Thứ sáu 11/09/2026 17:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vấn đề chuyển hóa một số tội danh xâm phạm sở hữu và kiến nghị hoàn thiện

Thực tiễn xét xử cho thấy, có nhiều hành vi phạm tội có tính chất tương đồng trong cấu thành tội phạm, rất dễ nhầm lẫn trong việc xác định tội danh để áp dụng trách nhiệm pháp lý hình sự đối với người phạm tội. Đã có nhiều trường hợp, cùng một hành vi tương tự nhưng cơ quan tiến hành tố tụng ở mỗi địa phương lại áp dụng pháp luật có sự khác nhau về tội danh, nhất là đối với các tội xâm phạm sở hữu.

Thực tiễn xét xử cho thấy, có nhiều hành vi phạm tội có tính chất tương đồng trong cấu thành tội phạm, rất dễ nhầm lẫn trong việc xác định tội danh để áp dụng trách nhiệm pháp lý hình sự đối với người phạm tội. Đã có nhiều trường hợp, cùng một hành vi tương tự nhưng cơ quan tiến hành tố tụng ở mỗi địa phương lại áp dụng pháp luật có sự khác nhau về tội danh, nhất là đối với các tội xâm phạm sở hữu. Một trong các nguyên nhân của việc định tội danh sai phải nói đến đó là việc chuyển hóa tội phạm đối với hành vi xảy ra trong thực tế dẫn đến sai lầm trong việc định tội. Bài viết này nghiên cứu một số tội danh xâm phạm sở hữu và đưa ra quan điểm, lập luận, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật góp phần tạo sự thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật.
1. Ý nghĩa của việc định tội danh đúng trong xác định trách nhiệm pháp lý hình sự người phạm tội
Định tội danh là sự xác nhận về mặt pháp lý phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được chủ thể của tội phạm thực hiện ra bên ngoài thực tế khách quan với các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm tương ứng được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Việc xác định một hành vi có phải là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự hay không thì việc định tội danh là quan trọng nhất. Định tội danh đúng, không chỉ có ý nghĩa đối với việc quyết định việc có khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can khi xác định người phạm tội, mà còn định hướng đến quá trình điều tra để chứng minh tội phạm, việc truy tố bị can theo tội gì, khung hình phạt nào và cuối cùng, Tòa án xét xử ra một bản án công minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Pháp luật không có quy định về cách thức định tội danh mà chỉ có các nghị quyết, thông tư hướng dẫn đối với một hoặc một số trường hợp nhất định. Thực tiễn, khi định tội danh, các cơ quan tiến hành tố tụng đều dựa trên cơ sở khoa học pháp lý về bốn yếu tố cấu thành tội phạm gồm: Khách thể của tội phạm; chủ thể của tội phạm; mặt khách quan của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm để định tội danh. Tuy nhiên, tội phạm diễn ra “muôn hình, muôn vẻ”, mỗi loại tội có một đặc trưng khác nhau, được thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan thông qua các hành vi khách nhau. Trong khi đó, định tội danh là một hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật có tính logic giữa lý luận và thực tiễn, nhằm xác định chính xác nhất cấu thành tội phạm phù hợp nhất với hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Định tội danh đúng không chỉ giảm thiểu rủi do pháp lý đối với hành vi của một con người cụ thể, mà còn là cơ sở để các các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện các hoạt động tố tụng được pháp luật quy định, quan trọng hơn nữa là việc loại trừ trách nhiệm hình sự, không để xảy ra tình trạng oan, sai, vụ án bị xét xử nhiều lần, qua nhiều cấp, từ đó, nâng cao vai trò của pháp luật, củng cố niềm tin của nhân dân đối với hệ thống tư pháp. Tuy nhiên, không phải lúc nào việc định tội danh cũng chính xác, thực tiễn vẫn còn có nhiều cách hiểu, áp dụng khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng dẫn đến trường hợp cơ quan điều tra khởi tố nhưng Viện kiểm sát yêu cầu thay đổi hoặc hủy bỏ, Viện kiểm sát truy tố nhưng Tòa án xét xử về tội danh khác do không cùng quan điểm. Theo thống kê từ năm 2018 đến hết năm 2020, Tòa án ở cấp huyện và cấp tỉnh xét xử 117.645 vụ/197.375 bị cáo. Tòa án xét xử khác tội danh, khung hình phạt Viện kiểm sát truy tố 647 vụ/1.162 bị cáo, chiếm 0,55% số bị cáo đã xét xử. Việc Tòa án xét xử khác Viện kiểm sát về tội danh xảy ra ở một số trường hợp có sự nhầm lẫn về dấu hiệu tội phạm giữa các tội khác nhau, trong đó có nhóm tội xâm phạm sở hữu như: Cướp, cưỡng đoạt, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản[1].
Trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm để định tội danh thì không có yếu tố nào quan trọng hơn yếu tố nào, bởi chỉ cầu thiếu một yếu tố thì không đủ cấu thành tội phạm và tương ứng với đó là không có tội phạm xảy ra. Để chứng minh tội phạm thì mặt khách quan luôn được chú trọng, mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm diễn ra và tồn tại trong thế giới khách quan. Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm gồm: Hành vi nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện tội phạm như thời gian, địa điểm, phương tiện, công cụ, hoàn cảnh[2]. Tuy nhiên, hành vi nguy hiểm cho xã hội được biểu hiện thông qua con người, mỗi hành vi của các chủ thể được thực hiện một cách khác nhau, do đó, khi xem xét hành vi đó thuộc nhóm tội nào, tội phạm cụ thể nào không phải lúc nào cũng dễ dàng, khi xét riêng hành vi đó thì cấu thành một tội nhưng tổng thể các hành vi thì lại phạm vào tội phạm khác, vì hành vi trên thực tế xảy ra không phải lúc nào cũng đồng nhất với quy định cụ thể trong luật, nhất là các tội có cùng khách thể loại. Do đó, khi định tội danh, đã có nhiều trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng định sai tội danh ngay từ khi khởi tố, điều tra hoặc trong giai đoạn truy tố và xét xử, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn đề này mà một trong số đó chính là vấn đề nhận thức về chuyển hóa tội danh đối với các tội có cùng khách thể.
Hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể như thế nào là chuyển hóa tội danh, mà nó chỉ được nghiên cứu trên phương diện học thuật. Thực tiễn từ trước đến nay, việc xử lý một số hành vi xâm phạm sở hữu đã và đang được các cơ quan tiến hành tố tụng vận dụng, đó là trường hợp chuyển hóa từ một số hình thức chiếm đoạt tại sản thành cướp tài sản được hướng dẫn tại Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ ngày 19/4/1989 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự. Sau đó, các cơ quan đã có hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn áp đụng một số quy định tại Chương XIV “các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật Hình sự năm 1999. Cả hai văn bản trên hướng dẫn việc chuyển hóa từ 03 hành vi chiếm đoạt tài sản là trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản thành tội cướp tài sản hoặc xác định tình tiết định khung là hành hung để tẩu thoát. Nhưng tổng kết quá trình xét xử, rất nhiều bản án nhận định các trường hợp chuyển hóa thành tội phạm khác như: Trộm cắp chuyển thành lừa đảo, công nhiên chiếm đoạt tài sản thành cưỡng đoạt tài sản, lừa đảo chuyển thành cướp giật…, từ đó, nảy sinh nhiều quan điểm khác nhau về định tội danh giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn tới nhiêu vụ án bị hủy, sửa và phải rút kinh nghiệm.
2. Quan điểm định tội danh của các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực tiễn đối với nhóm tội có chung khách thể xâm phạm sở hữu
Việc định tội danh đúng ngay từ đầu là hết sức cần thiết, nó là cơ sở đầu tiên để truy cứu trách nhiệm hình sự, chỉ khi định tội danh đúng mới có thể xác định trách nhiệm pháp lý hình sự đối với người phạm tội và cũng là tiền đề cho việc áp dụng pháp luật vào giải quyết vụ án. Như đã đề cập ở trên, có nhiều loại hành vi có tính chất chiếm đoạt chuyển hóa tội danh. Tuy nhiên, trong phạm vi hẹp, tác giả chỉ đề cập đến trường hợp có chuyển hóa tội danh từ lừa đảo sang cướp giật hay không và trường hợp xác định công nhiên chiếm đoạt tài sản hay cướp giật tài sản. Có thể dẫn ví dụ một vài bản án sau đây:
Vụ án thứ nhất: Khi điều khiển xe trên đường, Lý Văn H nhìn thấy chị Già Thị L, khi đến gần còn khoảng cách 02 mét thì phát hiện chị L đang cầm trên tay một chiếc điện thoại di động. Lúc này, H nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của chị L, H lại gần, tắt máy xe, giả vờ hỏi chị L đường đi. Sau khi được chỉ đường, H giả vờ mượn điện thoại của chị L để liên lạc về nhà. Do không nghi ngờ nên chị L chủ động mở khóa màn hình điện thoại đưa cho H. H ngồi trên xe máy bấm gọi điện, mục đích để chị L tin tưởng và chờ cơ hội tẩu thoát. Trong lúc gọi điện cho vợ thì H vẫn quan sát chị L, khi thấy chị L không chú ý, mất cảnh giác, tay trái của H cầm chiếc điện thoại của L cất vào túi áo mưa bên trái đang mặc, tay phải bật chìa khóa xe, vào số và nhanh chóng rú ga phóng xe đi. Quá trình giải quyết, Viện kiểm sát truy tố Lý Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Sau khi xét xử, Viện kiểm sát kháng nghị về tội danh, tuy nhiên không được cấp phúc thẩm chấp nhận[3].
Vụ án thứ hai: Nguyễn Văn Q đặt mua 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus qua mạng facebook với mục đích chiếm đoạt. Tối ngày 05/12/2018, nhân viên của cửa hàng là Hoàng Văn C đi giao hàng cho Q, khi hai bên gặp nhau, Q bảo C cho xem máy, anh C đưa cho Q 01 điện thoại và 01 sạc pin, tất cả được để trong 01 túi nilon. Q cầm xem khoảng 20 phút thì trả lại C và nói về nhà lấy tiền. Thực tế, Q không về nhà lấy tiền mà đứng nấp ở ngõ một lúc thì đi lại chỗ C và nói cho xem lại điện thoại. Khi anh C đưa điện thoại và sạc pin cho Q cầm kiểm tra khoảng 10 phút thì Q bảo anh C điện thoại cho nhân viên khác của cửa hàng hỏi việc thay pin như thế nào, lợi dụng lúc anh C gọi điện thoại, Q lấy điện thoại và bỏ chạy về nhà. Viện kiểm sát đã truy tố và Tòa án xét xử Nguyễn Văn Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”[4].
Vụ án thứ ba: Nguyễn Văn T đến cửa hàng của anh B để sửa điện thoại. Do anh B nói điện thoại của T phải sửa lâu mới xong nên T không sửa nữa và yêu cầu anh B cho T mượn chiếc điện thoại hiệu OPPO A57, màu trắng đang trưng bày trong tủ ra xem thì anh B đồng ý. Sau khi xem điện thoại, T thấy thích nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại này để sử dụng. Lợi dụng lúc anh B đang nói chuyện với khách hàng và thấy anh B đứng sau tủ kính trưng bày điện thoại cao, anh B không thể vượt qua để truy đuổi kịp nên T đã cầm điện thoại ra khỏi tiệm rồi điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Tòa án xét xử tuyên Nguyễn Văn T phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 172 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)[5].
Vụ án thứ tư: K đi bộ đến cửa hàng điện thoại X. Lúc này, tại cửa hàng có anh T là nhân viên đang đứng bán hàng nên vào vờ hỏi anh T cho xem chiếc điện thoại Iphone XS max màu vàng. Sau khi anh T đưa điện thoại cho K xem, K tiếp tục hỏi xem chiếc điện thoại Iphone X màu trắng, mục đích là để anh T không chú ý, K sẽ bỏ chạy nhằm chiếm đoạt tài sản. Anh T lấy chiếc điện thoại Iphone X đưa cho K. Thấy anh T đứng trong quầy phía sau tủ kính, K cầm chiếc điện thoại Iphone XS max màu vàng bỏ chạy. Tòa án tuyên K phạm tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)[6].
Qua các bản án nêu trên, có thể thấy, đã có những quan điểm giống và khác nhau khi định tội danh giữa cơ quan công tố và cơ quan xét xử hoặc cùng hành vi tương tự nhau nhưng mỗi địa phương lại xét xử theo tội danh khác nhau. Ở đây, nếu so sánh về hành vi khách quan của vụ án thứ nhất và vụ án thứ hai thì cả hai trường hợp người phạm tội đều có ý thức chiếm đoạt tài sản ngày từ đầu, đều sử dụng thủ đoạn gian dối để tiếp cận tài sản và thực tế bị hại đã tin tưởng và giao tài sản cho các bị cáo. Hành vi nêu trên thỏa mãn dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Xét tổng thể các hành vi, thì ngay sau khi được bị hại giao tài sản, các bị cáo đều lợi dụng sơ hở của bị hại, nhanh chóng tẩu thoát, nhưng đối với vụ án thứ nhất thì bị xét xử về tội cướp giật tài sản, còn vụ án thứ hai thì bị kết án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo tác giả, trong hai trường trường hợp này thì hành vi gian đối chỉ là thủ đoạn hay nói cách khác là cách thức tiếp cận tài sản, còn hành vi nhanh chóng tẩu thoát bằng cách phóng xe, bỏ chạy ngay khi có được tài sản, trước mặt người bị hại mới quyết định tội phạm hoàn thành, tức hành vi trước chỉ là tiền đề để thực hiện hành vi sau. Do vậy, đã có sự chuyển hóa từ lừa đảo sang cướp giật, điều này thể hiện đúng bản chất của vụ án.
Đối với vụ án thứ ba và thứ tư, xét về hành vi khách quan là tương tự nhau, nhưng mỗi cấp xét xử tại các địa phương lại định tội danh khác nhau. Tác giả cho rằng, để định tội đúng, cũng phải xem xét đầy đủ hành vi khách quan của người phạm tội. Mặc dù ở cả hai vụ án này, các bị cáo đều lợi dụng sự sơ hở của bị hại và vị trí các bị hại đều ở trong quầy bán điện thoại, khó có thể ngăn chặn được ngay việc chiếm đoạt của các bị cáo, nhưng đây chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải điều kiện đủ để các bị cáo có thể ngang nhiên thực hiện hành vi. Trong cấu thành của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội thường công khai thực hiện hành vi trước mặt chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu giao quản lý tài sản, người phạm tội không có ý định giấu giếm trước, trong và cả sau khi chiếm đoạt. Trong khi đó, ở các trường hợp trên, để chiếm đoạt được tài sản, ngay từ đầu đã có sự lợi dụng hoàn cảnh khách quan, thực hiện hành vi ngay trước mặt bị hại, nhưng sau đó lại chuyển hóa về hành vi phạm tội bằng cách các bị cáo đều có hành động nhanh chóng tẩu thoát khi có được tài sản trong tay. Do đó, hành vi này phải được xác định là cướp giật tài sản thì mới phản ánh đầy đủ tính nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Trên đây chỉ là một vài trường hợp về các hành vi phạm tội có quan điểm khác nhau về định tội danh, nhưng cũng đủ để chúng ta thấy việc áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án đã có sự nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Việc áp dụng không thống nhất sẽ dẫn tới hệ lụy trong xác định trách nhiệm pháp lý của người phạm tội, nhất là các nhóm tội xâm phạm sở hữu rất dễ có sự nhầm lẫn khi xác định hành vi có chuyển hóa tội danh hay không. Sự nguy hiểm khi định sai tội danh nằm ở chỗ, các tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản có quy định về định lượng tài sản bị chiếm đoạt tối thiểu là từ 2.000.000 đồng làm dấu hiệu định tội (trừ trường hợp trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã bị kết án mà chưa được xóa án tích…) hay còn gọi là tội phạm có cấu thành vật chất; ngược lại tội cướp giật tài sản lại có cấu thành hình thức, tức là hành vi chỉ cần thỏa mãn dấu hiệu thuộc mặt khách quan là tội phạm đã hoàn thành.
3. Một số kiến nghị
Một là, các cơ quan trung ương cần ban hành thông tư liên tịch hoặc Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn cụ thể về chuyển hóa tội phạm, các trường hợp chuyển hóa tội phạm khi hành vi có dấu hiệu thuộc mặt khách quan của các tội khác nhau nhưng cùng có mục đích chiếm đoạt tài sản, trong đó có hướng dẫn việc chuyển hóa hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản sang tội cướp giật tài sản. Cụ thể:
- Đưa ra khái niệm thống nhất về chuyển hóa tội phạm theo hướng như sau: Chuyển hóa tội phạm là trường hợp tội phạm đã được thực hiện thỏa mãn từ hai cấu thành tội phạm khác nhau trở lên có chung khách thể, nhưng hành vi sau có mức độ nguy hiểm hơn cao hơn so với hành vi thực hiện trước đó, dẫn tới mức độ nguy hiểm cho xã hội có sự thay đổi thì đã có sự chuyển hóa và lúc này tội phạm hoàn thành tương ứng với hành vi nguy hiểm hơn.
- Hướng dẫn một số trường hợp chuyển tội danh đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu, trong đó quy định nếu ban đầu hành vi của người phạm tội có dấu hiệu gian đối hoặc công khai để có được tài sản, nhưng ngay khi có được tài sản đã nhanh chóng tẩu thoát trước sự chứng kiến của bị hại thì hành vi đó đã chuyển hóa từ lừa đảo, công nhiên thành cướp giật và trường hợp này cần định tội danh là “Cướp giật tài sản”.
Hai là, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét, lựa chọn những bản án có quan điểm khác nhau của các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc những bản án xuất hiện các tình tiết dễ gây nhầm lẫn trong định tội danh, có thể phát triển thành án lệ để các cơ quan tiến hành tố tụng nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn giải quyết.

Phạm Văn Tuân
Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: