Thứ sáu 15/05/2026 17:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vấn đề công bằng xã hội theo pháp luật về chế độ hưu trí tại Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện

Việt Nam đã tạo một hành lang pháp lý cũng như môi trường, “sân chơi” bình đẳng cho mọi đối tượng trong việc hưởng quyền ASXH nói chung, quyền hưởng lương hưu, quyền được đảm bảo thu nhập về già nói riêng thông qua việc tham gia các loại hình BHXH trong hệ thống ASXH. Tuy nhiên, trong hệ thống pháp luật về BHXH nói vẫn còn tồn tại nhiều quy định pháp luật thể hiện sự chưa bình đẳng giữa các đối tượng tham gia

1. Nhà nước ghi nhận và tạo điều kiện để mọi người dân có thể thực hiện quyền hưởng an sinh xã hội/bảo hiểm xã hội

Ngay từ rất sớm, Chính phủ Việt Nam đã quan tâm đến đời sống của người dân nói chung, cá nhân, người lao động khi về già nói riêng qua các giai đoạn, thời kỳ phát triển của đất nước. Điều này được khẳng định tại Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương “sẽ đặt ra Luật Bảo hiểm xã hội”[1] với việc lập quỹ hưu bổng dành cho người già (năm 1940). Sau đó, Mặt trận Việt Minh (năm 1941) công bố mục tiêu trong Chương trình Việt Minh: Sau khi giành độc lập sẽ thành lập Chính phủ do quốc dân bầu ra và thực hiện các chính sách mang lại quyền lợi cho nhân dân, người lao động với nội dung: “Thợ thuyền già có lương hưu trí, cải thiện chế độ làm việc”[2]… Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền được đảm bảo an sinh xã hội”[3]. Theo đó, Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng đối tượng được đảm bảo an sinh xã hội (ASXH) là mọi công dân gồm: Người già, trẻ em, cán bộ công chức nhà nước, viên chức, người lao động thuộc các thành phần kinh tế chứ không còn đề cập đến một đối tượng cụ thể (người già hay trẻ em hay cán bộ, công chức) như các bản Hiến pháp trước đó.

Song song với việc tôn trọng, ghi nhận quyền hưởng ASXH, Hiến pháp năm 2013 còn ghi nhận trách nhiệm, nghĩa vụ đảm bảo cho người dân thực hiện quyền ASXH thông qua việc mở rộng các dịch vụ, loại hình bảo hiểm xã hội (BHXH). “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội…”. Ngoài ra, vấn đề này còn được đề cập trong các văn bản quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966 (Việt Nam gia nhập Công ước này vào ngày 24/9/1982). Như vậy, quyền hưởng ASXH là quyền công dân và Nhà nước là chủ thể có nghĩa vụ, trách nhiệm đảm bảo cho công dân thực hiện quyền hưởng ASXH này. Nói cách khác, Việt Nam có trách nhiệm chuyển quyền hưởng ASXH (theo nghĩa rộng) đã ghi nhận, tuyên bố trong hệ thống pháp luật sang trạng thái có tính chất khả khi, chứ không để dưới dạng là “tuyên ngôn chính trị”.

Trên cơ sở đó, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội cùng các văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành và có hiệu lực thi hành cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo và tổ chức thực hiện quyền hưởng ASXH cho người dân. Đồng thời, đây cũng như là cơ sở pháp lý để cá nhân, người lao động thực hiện quyền tham gia chế độ hưu trí, quyền được hưởng lương hưu thông qua việc tham gia các loại hình BHXH (bắt buộc hoặc tự nguyện), chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện theo nguyên tắc có đóng, có hưởng.

Như vậy, Việt Nam đã tạo một hành lang pháp lý cũng như môi trường, “sân chơi” bình đẳng cho mọi đối tượng trong việc hưởng quyền ASXH nói chung, quyền hưởng lương hưu, quyền được đảm bảo thu nhập về già nói riêng thông qua việc tham gia các loại hình BHXH trong hệ thống ASXH. Tuy nhiên, trong hệ thống pháp luật về BHXH nói vẫn còn tồn tại nhiều quy định pháp luật thể hiện sự chưa bình đẳng giữa các đối tượng tham gia, cụ thể:

Một là, có sự phân biệt về quyền lợi được hưởng giữa các đối tượng cùng tham gia BHXH bắt buộc

Một trong những điểm mới của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 là việc quy định người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Có thể nói, việc bổ sung người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã vào nhóm đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đã góp phần vào mục tiêu mở rộng đối tượng tham gia BHXH, làm gia tăng độ bao phủ của BHXH. Mặt khác, quy định mới này còn có ý nghĩa quan trọng đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã trong việc tham gia và hưởng các chế độ từ BHXH, thể hiện sự bình đẳng giữa các cá nhân, đối tượng cùng làm trong khu vực cơ quan nhà nước.

Tuy nhiên, không giống như các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc khác (công chức, viên chức, người lao động làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn…), người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã chỉ được hưởng 02 quyền lợi BHXH gồm: Chế độ tử tuất và chế độ hưu trí. Như vậy, nhóm đối tượng này không được hưởng các chế độ BHXH ngắn hạn (chế độ ốm đau, chế độ thai sản...). Quy định này cho thấy, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã chịu thiệt thòi, chưa ngang bằng về mặt quyền lợi dù họ cũng là đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Điều này chưa phù hợp với tinh thần bình đẳng, công bằng xã hội trong Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban chấp hành Trung ương về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội (Nghị quyết số 28-NQ/TW).

Thiết nghĩ, bên cạnh chế độ hưu trí và chế độ tử tuất thì cần thiết phải bổ sung thêm các chế độ BHXH ngắn hạn dành cho nhóm đối tượng này. Điều này vừa đảm bảo được tính công bằng giữa các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, vừa đảm bảo nguyên tắc có đóng, có hưởng của BHXH nói chung, chế độ hưu trí nói riêng. Mặt khác, góp phần tạo điều kiện cho người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã để họ an tâm làm việc, cống hiến cho xã hội, địa phương và đất nước.

Hai là, có sự khác biệt về chế độ được hưởng giữa người tham gia BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện

Theo kết quả thống kê, số lượng người tham gia BHXH tự nguyện chỉ bằng 1,7% so với BHXH bắt buộc, chiếm 0,6% so với lực lượng lao động thuộc diện tham gia của khu vực phi chính thức và bằng 0,4% tổng lực lượng lao động[4]. Điều này cho thấy, tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện của cá nhân, người lao động còn thấp, chưa tương xứng với nguồn nhân lực hiện có trong khu vực phi chính thức hiện nay tại Việt Nam. Do vậy, để thu hút cá nhân, người lao động tham gia BHXH tự nguyện, trước tiên về mặt chính sách, pháp luật, cần phải tạo ra sự công bằng xã hội đối với các đối tượng tham gia BHXH cũng như mở rộng diện bao phủ của chế độ hưu trí nói riêng, BHXH nói chung. Theo đó, pháp luật cần tạo điều kiện, dành cho nhóm đối tượng này những “ưu đãi” nhất định để tăng tính hấp dẫn của BHXH tự nguyện đối với cá nhân, người lao động.

Một trong những phương cách có thể làm tăng tính hấp dẫn của BHXH tự nguyện là nên bổ sung thêm quyền lợi, chế độ được hưởng đối với người tham gia BHXH tự nguyện. Bởi lẽ, căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì người tham gia BHXH tự nguyện chỉ được hưởng quyền lợi, gồm: Chế độ hưu trí và chế độ tử tuất[5]. Điều này cho thấy, quyền lợi dành cho đối tượng tham gia BHXH tự nguyện còn ít, không có các chế độ BHXH ngắn hạn. Trong khi đó, các chế độ BHXH ngắn hạn (chế độ ốm đau, chế độ thai sản) có ý nghĩa quan trọng, là những quyền lợi thiết yếu, sát sườn gắn với mỗi cá nhân, người lao động, đặc biệt là lao động nữ trong cả khu vực chính thức và phi chính thức. Đây cũng là một trong những lý do mà BHXH tự nguyện chưa thực sự hấp dẫn, thu hút các đối tượng tham gia.

Do vậy, cần thiết phải bổ sung quyền lợi về chế độ ốm đau, chế độ thai sản để tăng tính hấp dẫn của BHXH tự nguyện đối với cá nhân, người lao động, đặc biệt là lao động nữ. Việc điều chỉnh, bổ sung này cũng phù hợp với tình hình thực tiễn tại Việt Nam hiện nay; và nhất quán với tinh thần “xây dựng chính sách BHXH bảo đảm sự công bằng, không phân biệt đối xử giữa các nhóm đối tượng tham gia; cũng như góp phần vào việc thực hiện mục tiêu tỷ lệ nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện chiếm khoảng 01% lực lượng lao động trong độ tuổi được ghi nhận tại Nghị quyết số 28-NQ/TW.

2. Nguyên tắc có đóng, có hưởng khi tham gia pháp luật về chế độ hưu trí

Có thể nói, nguyên tắc có đóng, có hưởng thể hiện bản chất kinh tế của BHXH nói chung, chế độ hưu trí nói riêng. Nghĩa là, muốn được hưởng quyền lợi từ chế độ hưu trí thì cá nhân phải tham gia và đóng góp vào quỹ hưu trí theo một mức nhất định trong thời gian luật định. Nói cách khác, việc tham gia đóng góp của cá nhân, người lao động (hoặc cùng với chủ thể khác) trong thời gian còn làm việc, lao động là tiền đề, điều kiện tiên quyết để họ được hưởng các chế độ của BHXH, trong đó có chế độ hưu trí. Việc tham gia đóng góp của người tham gia là cơ sở duy nhất để họ được nhận trợ cấp hưu trí khi phát sinh sự kiện pháp lý, điều kiện được bảo vệ. Nguyên tắc này được thể hiện rõ nét trong Công ước 102 về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội năm 1952 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO).

Tại Việt Nam, nguyên tắc có đóng có hưởng được thể hiện thông qua điều kiện hưởng lương hưu được quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014. Theo đó, để được hưởng lương hưu hàng tháng thì cá nhân, người lao động phải đáp ứng điều kiện: Tham gia, đóng góp vào quỹ hưu trí và tử tuất (quỹ BHXH); Đủ tuổi nghỉ hưu. Có thể hiểu, nguyên tắc có đóng, có hưởng là biểu hiện của tính công bằng, bình đẳng giữa các đối tượng tham gia đóng góp vào quỹ. Theo đó, muốn được hưởng quyền lợi từ chế độ hưu trí thì người tham gia có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ (trừ các đối tượng được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội[6]).

Ngoài ra, cũng theo nguyên tắc có đóng, có hưởng thì mức trợ cấp hưu trí chi trả cho đối tượng thụ hưởng (cá nhân, người lao động) được tính trên cơ sở mức đóng góp của họ thực hiện trong thời gian làm việc. Nói cách khác, mức hưởng trợ cấp tuổi già tỷ lệ thuận với mức đóng của người thụ hưởng, đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng tham gia. Theo đó, tùy vào loại chế độ hưu trí theo các loại hình BHXH (bắt buộc hoặc tự nguyện, chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện) mà pháp luật Việt Nam quy định có sự khác nhau về mức hưởng. Về cơ bản, cá nhân, người lao động tham gia BHXH (bắt buộc và tự nguyện) thì có thể hưởng BHXH một lần; hoặc hưởng lương hưu hàng tháng phụ thuộc vào thời gian đóng, mức đóng của họ trong thời gian còn làm việc. Trường hợp, người lao động có thời gian đóng BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75% thì khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu[7].

Đối với Chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện mỗi người lao động đều được cung cấp một tài khoản hưu trí cá nhân dùng để: Ghi nhận các khoản đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động; và kết quả đầu tư từ khoản đóng góp. Khi người tham gia quỹ hưu trí đáp ứng đủ điều kiện thụ hưởng theo hợp đồng tham gia quỹ và văn bản thỏa thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động về việc tham gia quỹ hưu trí theo quy định của Điều lệ quỹ hưu trí, thì tổ chức lưu ký thực hiện việc thanh toán tiền cho người tham gia quỹ trên cơ sở yêu cầu của doanh nghiệp quản lý quỹ. Do vậy, việc chi trả, thanh toán từ tài khoản hưu trí cá nhân của quỹ hưu trí trong Chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện không chỉ phụ thuộc vào độ tuổi nghỉ hưu mà còn phụ thuộc vào thỏa thuận trước đó giữa các bên có liên quan. Mức hưởng của người tham gia quỹ hưu trí phụ thuộc vào giá trị tài khoản hưu trí cá nhân cũng như kết quả đầu tư từ khoản đóng góp sau khi trừ chi phí hoạt động của quỹ hưu trí.

Mặc dù vậy, trong một số trường hợp thì nguyên tắc có đóng có hưởng này chưa được thể hiện rõ vai trò, ý nghĩa và bản chất của mình. Thể hiện rõ nhất là quy định về mức đóng góp vào quỹ BHXH của người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Theo Điều 85 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, tỷ lệ tham gia BHXH bắt buộc là 22%, trong đó, người lao động đóng 8%; người sử dụng lao động đóng 14% mức lương cơ sở hàng tháng. Có thể nhận thấy, với cách quy định mức đóng “cố định” là “22% mức lương cơ sở hàng tháng” đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã vô tình hạn chế việc tham gia đóng góp của người lao động. Theo đó, đối tượng tham gia muốn đóng góp vào quỹ BHXH với mức cao hơn mức lương cơ sở hàng tháng nhằm nâng cao mức lương hưu được hưởng trong tương lai thì họ cũng không thực hiện được mong muốn của mình.

Trên thực tế, tùy thuộc vào tình hình thực tế ở địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã làm việc đồng ý chi trả thêm các khoản hỗ trợ hoặc mong muốn đóng BHXH với mức đóng cao hơn 14% mức lương cơ sở hàng tháng cho cán bộ của mình thì cũng không có cơ sở pháp lý để thực hiện. Như vậy, vô hình trung, quy định pháp luật hiện hành đã làm hạn chế việc tham gia BHXH với mức đóng góp cao hơn theo khả năng, điều kiện thực tế nhằm góp phần đảm bảo quyền lợi cho đối tượng là cán bộ không chuyên trách ở cấp xã. Điều này đã đi ngược lại với nguyên tắc có đóng, có hưởng của BHXH nói chung, chế độ hưu trí nói riêng.

Tương tự, theo quy định của pháp luật hiện hành thì người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã muốn tự mình đóng góp (hoặc đơn vị nơi họ làm việc muốn hỗ trợ đóng góp) bổ sung với mục đích tạo điều kiện cho người lao động được hưởng đầy đủ các chế độ (chế độ ốm đau; chế độ thai sản; chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp) như cán bộ chuyên trách thì cũng không có căn cứ, cơ sở pháp lý để thực hiện. Nên chăng, cần có quy định linh hoạt trong việc cho phép người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được phép lựa chọn tham gia bổ sung các chế độ BHXH ngắn hạn (nếu như pháp luật không quy định bổ sung các chế độ BHXH ngắn hạn) bên cạnh quy định hiện hành về quyền lợi khi tham gia BHXH.

Cũng giống như người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, vấn đề này cũng cần được xem xét, cân nhắc như đối với đối tượng tham gia BHXH tự nguyện. Theo đó, cũng cần có quy định linh hoạt trong việc cho phép đối tượng tham gia BHXH tự nguyện được phép lựa chọn tham gia bổ sung các chế độ BHXH ngắn hạn. Điều này vừa đảm bảo được mục tiêu ASXH, vừa đảm bảo nguyên tắc có đóng, có hưởng của cá nhân, người lao động khi tham gia BHXH.

Tóm lại, pháp luật về chế độ hưu trí là một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật Việt Nam nói riêng và các quốc gia trên thế giới nói chung. Do đó, bên cạnh việc tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền tham gia chế độ hưu trí, quyền hưởng lợi từ việc tham gia đó thì pháp luật về chế độ hưu trí cũng cần phải đảm bảo sự công bằng xã hội đối với các đối tượng tham gia. Qua đó, thu hút các đối tượng tham gia để mở rộng diện bao phủ của BHXH, góp phần vào việc đảm bảo ASXH của đất nước.

ThS. Phạm Thị Thi

Trường Đại học Tài chính - Kế toán, Quảng Ngãi


[1] TS Nguyễn Văn Thắng, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về An sinh xã hội ở nước ta”, http://tapchibaohiemxahoi.gov.vn/tin-tuc/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-an-sinh-xa-hoi-o-nuoc-ta-17644 (truy cập ngày 02/3/2018).

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), “Văn Kiện Đảng toàn tập – tập 7”, NXB Chính trị Quốc gia, trang 469.

[3] Xem Điều 34 Hiến pháp năm 2013.

[4] TS. Bùi Sỹ Tuấn (2019), “Cơ sở lý luận và thực tiễn mở rộng diện bao phủ BHXH với lực lượng lao động phi chính thức”, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, kỳ 02, tháng 01/2019 (362), trang 27.

[5] Xem Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014

[6] Chính phủ (2013), Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 quy định về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội

[7] Xem Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: