Thứ bảy 13/06/2026 07:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vấn đề thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự hiện nay

Khiếu nại về thi hành án dân sự đang có chiều hướng phát sinh nhiều vụ việc phức tạp, người dân bức xúc khiếu nại kéo dài. Đây là vấn đề còn nhiều khó khăn, bất cập và “trăn trở” của các cơ quan thi hành án dân sự.

Trong thực tiễn giải quyết khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại sau khi ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, đương sự không đồng ý đã khiếu nại tiếp. Nhiều trường hợp, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu có sai sót trong việc áp dụng pháp luật khi giải quyết khiếu nại, giải quyết khiếu nại không đúng quy định pháp luật hoặc giải quyết khiếu nại không đúng thẩm quyền. Do đó, giải quyết khiếu nại lần hai, người có thẩm quyền giải quyết đã hủy bỏ hoặc hủy bỏ một phần quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu. Tuy nhiên, cũng có trường hợp, người giải quyết khiếu nại lần đầu tự nhận thức việc giải quyết khiếu nại của mình có sai phạm, giải quyết khiếu nại không khách quan, không đúng quy định pháp luật đã áp dụng khoản 1 Điều 37 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) để ban hành quyết định thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên, quy định thu hồi quyết định về thi hành án tại Điều 37 Luật Thi hành án dân sự có bao gồm thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại hay không hiện nay còn nhiều quan điểm. Để góp phần trong việc giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự, trong bài viết này, tác giả tập trung vào vấn đề thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự.

1. Quy định pháp luật về thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại

Điều 37 Luật Thi hành án dân sự quy định về thu hồi quyết định về thi hành án như sau: Người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án ra quyết định thu hồi quyết định về thi hành án trong các trường hợp sau đây: (i) Quyết định về thi hành án được ban hành không đúng thẩm quyền; (ii) Quyết định về thi hành án có sai sót làm thay đổi nội dung vụ việc; (iii) Căn cứ ra quyết định về thi hành án không còn; ( iv) Trường hợp quy định việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án theo khoản 3 Điều 54 Luật Thi hành án dân sự. Quyết định thu hồi quyết định về thi hành án phải ghi rõ căn cứ, nội dung và hậu quả pháp lý của việc thu hồi.

Như vậy, Điều 37 Luật Thi hành án dân sự chưa quy định, giải thích rõ khái niệm “quyết định về thi hành án” bị thu hồi có bao gồm quyết định của thủ trưởng, chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành án và quyết định giải quyết khiếu nại hay không? Vấn đề này hiện nay có 02 quan điểm, cụ thể:

- Quan điểm thứ nhất, Điều 37 Luật Thi hành án dân sự quy định việc thu hồi quyết định về thi hành án bao gồm thu hồi các quyết định của thủ trưởng, chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án và quyết định giải quyết khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại bị thu hồi thì đối tượng khiếu nại mất đi. Xử lý tình huống này, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định khiếu nại đã bị thu hồi sẽ không giải quyết khiếu nại mà có văn bản trả lời người khiếu nại: Quyết định giải quyết khiếu nại đã bị thu hồi.

- Quan điểm thứ hai, chỉ áp dụng Điều 37 Luật Thi hành án dân sự để thu hồi các quyết định về thi hành án không bao gồm quyết định giải quyết khiếu nại vì khiếu nại được giải quyết theo trình tự, thủ tục được quy định từ Điều 140 đến Điều 153 Luật Thi hành án dân sự. Mặt khác, khoản 9 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự quy định “mỗi quyết định thi hành án là một việc thi hành án”. Do vậy, có thể hiểu, quyết định về thi hành án là quyết định của thủ trưởng, chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án. Khi quyết định giải quyết khiếu nại không được thu hồi theo quy định này thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai ban hành quyết định giải quyết khiếu nại hủy bỏ quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu. Trường hợp có thiệt hại phải bồi thường, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra.

2. Thực tiễn thực hiện quy định thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại

Trên thực tế, thủ trưởng các cơ quan thi hành án dân sự địa phương khi nhận thấy có sai phạm trong việc giải quyết khiếu nại đều áp dụng Điều 37 Luật Thi hành án dân sự để thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại. Dưới đây là ví dụ cụ thể về trường hợp thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại:

Ông N, người đại diện theo ủy quyền của Sở Xây dựng T, trú tại tỉnh H khiếu nại Quyết định giải quyết khiếu nại số 14/QĐ-CTHA.GQKN ngày 17/8/2017 của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh H. Khiếu nại của ông N liên quan đến việc tổ chức thi hành Bản án số 10a/2009/DSST ngày 21/7/2009 của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh H và Bản án số 04/2010/DSPT ngày 05/02/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh H.

Bản án số 10a/2009/DSST ngày 21/7/2009 của Tòa án nhân dân huyện X và Bản án số 04/2010/DSPT ngày 05/02/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh H có hiệu lực pháp luật, ngày 09/3/2010, ông N được ủy quyền của Sở Xây dựng T làm đơn yêu cầu thi hành án. Chi cục Thi hành án dân sự huyện X đã thụ lý đơn và ban hành Quyết định thi hành án số 121/QĐ-THA ngày 09/3/2010 buộc Ủy ban nhân dân xã L, huyện X phải trả khoản nợ cho Sở Xây dựng T số tiền là 169.303.029 đồng. Quá trình tổ chức thi hành án, chấp hành viên đôn đốc Ủy ban nhân dân xã L tự nguyện thi hành án nhưng không có kết quả. Ủy ban nhân dân xã L lấy lý do không có hồ sơ bàn giao công nợ, không có nguồn ngân sách để thi hành số tiền trên. Ngày 03/4/2012, chấp hành viên xác minh thấy Ủy ban nhân dân xã L có tài khoản chi đầu tư tại Kho bạc Nhà nước huyện X với số dư tại thời điểm hiện tại là 416.342.700 đồng. Chi cục Thi hành án dân sự huyện X đã ban hành Quyết định phong tỏa tài khoản số 01/QĐ-CCTHA ngày 03/4/2012 và Quyết định khấu trừ số 04/2012/QĐ-CCTHA ngày 09/4/2012 khấu trừ tiền trong tài khoản của Ủy ban nhân dân xã L tại Kho bạc Nhà nước huyện X để thi hành án. Tuy nhiên, Kho bạc Nhà nước huyện X không nhất trí và có Công văn số 67/KBTX-CV ngày 26/7/2012 gửi Chi cục Thi hành án dân sự huyện X với nội dung: Kho bạc huyện X không thể trích chi ngân sách xã L số tiền 224.279.869 đồng chuyển vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X. Ngày 22/4/2014, Chi cục Thi hành án dân sự huyện X đã ban hành Quyết định số 17/QĐ-CCTHA thu hồi Quyết định số 04/2012/QĐ-CCTHA ngày 04/9/2012 về việc khấu trừ tiền trong tài khoản của Ủy ban nhân dân xã L, đồng thời, ban hành Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án số 07/QĐ-CCTHA ngày 22/4/2014 cho Sở Xây dựng T và người đại diện theo ủy quyền là ông N.

Về khiếu nại và kết quả giải quyết khiếu nại của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X và Cục Thi hành án dân sự tỉnh H:

- Giải quyết khiếu nại của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X:

Ông N khiếu nại Kho bạc Nhà nước huyện X không khấu trừ tiền thi hành án theo Quyết định khấu trừ tiền thi hành án của chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện X; khiếu nại Quyết định thu hồi Quyết định khấu trừ tiền thi hành án của chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện X; khiếu nại Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X.

Giải quyết khiếu nại của ông N, ngày 07/6/2017, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X ban hành Thông báo số 39/TB-THA không thụ lý khiếu nại của ông N với lý do: (i) Khiếu nại Kho bạc Nhà nước huyện X không khấu trừ tiền thi hành án không thuộc thẩm quyền của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X; (ii) Hết thời hiệu khiếu nại đối với khiếu nại Quyết định khấu trừ tiền thi hành án của chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện X và khiếu nại Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X.

- Giải quyết khiếu nại của Cục Thi hành án dân sự tỉnh H:

Không nhất trí với trả lời của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, ông N đã khiếu nại Thông báo số 39/TB-CCTHA ngày 07/6/2017 về việc không thụ lý đơn khiếu nại thi hành án; khiếu nại không nhận được Quyết định thu hồi quyết định thi hành án số 17/QĐ-CCTHA ngày 22/4/2014, Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án số 07/QĐ-CCTHA ngày 22/4/2014 của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X và khiếu nại 02 quyết định này.

Giải quyết khiếu nại của ông N, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh H ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 14/QĐ-CTHA.GQKN ngày 17/8/2017 với nội dung: “Chấp nhận một phần nội dung đơn khiếu nại của ông N khiếu nại Thông báo số 39/TB-CCTHA ngày 07/6/2017 về việc không thụ lý đơn khiếu nại thi hành án của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X... Yêu cầu chấp hành viên nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc thông báo, tống đạt quyết định thi hành án. Sở Xây dựng T có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án trở lại để yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện X tiếp tục tổ chức thi án theo quy định”.

Kết quả giải quyết khiếu nại của Tổng cục Thi hành án dân sự:

Không nhất trí với Quyết định giải quyết khiếu nại số 14/QĐ-CTHA.GQKN ngày 17/8/2017 của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh H, ông N tiếp tục khiếu nại đến Tổng cục Thi hành án dân sự.

Để giải quyết khiếu nại của ông N, Tổng cục Thi hành án dân sự đã kiểm tra hồ sơ thi hành án, làm việc với Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, Cục Thi hành án dân sự tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Sở Xây dựng T và các bên đương sự, kết quả cho thấy:

- Việc ra quyết định thi hành án:

Hồ sơ thi hành án thể hiện: Trước khi Tòa án nhân dân huyện X ban hành Bản án số 10a/2009/DSST ngày 21/7/2009, ông M, Giám đốc Sở Xây dựng T có làm giấy ủy quyền gửi Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh H. Giấy ủy quyền ngày 03/6/2008 có nội dung: “Ủy quyền cho ông K, Phó Giám đốc Sở Xây dựng T được quyền trực tiếp thanh toán công nợ của Công ty xây dựng 4 (đã giải thể) với Ủy ban nhân dân xã L, huyện X tại Tòa án nhân dân huyện X. Thời gian từ giai đoạn đầu đến khi kết thúc vụ kiện. Tôi đồng ý ông K ủy quyền lại cho người thứ ba theo nội dung ủy quyền ban đầu (nếu ông K bận việc). Rất mong Tòa án nhân dân huyện X giúp đỡ ông K hoàn thành nhiệm vụ”.

Theo Bản án số 04/2010/DSPT ngày 05/02/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh H thì Sở Xây dựng T là người được thi hành án, Ủy ban nhân dân xã L, huyện X, tỉnh H là người phải thi hành án.

Ngày 10/02/2010, ông K, Phó Giám đốc Sở Xây dựng T ủy quyền cho ông N được quyền liên hệ trực tiếp với thi hành án huyện X để làm mọi thủ tục cần thiết, liên quan đến thi hành bản án và nhận tiền theo bản án đã tuyên. Ngày 09/3/2010, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X ban hành Quyết định thi hành án số 121/QĐ-THA.

Việc ông K ủy quyền cho ông N nêu trên là không hợp pháp, không đúng quy định tại Điều 583 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Bên được ủy quyền chỉ được ủy quyền lại cho người thứ ba, nếu được bên ủy quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định”; khoản 1 Điều 33, điểm a khoản 1 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự: “Khi nhận đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung đơn và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án và cấp giấy biên nhận cho người nộp đơn. Cơ quan thi hành án dân sự từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án trong trường hợp người yêu cầu thi hành án không có quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung đơn yêu cầu thi hành án không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định”.

- Việc giải quyết khiếu nại:

Hồ sơ giải quyết khiếu nại thể hiện: Ông N không phải là đương sự, không được ủy quyền khiếu nại. Việc Cục Thi hành án dân sự tỉnh H xác định ông N là người được ủy quyền yêu cầu thi hành án để giải quyết khiếu nại là không đúng quy định tại khoản 3 Điều 141 Luật Thi hành án dân sự. Khắc phục thiếu sót này, ngày 04/01/2018, Cục trưởng Cục Thi hành dân sự tỉnh H đã ban hành Quyết định thu hồi Quyết định giải quyết khiếu nại số 04/QĐ-CTHADS thu hồi toàn bộ Quyết định giải quyết khiếu nại số 14/QĐ-CTHA.GQKN ngày 17/8/2017.

Trên cơ sở kết quả kiểm tra nêu trên, Tổng cục Thi hành án dân sự đã có văn bản yêu cầu: Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X thu hồi quyết định thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật Thi hành án dân sự; Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh H nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc giải quyết khiếu nại phải đảm bảo đúng quy định. Đồng thời, có công văn trả lời cho ông N biết trường hợp ông khiếu nại không được thụ lý giải quyết. Lý do: Việc ông K ủy quyền cho ông N về việc thi hành án là không hợp pháp và ông N không được ủy quyền khiếu nại việc thi hành án. Mặt khác, đối tượng bị khiếu nại là Quyết định giải quyết khiếu nại số 14/QĐ-CTHA.GQKN ngày 17/8/2017 của Cục trưởng Cục Thi hành dân sự tỉnh H đã bị thu hồi.

3. Giải pháp khắc phục

Việc quy định rõ ràng có hay không áp dụng Điều 37 Luật Thi hành án dân sự trong việc thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự là đảm bảo quyền của người khiếu nại, đồng thời giúp cho việc giải quyết khiếu nại của các cơ quan thi hành án dân sự được “minh bạch”, rõ ràng hơn. Về lâu dài, cần bổ sung quy định này trong Luật Thi hành án dân sự. Trước mắt, để các cơ quan thi hành án dân sự địa phương áp dụng thống nhất việc thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại theo Điều 37 Luật Thi hành án dân sự, Tổng cục Thi hành án dân sự cần có hướng dẫn chung, giải thích rõ về khái niệm “quyết định về thi hành án” bị thu hồi bao gồm quyết định của thủ trưởng, chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành án và quyết định giải quyết khiếu nại.

Nguyễn Thanh Tuấn
Tổng cục Thi hành án dân sự

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Theo dõi chúng tôi trên: