Thứ hai 25/05/2026 09:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vấn đề hỗ trợ nhân đạo theo quy định của Nghị định số 24/2019/NĐ-CP

Hỗ trợ nhân đạo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được Nhà nước ta khuyến khích đối với các tổ chức, cá nhân. Nếu việc hỗ trợ nhân đạo được thực hiện đúng mục đích, theo quy định pháp luật thì sẽ góp phần vào việc chăm sóc và bảo vệ cũng như tìm được mái ấm gia đình thay thế cho trẻ em. Ngược lại, nếu thực hiện sai mục đích và trái quy định thì điều này sẽ làm phát sinh một số hệ quả không mong muốn, trong đó có việc mua bán trẻ em, qua đó ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, đặc biệt là quyền được sống trong môi trường gia đình, cũng như làm xói mòn tính nhân văn, nhân đạo của công tác giải quyết nuôi con nuôi.


Công ước về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc[1] và Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế[2] nghiêm cấm việc thu lợi bất chính từ hoạt động cho nhận con nuôi, nước thành viên có nghĩa vụ thực hiện mọi biện pháp thích hợp để bảo đảm rằng việc cho trẻ em làm con nuôi quốc tế không dẫn đến sự trục lợi không chính đáng về tài chính, có các biện pháp thích hợp nhằm bảo đảm công khai, minh bạch các khoản hỗ trợ tài chính cũng như tách bạch giữa hỗ trợ nhân đạo với việc giải quyết nuôi con nuôi quốc tế.

Trên thực tế, việc hỗ trợ nhân đạo đã góp phần nâng cao chất lượng, điều kiện sinh hoạt, khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của trẻ em ở các cơ sở trợ giúp xã hội trong khi ngân sách nhà nước chưa đủ đáp ứng nhu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em. Tuy nhiên, qua công tác quản lý nhà nước của Cục Con nuôi cho thấy, việc hỗ trợ nhân đạo (mà chủ yếu thông qua hình thức hỗ trợ tài chính) còn tồn tại một số bất cập như việc hỗ trợ dưới hình thức tặng cho phần lớn không có hóa đơn, chứng từ, không báo cáo các cơ quan quản lý. Điều này dẫn đến tình trạng cơ quan quản lý nhà nước khó theo dõi, kiểm tra và giám sát việc tiếp nhận và sử dụng các khoản hỗ trợ, tặng cho này được bảo đảm đúng mục đích. Bên cạnh đó, thực trạng này có thể dẫn đến sự “cạnh tranh ngầm” giữa các tổ chức con nuôi để được địa phương “ưu tiên” giới thiệu trẻ. Thực trạng đó đã khiến cho các nước có quan hệ hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế với Việt Nam đặc biệt quan ngại.

Để bảo đảm cho việc hỗ trợ và sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo minh bạch và đúng mục đích, tuân thủ các quy định và chuẩn mực quốc tế, khắc phục thực trạng như đã nêu trên, Nghị định số 24/2019/NĐ-CP ngày 05/3/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi (Nghị định số 24/2019/NĐ-CP) đã sửa đổi, bổ sung về vấn đề hỗ trợ nhân đạo được quy định tại Điều 4 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin được giới thiệu những nội dung cơ bản của việc hỗ trợ nhân đạo theo quy định tại Nghị định số 24/2019/NĐ-CP và những điểm mới của Nghị định về vấn đề này.

1. Mục đích của việc hỗ trợ nhân đạo

Nghị định số 24/2019/NĐ-CP quy định: Việc hỗ trợ, tiếp nhận, quản lý, sử dụng hỗ trợ nhân đạo nhằm mục đích nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em và tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.

Như vậy, theo quy định trên, việc hỗ trợ nhân đạo, bên cạnh mục đích chính là nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở cơ sở nuôi dưỡng còn hướng tới mục đích tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em ở các cơ sở này.

Trên thực tế, những năm vừa qua, việc hỗ trợ nhân đạo chủ yếu tập trung vào mục đích nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em và điều này đã góp phần nâng cao chất lượng, điều kiện sinh hoạt, khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của trẻ em ở các cơ sở nuôi dưỡng. Tuy nhiên, việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em sẽ không thực sự phát huy hiệu quả như mong muốn nếu như đội ngũ cán bộ, nhân viên trực tiếp thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ còn có những hạn chế về năng lực và không được thường xuyên cập nhật các kiến thức, kỹ năng mới về những lĩnh vực có liên quan tới công tác này. Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, việc trang bị kiến thức, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em ở các cơ sở nuôi dưỡng còn chưa thực sự được các cơ sở nuôi dưỡng quan tâm, chú trọng. Do vậy, việc bổ sung quy định “sử dụng hỗ trợ nhân đạo nhằm mục đích tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng” của Nghị định số 24/2019/NĐ-CP là thực sự thiết thực, góp phần nâng cao hiệu quả việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em và vì lợi ích tốt nhất của trẻ.

2. Hình thức và nguyên tắc hỗ trợ nhân đạo

Về hình thức hỗ trợ nhân đạo, Nghị định số 24/2019/NĐ-CP quy định: Cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước hỗ trợ nhân đạo thông qua chương trình, dự án, viện trợ phi dự án hoặc tài trợ cho Quỹ bảo trợ trẻ em.

Về nguyên tắc hỗ trợ nhân đạo, việc kêu gọi, khuyến khích vấn đề hỗ trợ nhân đạo là chủ trương đúng đắn và cần thiết nhằm huy động tối đa sự quan tâm, giúp đỡ của toàn xã hội đối với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Nuôi con nuôi thì “việc hỗ trợ nhân đạo không được ảnh hưởng đến việc cho nhận con nuôi” (Điều 7), điều này có nghĩa là cần tách bạch rõ vấn đề hỗ trợ nhân đạo với việc xin nhận trẻ em làm con nuôi, không được coi hỗ trợ nhân đạo như là điều kiện để xin trẻ em làm con nuôi. Trên tinh thần của Luật Nuôi con nuôi, Nghị định số 19/2011/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung đã quy định rõ: “Khi hỗ trợ nhân đạo, cá nhân, tổ chức không được yêu cầu cơ sở nuôi dưỡng cho trẻ em làm con nuôi; cơ sở nuôi dưỡng không được cam kết cho trẻ em làm con nuôi vì lý do đã nhận hỗ trợ nhân đạo”. Đây cần được coi là yêu cầu, là nguyên tắc quan trọng nhằm bảo đảm việc hỗ trợ nhân đạo không ảnh hưởng đến việc cho nhận con nuôi. Bên cạnh yêu cầu cần tách bạch rõ vấn đề hỗ trợ nhân đạo với việc xin nhận trẻ em làm con nuôi, để bảo đảm tính công khai, minh bạch về tài chính, Nghị định số 24/2019/NĐ-CP đã bổ sung quy định về hình thức, cách thức thực hiện hỗ trợ nhân đạo nếu việc hỗ trợ đó là hỗ trợ về tài chính, theo đó, Nghị định quy định: Trường hợp cá nhân, tổ chức hỗ trợ nhân đạo bằng tiền thì phải thực hiện thông qua tài khoản của cơ sở nuôi dưỡng.

Nguyên tắc hỗ trợ nhân đạo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định tại Nghị định số 24/2019/NĐ-CP cần được lưu ý:

- Việc hỗ trợ nhân đạo phải tách bạch với nuôi con nuôi, công khai và minh bạch về tài chính.

- Việc hỗ trợ nhân đạo phải đúng mục đích là nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em và tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên của cơ sở nuôi dưỡng.

- Trường hợp cá nhân, tổ chức hỗ trợ nhân đạo bằng tiền thì phải thực hiện thông qua tài khoản của cơ sở nuôi dưỡng.

3. Trách nhiệm của cha mẹ nuôi, tổ chức con nuôi và cơ sở nuôi dưỡng khi thực hiện việc hỗ trợ, tiếp nhận hỗ trợ nhân đạo

Như đã phản ánh, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực của việc hỗ trợ nhân đạo mà cha mẹ nuôi và các tổ chức con nuôi nước ngoài thực hiện đối với các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em, trong những năm vừa qua, việc hỗ trợ nhân đạo còn bộc lộ, tồn tại một số bất cập.

Để khắc phục thực trạng nêu trên, nhằm tăng cường hiệu quả của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực nuôi con nuôi, bảo đảm cho việc hỗ trợ và sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo minh bạch và đúng mục đích, tuân thủ các quy định và chuẩn mực quốc tế, Nghị định số 24/2019/NĐ-CP đã bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm của cha mẹ nuôi, tổ chức con nuôi trong quá trình thực hiện việc hỗ trợ nhân đạo và trách nhiệm của cơ sở nuôi dưỡng trong quá trình thực hiện việc tiếp nhận hỗ trợ nhân đạo. Cụ thể:

- Đối với cha mẹ nuôi nước ngoài và tổ chức con nuôi nước ngoài: Cha mẹ nuôi nước ngoài có trách nhiệm thông tin cho tổ chức con nuôi nước ngoài về các khoản hỗ trợ nhân đạo đã thực hiện ở Việt Nam; định kỳ 06 tháng và hàng năm hoặc theo yêu cầu, tổ chức con nuôi nước ngoài báo cáo Cục Con nuôi thuộc Bộ Tư pháp các khoản hỗ trợ nhân đạo của cha mẹ nuôi và của tổ chức.

- Đối với cơ sở nuôi dưỡng: Định kỳ 06 tháng và hàng năm hoặc theo yêu cầu, cơ sở nuôi dưỡng báo cáo việc tiếp nhận, sử dụng và quản lý các khoản hỗ trợ nhân đạo theo quy định của pháp luật và báo cáo Cục Con nuôi về việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo của cha mẹ nuôi và tổ chức con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam.

4. Yêu cầu khi thực hiện việc hỗ trợ và tiếp nhận hỗ trợ nhân đạo

Cha mẹ nuôi nước ngoài, tổ chức con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam hỗ trợ nhân đạo trên tinh thần tự nguyện, chỉ được hỗ trợ khi hoàn tất thủ tục nhận con nuôi ở Việt Nam.

Nghị định số 24/2019/NĐ-CP không chỉ quy định các vấn đề mang tính nguyên tắc và trách nhiệm của các bên khi thực hiện việc hỗ trợ và tiếp nhận hỗ trợ nhân đạo mà còn yêu cầu việc hỗ trợ và tiếp nhận hỗ trợ nhân đạo phải bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục và việc quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ, tài trợ.

Liên quan đến các quy định của pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục hỗ trợ và tiếp nhận hỗ trợ nhân đạo cũng như việc quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ, tài trợ của các cơ sở nuôi dưỡng, trong phạm vi bài viết này, tác giả xin giới thiệu một số văn bản quy phạm pháp luật sau[3]:

- Nghị định số 93/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài quy định phạm vi, đối tượng, thẩm quyền phê duyệt, trình tự, thủ tục về việc tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài từ các cá nhân, tổ chức nước ngoài.

Theo điểm d khoản 4 Điều 1 Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài, các đối tượng được tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài bao gồm cơ sở bảo trợ xã hội được thành lập theo quy định của pháp luật. Hỗ trợ nhân đạo là một trong những lĩnh vực ưu tiên sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài (điểm đ khoản 4 Điều 1 Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài). Các khoản viện trợ phi chính phủ nước ngoài chỉ được thực hiện sau khi đã được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

- Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ gúp xã hội quy định cơ sở nuôi dưỡng sử dụng và quản lý các nguồn trợ giúp từ tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước phải theo quy định của pháp luật, Quy chế hoạt động, Quy chế chi tiêu của cơ sở trợ giúp xã hội. Cơ sở trợ giúp xã hội có trách nhiệm báo cáo kết quả tài chính theo quy định của pháp luật[4].

Tóm lại, Nghị định số 24/2019/NĐ-CP đã có những sửa đổi, bổ sung khá toàn diện về các nội dung có liên quan đến vấn đề hỗ trợ nhân đạo, theo đó, Nghị định đã đặt ra những yêu cầu, nguyên tắc cơ bản của việc hỗ trợ nhân đạo, trách nhiệm của cha mẹ nuôi, tổ chức con nuôi và cơ sở nuôi dưỡng trong quá trình thực hiện việc hỗ trợ và tiếp nhận, quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo. Việc tuân thủ đầy đủ các quy định của Nghị định liên quan đến vấn đề hỗ trợ nhân đạo sẽ là một trong những giải pháp quan trọng, hữu hiệu, đảm cho việc hỗ trợ và sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo minh bạch, tuân thủ các quy định và chuẩn mực quốc tế, đồng thời, qua đó, hỗ trợ nhân đạo sẽ thực sự đạt được mục đích góp phần vào việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em, bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Trần Thị Ngọc Trâm

Cục Con nuôi, Bộ Tư pháp





[1]. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước vào ngày 20/02/1990 và đến ngày 02/9/1990, Công ước có hiệu lực.

[2]. Việt Nam chính thức trở thành thành viên Công ước La Hay năm 1993 vào ngày 01/02/2012.

[3]. Bài viết chỉ đề cập tới những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan chủ yếu, trực tiếp tới việc hỗ trợ, tiếp nhận, quản lý, sử dụng hỗ trợ nhân đạo của cha mẹ nuôi, tổ chức con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam ở cơ sở nuôi dưỡng, ngoài ra không đề cập đến Luật Ngân sách nhà nước, Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước, Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28/6/2012 quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập…

[4]. Kinh phí hoạt động bao gồm cả nguồn trợ giúp từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước (điểm d khoản 1 Điều 9 Nghị định số 103/2017/NĐ-CP). Cơ sở trợ giúp xã hội thực hiện quản lý tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 10 Nghị định số 103/2017/NĐ-CP). Việc sử dụng và quản lý các nguồn kinh phí phải thực hiện công khai, minh bạch và theo quy chế hoạt động, quy chế chi tiêu của cơ sở (khoản 2 Điều 10 Nghị định số 103/2017/NĐ-CP). Cơ sở trợ giúp xã hội có trách nhiệm báo cáo kết quả tài chính định kỳ và hàng năm theo quy định của pháp luật (khoản 3 Điều 10 Nghị định số 103/2017/NĐ-CP).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: