Thứ ba 22/09/2026 17:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vấn đề hỗ trợ nhân đạo theo quy định của Nghị định số 24/2019/NĐ-CP

Hỗ trợ nhân đạo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được Nhà nước ta khuyến khích đối với các tổ chức, cá nhân. Nếu việc hỗ trợ nhân đạo được thực hiện đúng mục đích, theo quy định pháp luật thì sẽ góp phần vào việc chăm sóc và bảo vệ cũng như tìm được mái ấm gia đình thay thế cho trẻ em. Ngược lại, nếu thực hiện sai mục đích và trái quy định thì điều này sẽ làm phát sinh một số hệ quả không mong muốn, trong đó có việc mua bán trẻ em, qua đó ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, đặc biệt là quyền được sống trong môi trường gia đình, cũng như làm xói mòn tính nhân văn, nhân đạo của công tác giải quyết nuôi con nuôi.


Công ước về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc[1] và Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế[2] nghiêm cấm việc thu lợi bất chính từ hoạt động cho nhận con nuôi, nước thành viên có nghĩa vụ thực hiện mọi biện pháp thích hợp để bảo đảm rằng việc cho trẻ em làm con nuôi quốc tế không dẫn đến sự trục lợi không chính đáng về tài chính, có các biện pháp thích hợp nhằm bảo đảm công khai, minh bạch các khoản hỗ trợ tài chính cũng như tách bạch giữa hỗ trợ nhân đạo với việc giải quyết nuôi con nuôi quốc tế.

Trên thực tế, việc hỗ trợ nhân đạo đã góp phần nâng cao chất lượng, điều kiện sinh hoạt, khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của trẻ em ở các cơ sở trợ giúp xã hội trong khi ngân sách nhà nước chưa đủ đáp ứng nhu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em. Tuy nhiên, qua công tác quản lý nhà nước của Cục Con nuôi cho thấy, việc hỗ trợ nhân đạo (mà chủ yếu thông qua hình thức hỗ trợ tài chính) còn tồn tại một số bất cập như việc hỗ trợ dưới hình thức tặng cho phần lớn không có hóa đơn, chứng từ, không báo cáo các cơ quan quản lý. Điều này dẫn đến tình trạng cơ quan quản lý nhà nước khó theo dõi, kiểm tra và giám sát việc tiếp nhận và sử dụng các khoản hỗ trợ, tặng cho này được bảo đảm đúng mục đích. Bên cạnh đó, thực trạng này có thể dẫn đến sự “cạnh tranh ngầm” giữa các tổ chức con nuôi để được địa phương “ưu tiên” giới thiệu trẻ. Thực trạng đó đã khiến cho các nước có quan hệ hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế với Việt Nam đặc biệt quan ngại.

Để bảo đảm cho việc hỗ trợ và sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo minh bạch và đúng mục đích, tuân thủ các quy định và chuẩn mực quốc tế, khắc phục thực trạng như đã nêu trên, Nghị định số 24/2019/NĐ-CP ngày 05/3/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi (Nghị định số 24/2019/NĐ-CP) đã sửa đổi, bổ sung về vấn đề hỗ trợ nhân đạo được quy định tại Điều 4 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin được giới thiệu những nội dung cơ bản của việc hỗ trợ nhân đạo theo quy định tại Nghị định số 24/2019/NĐ-CP và những điểm mới của Nghị định về vấn đề này.

1. Mục đích của việc hỗ trợ nhân đạo

Nghị định số 24/2019/NĐ-CP quy định: Việc hỗ trợ, tiếp nhận, quản lý, sử dụng hỗ trợ nhân đạo nhằm mục đích nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em và tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.

Như vậy, theo quy định trên, việc hỗ trợ nhân đạo, bên cạnh mục đích chính là nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở cơ sở nuôi dưỡng còn hướng tới mục đích tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em ở các cơ sở này.

Trên thực tế, những năm vừa qua, việc hỗ trợ nhân đạo chủ yếu tập trung vào mục đích nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em và điều này đã góp phần nâng cao chất lượng, điều kiện sinh hoạt, khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của trẻ em ở các cơ sở nuôi dưỡng. Tuy nhiên, việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em sẽ không thực sự phát huy hiệu quả như mong muốn nếu như đội ngũ cán bộ, nhân viên trực tiếp thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ còn có những hạn chế về năng lực và không được thường xuyên cập nhật các kiến thức, kỹ năng mới về những lĩnh vực có liên quan tới công tác này. Trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, việc trang bị kiến thức, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em ở các cơ sở nuôi dưỡng còn chưa thực sự được các cơ sở nuôi dưỡng quan tâm, chú trọng. Do vậy, việc bổ sung quy định “sử dụng hỗ trợ nhân đạo nhằm mục đích tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng” của Nghị định số 24/2019/NĐ-CP là thực sự thiết thực, góp phần nâng cao hiệu quả việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em và vì lợi ích tốt nhất của trẻ.

2. Hình thức và nguyên tắc hỗ trợ nhân đạo

Về hình thức hỗ trợ nhân đạo, Nghị định số 24/2019/NĐ-CP quy định: Cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước hỗ trợ nhân đạo thông qua chương trình, dự án, viện trợ phi dự án hoặc tài trợ cho Quỹ bảo trợ trẻ em.

Về nguyên tắc hỗ trợ nhân đạo, việc kêu gọi, khuyến khích vấn đề hỗ trợ nhân đạo là chủ trương đúng đắn và cần thiết nhằm huy động tối đa sự quan tâm, giúp đỡ của toàn xã hội đối với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Nuôi con nuôi thì “việc hỗ trợ nhân đạo không được ảnh hưởng đến việc cho nhận con nuôi” (Điều 7), điều này có nghĩa là cần tách bạch rõ vấn đề hỗ trợ nhân đạo với việc xin nhận trẻ em làm con nuôi, không được coi hỗ trợ nhân đạo như là điều kiện để xin trẻ em làm con nuôi. Trên tinh thần của Luật Nuôi con nuôi, Nghị định số 19/2011/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung đã quy định rõ: “Khi hỗ trợ nhân đạo, cá nhân, tổ chức không được yêu cầu cơ sở nuôi dưỡng cho trẻ em làm con nuôi; cơ sở nuôi dưỡng không được cam kết cho trẻ em làm con nuôi vì lý do đã nhận hỗ trợ nhân đạo”. Đây cần được coi là yêu cầu, là nguyên tắc quan trọng nhằm bảo đảm việc hỗ trợ nhân đạo không ảnh hưởng đến việc cho nhận con nuôi. Bên cạnh yêu cầu cần tách bạch rõ vấn đề hỗ trợ nhân đạo với việc xin nhận trẻ em làm con nuôi, để bảo đảm tính công khai, minh bạch về tài chính, Nghị định số 24/2019/NĐ-CP đã bổ sung quy định về hình thức, cách thức thực hiện hỗ trợ nhân đạo nếu việc hỗ trợ đó là hỗ trợ về tài chính, theo đó, Nghị định quy định: Trường hợp cá nhân, tổ chức hỗ trợ nhân đạo bằng tiền thì phải thực hiện thông qua tài khoản của cơ sở nuôi dưỡng.

Nguyên tắc hỗ trợ nhân đạo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định tại Nghị định số 24/2019/NĐ-CP cần được lưu ý:

- Việc hỗ trợ nhân đạo phải tách bạch với nuôi con nuôi, công khai và minh bạch về tài chính.

- Việc hỗ trợ nhân đạo phải đúng mục đích là nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em và tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ, nhân viên của cơ sở nuôi dưỡng.

- Trường hợp cá nhân, tổ chức hỗ trợ nhân đạo bằng tiền thì phải thực hiện thông qua tài khoản của cơ sở nuôi dưỡng.

3. Trách nhiệm của cha mẹ nuôi, tổ chức con nuôi và cơ sở nuôi dưỡng khi thực hiện việc hỗ trợ, tiếp nhận hỗ trợ nhân đạo

Như đã phản ánh, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực của việc hỗ trợ nhân đạo mà cha mẹ nuôi và các tổ chức con nuôi nước ngoài thực hiện đối với các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em, trong những năm vừa qua, việc hỗ trợ nhân đạo còn bộc lộ, tồn tại một số bất cập.

Để khắc phục thực trạng nêu trên, nhằm tăng cường hiệu quả của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực nuôi con nuôi, bảo đảm cho việc hỗ trợ và sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo minh bạch và đúng mục đích, tuân thủ các quy định và chuẩn mực quốc tế, Nghị định số 24/2019/NĐ-CP đã bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm của cha mẹ nuôi, tổ chức con nuôi trong quá trình thực hiện việc hỗ trợ nhân đạo và trách nhiệm của cơ sở nuôi dưỡng trong quá trình thực hiện việc tiếp nhận hỗ trợ nhân đạo. Cụ thể:

- Đối với cha mẹ nuôi nước ngoài và tổ chức con nuôi nước ngoài: Cha mẹ nuôi nước ngoài có trách nhiệm thông tin cho tổ chức con nuôi nước ngoài về các khoản hỗ trợ nhân đạo đã thực hiện ở Việt Nam; định kỳ 06 tháng và hàng năm hoặc theo yêu cầu, tổ chức con nuôi nước ngoài báo cáo Cục Con nuôi thuộc Bộ Tư pháp các khoản hỗ trợ nhân đạo của cha mẹ nuôi và của tổ chức.

- Đối với cơ sở nuôi dưỡng: Định kỳ 06 tháng và hàng năm hoặc theo yêu cầu, cơ sở nuôi dưỡng báo cáo việc tiếp nhận, sử dụng và quản lý các khoản hỗ trợ nhân đạo theo quy định của pháp luật và báo cáo Cục Con nuôi về việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo của cha mẹ nuôi và tổ chức con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam.

4. Yêu cầu khi thực hiện việc hỗ trợ và tiếp nhận hỗ trợ nhân đạo

Cha mẹ nuôi nước ngoài, tổ chức con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam hỗ trợ nhân đạo trên tinh thần tự nguyện, chỉ được hỗ trợ khi hoàn tất thủ tục nhận con nuôi ở Việt Nam.

Nghị định số 24/2019/NĐ-CP không chỉ quy định các vấn đề mang tính nguyên tắc và trách nhiệm của các bên khi thực hiện việc hỗ trợ và tiếp nhận hỗ trợ nhân đạo mà còn yêu cầu việc hỗ trợ và tiếp nhận hỗ trợ nhân đạo phải bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục và việc quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ, tài trợ.

Liên quan đến các quy định của pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục hỗ trợ và tiếp nhận hỗ trợ nhân đạo cũng như việc quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ, tài trợ của các cơ sở nuôi dưỡng, trong phạm vi bài viết này, tác giả xin giới thiệu một số văn bản quy phạm pháp luật sau[3]:

- Nghị định số 93/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài quy định phạm vi, đối tượng, thẩm quyền phê duyệt, trình tự, thủ tục về việc tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài từ các cá nhân, tổ chức nước ngoài.

Theo điểm d khoản 4 Điều 1 Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài, các đối tượng được tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài bao gồm cơ sở bảo trợ xã hội được thành lập theo quy định của pháp luật. Hỗ trợ nhân đạo là một trong những lĩnh vực ưu tiên sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài (điểm đ khoản 4 Điều 1 Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài). Các khoản viện trợ phi chính phủ nước ngoài chỉ được thực hiện sau khi đã được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

- Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ gúp xã hội quy định cơ sở nuôi dưỡng sử dụng và quản lý các nguồn trợ giúp từ tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước phải theo quy định của pháp luật, Quy chế hoạt động, Quy chế chi tiêu của cơ sở trợ giúp xã hội. Cơ sở trợ giúp xã hội có trách nhiệm báo cáo kết quả tài chính theo quy định của pháp luật[4].

Tóm lại, Nghị định số 24/2019/NĐ-CP đã có những sửa đổi, bổ sung khá toàn diện về các nội dung có liên quan đến vấn đề hỗ trợ nhân đạo, theo đó, Nghị định đã đặt ra những yêu cầu, nguyên tắc cơ bản của việc hỗ trợ nhân đạo, trách nhiệm của cha mẹ nuôi, tổ chức con nuôi và cơ sở nuôi dưỡng trong quá trình thực hiện việc hỗ trợ và tiếp nhận, quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo. Việc tuân thủ đầy đủ các quy định của Nghị định liên quan đến vấn đề hỗ trợ nhân đạo sẽ là một trong những giải pháp quan trọng, hữu hiệu, đảm cho việc hỗ trợ và sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo minh bạch, tuân thủ các quy định và chuẩn mực quốc tế, đồng thời, qua đó, hỗ trợ nhân đạo sẽ thực sự đạt được mục đích góp phần vào việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em, bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Trần Thị Ngọc Trâm

Cục Con nuôi, Bộ Tư pháp





[1]. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước vào ngày 20/02/1990 và đến ngày 02/9/1990, Công ước có hiệu lực.

[2]. Việt Nam chính thức trở thành thành viên Công ước La Hay năm 1993 vào ngày 01/02/2012.

[3]. Bài viết chỉ đề cập tới những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan chủ yếu, trực tiếp tới việc hỗ trợ, tiếp nhận, quản lý, sử dụng hỗ trợ nhân đạo của cha mẹ nuôi, tổ chức con nuôi nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam ở cơ sở nuôi dưỡng, ngoài ra không đề cập đến Luật Ngân sách nhà nước, Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước, Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28/6/2012 quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập…

[4]. Kinh phí hoạt động bao gồm cả nguồn trợ giúp từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước (điểm d khoản 1 Điều 9 Nghị định số 103/2017/NĐ-CP). Cơ sở trợ giúp xã hội thực hiện quản lý tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 10 Nghị định số 103/2017/NĐ-CP). Việc sử dụng và quản lý các nguồn kinh phí phải thực hiện công khai, minh bạch và theo quy chế hoạt động, quy chế chi tiêu của cơ sở (khoản 2 Điều 10 Nghị định số 103/2017/NĐ-CP). Cơ sở trợ giúp xã hội có trách nhiệm báo cáo kết quả tài chính định kỳ và hàng năm theo quy định của pháp luật (khoản 3 Điều 10 Nghị định số 103/2017/NĐ-CP).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: