Chủ nhật 18/01/2026 21:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vấn đề thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự hiện nay

Khiếu nại về thi hành án dân sự đang có chiều hướng phát sinh nhiều vụ việc phức tạp, người dân bức xúc khiếu nại kéo dài. Đây là vấn đề còn nhiều khó khăn, bất cập và “trăn trở” của các cơ quan thi hành án dân sự.

Trong thực tiễn giải quyết khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại sau khi ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, đương sự không đồng ý đã khiếu nại tiếp. Nhiều trường hợp, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu có sai sót trong việc áp dụng pháp luật khi giải quyết khiếu nại, giải quyết khiếu nại không đúng quy định pháp luật hoặc giải quyết khiếu nại không đúng thẩm quyền. Do đó, giải quyết khiếu nại lần hai, người có thẩm quyền giải quyết đã hủy bỏ hoặc hủy bỏ một phần quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu. Tuy nhiên, cũng có trường hợp, người giải quyết khiếu nại lần đầu tự nhận thức việc giải quyết khiếu nại của mình có sai phạm, giải quyết khiếu nại không khách quan, không đúng quy định pháp luật đã áp dụng khoản 1 Điều 37 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) để ban hành quyết định thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên, quy định thu hồi quyết định về thi hành án tại Điều 37 Luật Thi hành án dân sự có bao gồm thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại hay không hiện nay còn nhiều quan điểm. Để góp phần trong việc giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự, trong bài viết này, tác giả tập trung vào vấn đề thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự.

1. Quy định pháp luật về thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại

Điều 37 Luật Thi hành án dân sự quy định về thu hồi quyết định về thi hành án như sau: Người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án ra quyết định thu hồi quyết định về thi hành án trong các trường hợp sau đây: (i) Quyết định về thi hành án được ban hành không đúng thẩm quyền; (ii) Quyết định về thi hành án có sai sót làm thay đổi nội dung vụ việc; (iii) Căn cứ ra quyết định về thi hành án không còn; ( iv) Trường hợp quy định việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án theo khoản 3 Điều 54 Luật Thi hành án dân sự. Quyết định thu hồi quyết định về thi hành án phải ghi rõ căn cứ, nội dung và hậu quả pháp lý của việc thu hồi.

Như vậy, Điều 37 Luật Thi hành án dân sự chưa quy định, giải thích rõ khái niệm “quyết định về thi hành án” bị thu hồi có bao gồm quyết định của thủ trưởng, chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành án và quyết định giải quyết khiếu nại hay không? Vấn đề này hiện nay có 02 quan điểm, cụ thể:

- Quan điểm thứ nhất, Điều 37 Luật Thi hành án dân sự quy định việc thu hồi quyết định về thi hành án bao gồm thu hồi các quyết định của thủ trưởng, chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án và quyết định giải quyết khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại bị thu hồi thì đối tượng khiếu nại mất đi. Xử lý tình huống này, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định khiếu nại đã bị thu hồi sẽ không giải quyết khiếu nại mà có văn bản trả lời người khiếu nại: Quyết định giải quyết khiếu nại đã bị thu hồi.

- Quan điểm thứ hai, chỉ áp dụng Điều 37 Luật Thi hành án dân sự để thu hồi các quyết định về thi hành án không bao gồm quyết định giải quyết khiếu nại vì khiếu nại được giải quyết theo trình tự, thủ tục được quy định từ Điều 140 đến Điều 153 Luật Thi hành án dân sự. Mặt khác, khoản 9 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự quy định “mỗi quyết định thi hành án là một việc thi hành án”. Do vậy, có thể hiểu, quyết định về thi hành án là quyết định của thủ trưởng, chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án. Khi quyết định giải quyết khiếu nại không được thu hồi theo quy định này thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai ban hành quyết định giải quyết khiếu nại hủy bỏ quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu. Trường hợp có thiệt hại phải bồi thường, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra.

2. Thực tiễn thực hiện quy định thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại

Trên thực tế, thủ trưởng các cơ quan thi hành án dân sự địa phương khi nhận thấy có sai phạm trong việc giải quyết khiếu nại đều áp dụng Điều 37 Luật Thi hành án dân sự để thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại. Dưới đây là ví dụ cụ thể về trường hợp thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại:

Ông N, người đại diện theo ủy quyền của Sở Xây dựng T, trú tại tỉnh H khiếu nại Quyết định giải quyết khiếu nại số 14/QĐ-CTHA.GQKN ngày 17/8/2017 của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh H. Khiếu nại của ông N liên quan đến việc tổ chức thi hành Bản án số 10a/2009/DSST ngày 21/7/2009 của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh H và Bản án số 04/2010/DSPT ngày 05/02/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh H.

Bản án số 10a/2009/DSST ngày 21/7/2009 của Tòa án nhân dân huyện X và Bản án số 04/2010/DSPT ngày 05/02/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh H có hiệu lực pháp luật, ngày 09/3/2010, ông N được ủy quyền của Sở Xây dựng T làm đơn yêu cầu thi hành án. Chi cục Thi hành án dân sự huyện X đã thụ lý đơn và ban hành Quyết định thi hành án số 121/QĐ-THA ngày 09/3/2010 buộc Ủy ban nhân dân xã L, huyện X phải trả khoản nợ cho Sở Xây dựng T số tiền là 169.303.029 đồng. Quá trình tổ chức thi hành án, chấp hành viên đôn đốc Ủy ban nhân dân xã L tự nguyện thi hành án nhưng không có kết quả. Ủy ban nhân dân xã L lấy lý do không có hồ sơ bàn giao công nợ, không có nguồn ngân sách để thi hành số tiền trên. Ngày 03/4/2012, chấp hành viên xác minh thấy Ủy ban nhân dân xã L có tài khoản chi đầu tư tại Kho bạc Nhà nước huyện X với số dư tại thời điểm hiện tại là 416.342.700 đồng. Chi cục Thi hành án dân sự huyện X đã ban hành Quyết định phong tỏa tài khoản số 01/QĐ-CCTHA ngày 03/4/2012 và Quyết định khấu trừ số 04/2012/QĐ-CCTHA ngày 09/4/2012 khấu trừ tiền trong tài khoản của Ủy ban nhân dân xã L tại Kho bạc Nhà nước huyện X để thi hành án. Tuy nhiên, Kho bạc Nhà nước huyện X không nhất trí và có Công văn số 67/KBTX-CV ngày 26/7/2012 gửi Chi cục Thi hành án dân sự huyện X với nội dung: Kho bạc huyện X không thể trích chi ngân sách xã L số tiền 224.279.869 đồng chuyển vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X. Ngày 22/4/2014, Chi cục Thi hành án dân sự huyện X đã ban hành Quyết định số 17/QĐ-CCTHA thu hồi Quyết định số 04/2012/QĐ-CCTHA ngày 04/9/2012 về việc khấu trừ tiền trong tài khoản của Ủy ban nhân dân xã L, đồng thời, ban hành Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án số 07/QĐ-CCTHA ngày 22/4/2014 cho Sở Xây dựng T và người đại diện theo ủy quyền là ông N.

Về khiếu nại và kết quả giải quyết khiếu nại của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X và Cục Thi hành án dân sự tỉnh H:

- Giải quyết khiếu nại của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X:

Ông N khiếu nại Kho bạc Nhà nước huyện X không khấu trừ tiền thi hành án theo Quyết định khấu trừ tiền thi hành án của chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện X; khiếu nại Quyết định thu hồi Quyết định khấu trừ tiền thi hành án của chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện X; khiếu nại Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X.

Giải quyết khiếu nại của ông N, ngày 07/6/2017, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X ban hành Thông báo số 39/TB-THA không thụ lý khiếu nại của ông N với lý do: (i) Khiếu nại Kho bạc Nhà nước huyện X không khấu trừ tiền thi hành án không thuộc thẩm quyền của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X; (ii) Hết thời hiệu khiếu nại đối với khiếu nại Quyết định khấu trừ tiền thi hành án của chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện X và khiếu nại Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X.

- Giải quyết khiếu nại của Cục Thi hành án dân sự tỉnh H:

Không nhất trí với trả lời của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, ông N đã khiếu nại Thông báo số 39/TB-CCTHA ngày 07/6/2017 về việc không thụ lý đơn khiếu nại thi hành án; khiếu nại không nhận được Quyết định thu hồi quyết định thi hành án số 17/QĐ-CCTHA ngày 22/4/2014, Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án số 07/QĐ-CCTHA ngày 22/4/2014 của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X và khiếu nại 02 quyết định này.

Giải quyết khiếu nại của ông N, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh H ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 14/QĐ-CTHA.GQKN ngày 17/8/2017 với nội dung: “Chấp nhận một phần nội dung đơn khiếu nại của ông N khiếu nại Thông báo số 39/TB-CCTHA ngày 07/6/2017 về việc không thụ lý đơn khiếu nại thi hành án của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X... Yêu cầu chấp hành viên nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc thông báo, tống đạt quyết định thi hành án. Sở Xây dựng T có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án trở lại để yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện X tiếp tục tổ chức thi án theo quy định”.

Kết quả giải quyết khiếu nại của Tổng cục Thi hành án dân sự:

Không nhất trí với Quyết định giải quyết khiếu nại số 14/QĐ-CTHA.GQKN ngày 17/8/2017 của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh H, ông N tiếp tục khiếu nại đến Tổng cục Thi hành án dân sự.

Để giải quyết khiếu nại của ông N, Tổng cục Thi hành án dân sự đã kiểm tra hồ sơ thi hành án, làm việc với Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, Cục Thi hành án dân sự tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Sở Xây dựng T và các bên đương sự, kết quả cho thấy:

- Việc ra quyết định thi hành án:

Hồ sơ thi hành án thể hiện: Trước khi Tòa án nhân dân huyện X ban hành Bản án số 10a/2009/DSST ngày 21/7/2009, ông M, Giám đốc Sở Xây dựng T có làm giấy ủy quyền gửi Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh H. Giấy ủy quyền ngày 03/6/2008 có nội dung: “Ủy quyền cho ông K, Phó Giám đốc Sở Xây dựng T được quyền trực tiếp thanh toán công nợ của Công ty xây dựng 4 (đã giải thể) với Ủy ban nhân dân xã L, huyện X tại Tòa án nhân dân huyện X. Thời gian từ giai đoạn đầu đến khi kết thúc vụ kiện. Tôi đồng ý ông K ủy quyền lại cho người thứ ba theo nội dung ủy quyền ban đầu (nếu ông K bận việc). Rất mong Tòa án nhân dân huyện X giúp đỡ ông K hoàn thành nhiệm vụ”.

Theo Bản án số 04/2010/DSPT ngày 05/02/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh H thì Sở Xây dựng T là người được thi hành án, Ủy ban nhân dân xã L, huyện X, tỉnh H là người phải thi hành án.

Ngày 10/02/2010, ông K, Phó Giám đốc Sở Xây dựng T ủy quyền cho ông N được quyền liên hệ trực tiếp với thi hành án huyện X để làm mọi thủ tục cần thiết, liên quan đến thi hành bản án và nhận tiền theo bản án đã tuyên. Ngày 09/3/2010, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X ban hành Quyết định thi hành án số 121/QĐ-THA.

Việc ông K ủy quyền cho ông N nêu trên là không hợp pháp, không đúng quy định tại Điều 583 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Bên được ủy quyền chỉ được ủy quyền lại cho người thứ ba, nếu được bên ủy quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định”; khoản 1 Điều 33, điểm a khoản 1 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự: “Khi nhận đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung đơn và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án và cấp giấy biên nhận cho người nộp đơn. Cơ quan thi hành án dân sự từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án trong trường hợp người yêu cầu thi hành án không có quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung đơn yêu cầu thi hành án không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định”.

- Việc giải quyết khiếu nại:

Hồ sơ giải quyết khiếu nại thể hiện: Ông N không phải là đương sự, không được ủy quyền khiếu nại. Việc Cục Thi hành án dân sự tỉnh H xác định ông N là người được ủy quyền yêu cầu thi hành án để giải quyết khiếu nại là không đúng quy định tại khoản 3 Điều 141 Luật Thi hành án dân sự. Khắc phục thiếu sót này, ngày 04/01/2018, Cục trưởng Cục Thi hành dân sự tỉnh H đã ban hành Quyết định thu hồi Quyết định giải quyết khiếu nại số 04/QĐ-CTHADS thu hồi toàn bộ Quyết định giải quyết khiếu nại số 14/QĐ-CTHA.GQKN ngày 17/8/2017.

Trên cơ sở kết quả kiểm tra nêu trên, Tổng cục Thi hành án dân sự đã có văn bản yêu cầu: Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X thu hồi quyết định thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật Thi hành án dân sự; Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh H nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc giải quyết khiếu nại phải đảm bảo đúng quy định. Đồng thời, có công văn trả lời cho ông N biết trường hợp ông khiếu nại không được thụ lý giải quyết. Lý do: Việc ông K ủy quyền cho ông N về việc thi hành án là không hợp pháp và ông N không được ủy quyền khiếu nại việc thi hành án. Mặt khác, đối tượng bị khiếu nại là Quyết định giải quyết khiếu nại số 14/QĐ-CTHA.GQKN ngày 17/8/2017 của Cục trưởng Cục Thi hành dân sự tỉnh H đã bị thu hồi.

3. Giải pháp khắc phục

Việc quy định rõ ràng có hay không áp dụng Điều 37 Luật Thi hành án dân sự trong việc thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự là đảm bảo quyền của người khiếu nại, đồng thời giúp cho việc giải quyết khiếu nại của các cơ quan thi hành án dân sự được “minh bạch”, rõ ràng hơn. Về lâu dài, cần bổ sung quy định này trong Luật Thi hành án dân sự. Trước mắt, để các cơ quan thi hành án dân sự địa phương áp dụng thống nhất việc thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại theo Điều 37 Luật Thi hành án dân sự, Tổng cục Thi hành án dân sự cần có hướng dẫn chung, giải thích rõ về khái niệm “quyết định về thi hành án” bị thu hồi bao gồm quyết định của thủ trưởng, chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành án và quyết định giải quyết khiếu nại.

Nguyễn Thanh Tuấn
Tổng cục Thi hành án dân sự

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: