ban hành cho phù hợp, trong khi đó, pháp luật cũng chưa có hướng dẫn cụ thể. Vấn đề này không chỉ gây khó khăn cho chính việc soạn thảo và còn kéo theo hàng loạt các hoạt động khác cũng bị ảnh hưởng như: Thẩm định, thẩm tra; kiểm tra và xử lý văn bản... Hơn nữa, từ sự thiếu rõ ràng, minh bạch như vậy, dẫn đến thực tế có những trường hợp đúng ra phải là văn bản pháp quy ban hành kèm theo văn bản quy phạm pháp luật của chủ thể có thẩm quyền, nhưng các chủ thể lại “lách luật” bằng cách “coi đó là” văn bản hành chính nội bộ (quy định, quy chế nội bộ…) và ban hành kèm theo văn bản áp dụng pháp luật. Việc “lách luật” như vậy có thể giúp các chủ thể tránh được việc phải tiến hành theo quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, phức tạp và rườm rà hơn rất nhiều.
Để giải quyết được bất cập này, quan trọng nhất là vấn đề nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền. Cụ thể, về nhận thức, các chủ thể này phải nắm chắc về quy phạm pháp luật để phân biệt được trường hợp nào là quy tắc xử sự chung, trường hợp nào là quy tắc xử sự nội bộ để lựa chọn chính xác văn bản cần ban hành. Bên cạnh đó, đối với những trường hợp cố tình “lách luật” như phân tích ở trên, cần có những quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của chủ thể trong việc ban hành văn bản sai trái. Còn về khía cạnh pháp lý liên quan đến văn bản pháp quy đính kèm, có lẽ, khi quy định về nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật mà các chủ thể được phép ban hành, pháp luật cần quy định chi tiết và rõ ràng hơn. Bởi những quy định chung chung như hiện nay, chẳng hạn: Văn bản được ban hành để quy định “biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước”, “biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động…, chế độ làm việc”, “các vấn đề khác thuộc thẩm quyền”… dẫn đến khó khăn trong việc phân biệt trường hợp cần ban hành quy phạm pháp luật và ban hành quy phạm nội bộ để lựa chọn văn bản một cách chính xác; đồng thời có thể tạo kẽ hở cho việc làm sai quy định.
Ba là, cần quy định rõ về trường hợp sử dụng các loại văn bản pháp quy đính kèm có tên gọi khác nhau
Việc phân biệt các loại văn bản pháp quy đính kèm hiện nay cũng là một vấn đề khó khăn. Như trên đã phân tích, thực tiễn hiện nay các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền ban hành rất nhiều loại văn bản pháp quy đính kèm có tên gọi khác nhau như: Quy chế, điều lệ, quy định, danh mục, quy tắc, quy trình, tiêu chuẩn, quy chuẩn, khung chương trình, khung giá… Trong khi đó, pháp luật lại chưa có hướng dẫn rõ ràng về việc sử dụng những văn bản này. Chính vì vậy, việc lựa chọn ban hành văn bản nào trong một số trường hợp đôi khi còn nhiều lúng túng, đặc biệt là đối với những văn bản có nội dung tương tự nhau như: Quy định, quy chế; tiêu chuẩn, quy chuẩn... Trên thực tế, không ít trường hợp cùng nội dung công việc nhưng hình thức văn bản lại khác nhau. Ví dụ, để quy định về tổ chức và hoạt động của cơ quan, đơn vị, có trường hợp ban hành quy chế (Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm ngoại ngữ, tin học ban hành kèm theo Thông tư số 21/2018/TT-BGDĐT ngày 24/8/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo), có trường hợp ban hành điều lệ (Điều lệ về tổ chức và hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước như đã nêu ở phần trên). Vì vậy, pháp luật cần có những hướng dẫn cụ thể về trường hợp sử dụng cho các loại văn bản pháp quy đính kèm, trong đó đặc biệt tập trung đối với những văn bản thường xuyên được sử dụng và có những nội dung tương tự nhau như quy định, quy chế, điều lệ…nhằm tránh sự nhầm lẫn và thiếu thống nhất trong việc ban hành.
Tóm lại, có thể thấy, việc ban hành văn bản pháp quy đính kèm trên thực tế rất phổ biến với các hình thức văn bản rất phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, quy định pháp luật về những văn bản này lại chưa đầy đủ và cụ thể. Chính vì vậy, việc làm rõ những khía cạnh pháp lý về văn bản pháp quy đính kèm là rất cần thiết để tiến tới hoàn thiện pháp luật, góp phần đảm bảo sự thống nhất trong xây dựng và ban hành văn bản pháp quy đính kèm nói riêng và văn bản quy phạm pháp luật nói chung.

ThS. Lê Thị Ngọc Mai
Đại học Luật Hà Nội


Tài liệu tham khảo:
1. Từ điển Luật học, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Nxb. Từ điển bách khoa và Nxb. Tư pháp.
2. Thông tin Khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý, “Áp dụng ủy quyền lập pháp để thực hiện quyền lập pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam”, số chuyên đề 4/2016.
3. Kỷ yếu Hội thảo “Quyền lập pháp, lập quy và ủy quyền lập pháp”, Bộ Tư pháp phối hợp với Dự án Phát triển lập pháp quốc gia tại Việt Nam tổ chức, tháng 3/2014.
4. Nguyễn Thị Thu Vân, Về các hình thức tên gọi văn bản”quy chế” và”quy định”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 10/2010, tr. 75 - 77.
5. Nguyễn Thị Thu Vân, Trần Thị Hương Huế, Về các hình thức tên gọi văn bản”điều lệ’,”thể lệ” và”nội quy”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 12/2010, tr. 76 - 78.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: