Thứ sáu 20/03/2026 09:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vấn đề thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự hiện nay

Khiếu nại về thi hành án dân sự đang có chiều hướng phát sinh nhiều vụ việc phức tạp, người dân bức xúc khiếu nại kéo dài. Đây là vấn đề còn nhiều khó khăn, bất cập và “trăn trở” của các cơ quan thi hành án dân sự.

Trong thực tiễn giải quyết khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại sau khi ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, đương sự không đồng ý đã khiếu nại tiếp. Nhiều trường hợp, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu có sai sót trong việc áp dụng pháp luật khi giải quyết khiếu nại, giải quyết khiếu nại không đúng quy định pháp luật hoặc giải quyết khiếu nại không đúng thẩm quyền. Do đó, giải quyết khiếu nại lần hai, người có thẩm quyền giải quyết đã hủy bỏ hoặc hủy bỏ một phần quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu. Tuy nhiên, cũng có trường hợp, người giải quyết khiếu nại lần đầu tự nhận thức việc giải quyết khiếu nại của mình có sai phạm, giải quyết khiếu nại không khách quan, không đúng quy định pháp luật đã áp dụng khoản 1 Điều 37 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) để ban hành quyết định thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên, quy định thu hồi quyết định về thi hành án tại Điều 37 Luật Thi hành án dân sự có bao gồm thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại hay không hiện nay còn nhiều quan điểm. Để góp phần trong việc giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự, trong bài viết này, tác giả tập trung vào vấn đề thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự.

1. Quy định pháp luật về thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại

Điều 37 Luật Thi hành án dân sự quy định về thu hồi quyết định về thi hành án như sau: Người có thẩm quyền ra quyết định về thi hành án ra quyết định thu hồi quyết định về thi hành án trong các trường hợp sau đây: (i) Quyết định về thi hành án được ban hành không đúng thẩm quyền; (ii) Quyết định về thi hành án có sai sót làm thay đổi nội dung vụ việc; (iii) Căn cứ ra quyết định về thi hành án không còn; ( iv) Trường hợp quy định việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án theo khoản 3 Điều 54 Luật Thi hành án dân sự. Quyết định thu hồi quyết định về thi hành án phải ghi rõ căn cứ, nội dung và hậu quả pháp lý của việc thu hồi.

Như vậy, Điều 37 Luật Thi hành án dân sự chưa quy định, giải thích rõ khái niệm “quyết định về thi hành án” bị thu hồi có bao gồm quyết định của thủ trưởng, chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành án và quyết định giải quyết khiếu nại hay không? Vấn đề này hiện nay có 02 quan điểm, cụ thể:

- Quan điểm thứ nhất, Điều 37 Luật Thi hành án dân sự quy định việc thu hồi quyết định về thi hành án bao gồm thu hồi các quyết định của thủ trưởng, chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án và quyết định giải quyết khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại bị thu hồi thì đối tượng khiếu nại mất đi. Xử lý tình huống này, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định khiếu nại đã bị thu hồi sẽ không giải quyết khiếu nại mà có văn bản trả lời người khiếu nại: Quyết định giải quyết khiếu nại đã bị thu hồi.

- Quan điểm thứ hai, chỉ áp dụng Điều 37 Luật Thi hành án dân sự để thu hồi các quyết định về thi hành án không bao gồm quyết định giải quyết khiếu nại vì khiếu nại được giải quyết theo trình tự, thủ tục được quy định từ Điều 140 đến Điều 153 Luật Thi hành án dân sự. Mặt khác, khoản 9 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự quy định “mỗi quyết định thi hành án là một việc thi hành án”. Do vậy, có thể hiểu, quyết định về thi hành án là quyết định của thủ trưởng, chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án. Khi quyết định giải quyết khiếu nại không được thu hồi theo quy định này thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai ban hành quyết định giải quyết khiếu nại hủy bỏ quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu. Trường hợp có thiệt hại phải bồi thường, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra.

2. Thực tiễn thực hiện quy định thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại

Trên thực tế, thủ trưởng các cơ quan thi hành án dân sự địa phương khi nhận thấy có sai phạm trong việc giải quyết khiếu nại đều áp dụng Điều 37 Luật Thi hành án dân sự để thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại. Dưới đây là ví dụ cụ thể về trường hợp thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại:

Ông N, người đại diện theo ủy quyền của Sở Xây dựng T, trú tại tỉnh H khiếu nại Quyết định giải quyết khiếu nại số 14/QĐ-CTHA.GQKN ngày 17/8/2017 của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh H. Khiếu nại của ông N liên quan đến việc tổ chức thi hành Bản án số 10a/2009/DSST ngày 21/7/2009 của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh H và Bản án số 04/2010/DSPT ngày 05/02/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh H.

Bản án số 10a/2009/DSST ngày 21/7/2009 của Tòa án nhân dân huyện X và Bản án số 04/2010/DSPT ngày 05/02/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh H có hiệu lực pháp luật, ngày 09/3/2010, ông N được ủy quyền của Sở Xây dựng T làm đơn yêu cầu thi hành án. Chi cục Thi hành án dân sự huyện X đã thụ lý đơn và ban hành Quyết định thi hành án số 121/QĐ-THA ngày 09/3/2010 buộc Ủy ban nhân dân xã L, huyện X phải trả khoản nợ cho Sở Xây dựng T số tiền là 169.303.029 đồng. Quá trình tổ chức thi hành án, chấp hành viên đôn đốc Ủy ban nhân dân xã L tự nguyện thi hành án nhưng không có kết quả. Ủy ban nhân dân xã L lấy lý do không có hồ sơ bàn giao công nợ, không có nguồn ngân sách để thi hành số tiền trên. Ngày 03/4/2012, chấp hành viên xác minh thấy Ủy ban nhân dân xã L có tài khoản chi đầu tư tại Kho bạc Nhà nước huyện X với số dư tại thời điểm hiện tại là 416.342.700 đồng. Chi cục Thi hành án dân sự huyện X đã ban hành Quyết định phong tỏa tài khoản số 01/QĐ-CCTHA ngày 03/4/2012 và Quyết định khấu trừ số 04/2012/QĐ-CCTHA ngày 09/4/2012 khấu trừ tiền trong tài khoản của Ủy ban nhân dân xã L tại Kho bạc Nhà nước huyện X để thi hành án. Tuy nhiên, Kho bạc Nhà nước huyện X không nhất trí và có Công văn số 67/KBTX-CV ngày 26/7/2012 gửi Chi cục Thi hành án dân sự huyện X với nội dung: Kho bạc huyện X không thể trích chi ngân sách xã L số tiền 224.279.869 đồng chuyển vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X. Ngày 22/4/2014, Chi cục Thi hành án dân sự huyện X đã ban hành Quyết định số 17/QĐ-CCTHA thu hồi Quyết định số 04/2012/QĐ-CCTHA ngày 04/9/2012 về việc khấu trừ tiền trong tài khoản của Ủy ban nhân dân xã L, đồng thời, ban hành Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án số 07/QĐ-CCTHA ngày 22/4/2014 cho Sở Xây dựng T và người đại diện theo ủy quyền là ông N.

Về khiếu nại và kết quả giải quyết khiếu nại của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X và Cục Thi hành án dân sự tỉnh H:

- Giải quyết khiếu nại của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X:

Ông N khiếu nại Kho bạc Nhà nước huyện X không khấu trừ tiền thi hành án theo Quyết định khấu trừ tiền thi hành án của chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện X; khiếu nại Quyết định thu hồi Quyết định khấu trừ tiền thi hành án của chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện X; khiếu nại Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X.

Giải quyết khiếu nại của ông N, ngày 07/6/2017, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X ban hành Thông báo số 39/TB-THA không thụ lý khiếu nại của ông N với lý do: (i) Khiếu nại Kho bạc Nhà nước huyện X không khấu trừ tiền thi hành án không thuộc thẩm quyền của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X; (ii) Hết thời hiệu khiếu nại đối với khiếu nại Quyết định khấu trừ tiền thi hành án của chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện X và khiếu nại Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X.

- Giải quyết khiếu nại của Cục Thi hành án dân sự tỉnh H:

Không nhất trí với trả lời của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, ông N đã khiếu nại Thông báo số 39/TB-CCTHA ngày 07/6/2017 về việc không thụ lý đơn khiếu nại thi hành án; khiếu nại không nhận được Quyết định thu hồi quyết định thi hành án số 17/QĐ-CCTHA ngày 22/4/2014, Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án số 07/QĐ-CCTHA ngày 22/4/2014 của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X và khiếu nại 02 quyết định này.

Giải quyết khiếu nại của ông N, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh H ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 14/QĐ-CTHA.GQKN ngày 17/8/2017 với nội dung: “Chấp nhận một phần nội dung đơn khiếu nại của ông N khiếu nại Thông báo số 39/TB-CCTHA ngày 07/6/2017 về việc không thụ lý đơn khiếu nại thi hành án của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X... Yêu cầu chấp hành viên nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc thông báo, tống đạt quyết định thi hành án. Sở Xây dựng T có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án trở lại để yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện X tiếp tục tổ chức thi án theo quy định”.

Kết quả giải quyết khiếu nại của Tổng cục Thi hành án dân sự:

Không nhất trí với Quyết định giải quyết khiếu nại số 14/QĐ-CTHA.GQKN ngày 17/8/2017 của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh H, ông N tiếp tục khiếu nại đến Tổng cục Thi hành án dân sự.

Để giải quyết khiếu nại của ông N, Tổng cục Thi hành án dân sự đã kiểm tra hồ sơ thi hành án, làm việc với Chi cục Thi hành án dân sự huyện X, Cục Thi hành án dân sự tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Sở Xây dựng T và các bên đương sự, kết quả cho thấy:

- Việc ra quyết định thi hành án:

Hồ sơ thi hành án thể hiện: Trước khi Tòa án nhân dân huyện X ban hành Bản án số 10a/2009/DSST ngày 21/7/2009, ông M, Giám đốc Sở Xây dựng T có làm giấy ủy quyền gửi Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh H. Giấy ủy quyền ngày 03/6/2008 có nội dung: “Ủy quyền cho ông K, Phó Giám đốc Sở Xây dựng T được quyền trực tiếp thanh toán công nợ của Công ty xây dựng 4 (đã giải thể) với Ủy ban nhân dân xã L, huyện X tại Tòa án nhân dân huyện X. Thời gian từ giai đoạn đầu đến khi kết thúc vụ kiện. Tôi đồng ý ông K ủy quyền lại cho người thứ ba theo nội dung ủy quyền ban đầu (nếu ông K bận việc). Rất mong Tòa án nhân dân huyện X giúp đỡ ông K hoàn thành nhiệm vụ”.

Theo Bản án số 04/2010/DSPT ngày 05/02/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh H thì Sở Xây dựng T là người được thi hành án, Ủy ban nhân dân xã L, huyện X, tỉnh H là người phải thi hành án.

Ngày 10/02/2010, ông K, Phó Giám đốc Sở Xây dựng T ủy quyền cho ông N được quyền liên hệ trực tiếp với thi hành án huyện X để làm mọi thủ tục cần thiết, liên quan đến thi hành bản án và nhận tiền theo bản án đã tuyên. Ngày 09/3/2010, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X ban hành Quyết định thi hành án số 121/QĐ-THA.

Việc ông K ủy quyền cho ông N nêu trên là không hợp pháp, không đúng quy định tại Điều 583 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Bên được ủy quyền chỉ được ủy quyền lại cho người thứ ba, nếu được bên ủy quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định”; khoản 1 Điều 33, điểm a khoản 1 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự: “Khi nhận đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung đơn và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án và cấp giấy biên nhận cho người nộp đơn. Cơ quan thi hành án dân sự từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án trong trường hợp người yêu cầu thi hành án không có quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung đơn yêu cầu thi hành án không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định”.

- Việc giải quyết khiếu nại:

Hồ sơ giải quyết khiếu nại thể hiện: Ông N không phải là đương sự, không được ủy quyền khiếu nại. Việc Cục Thi hành án dân sự tỉnh H xác định ông N là người được ủy quyền yêu cầu thi hành án để giải quyết khiếu nại là không đúng quy định tại khoản 3 Điều 141 Luật Thi hành án dân sự. Khắc phục thiếu sót này, ngày 04/01/2018, Cục trưởng Cục Thi hành dân sự tỉnh H đã ban hành Quyết định thu hồi Quyết định giải quyết khiếu nại số 04/QĐ-CTHADS thu hồi toàn bộ Quyết định giải quyết khiếu nại số 14/QĐ-CTHA.GQKN ngày 17/8/2017.

Trên cơ sở kết quả kiểm tra nêu trên, Tổng cục Thi hành án dân sự đã có văn bản yêu cầu: Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện X thu hồi quyết định thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật Thi hành án dân sự; Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh H nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc giải quyết khiếu nại phải đảm bảo đúng quy định. Đồng thời, có công văn trả lời cho ông N biết trường hợp ông khiếu nại không được thụ lý giải quyết. Lý do: Việc ông K ủy quyền cho ông N về việc thi hành án là không hợp pháp và ông N không được ủy quyền khiếu nại việc thi hành án. Mặt khác, đối tượng bị khiếu nại là Quyết định giải quyết khiếu nại số 14/QĐ-CTHA.GQKN ngày 17/8/2017 của Cục trưởng Cục Thi hành dân sự tỉnh H đã bị thu hồi.

3. Giải pháp khắc phục

Việc quy định rõ ràng có hay không áp dụng Điều 37 Luật Thi hành án dân sự trong việc thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự là đảm bảo quyền của người khiếu nại, đồng thời giúp cho việc giải quyết khiếu nại của các cơ quan thi hành án dân sự được “minh bạch”, rõ ràng hơn. Về lâu dài, cần bổ sung quy định này trong Luật Thi hành án dân sự. Trước mắt, để các cơ quan thi hành án dân sự địa phương áp dụng thống nhất việc thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại theo Điều 37 Luật Thi hành án dân sự, Tổng cục Thi hành án dân sự cần có hướng dẫn chung, giải thích rõ về khái niệm “quyết định về thi hành án” bị thu hồi bao gồm quyết định của thủ trưởng, chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành án và quyết định giải quyết khiếu nại.

Nguyễn Thanh Tuấn
Tổng cục Thi hành án dân sự

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: