Thứ năm 15/01/2026 18:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vấn đề thu nhập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử trong tố tụng hình sự

Bài viết tập trung phân tích, trao đổi quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử, trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng.

1. Dẫn nhập

Trong tố tụng hình sự (TTHS) thì chứng cứ và chứng minh là những vấn đề rất quan trọng, quyết định đến việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự (VAHS). Xác định tài liệu đồ vật nào là chứng cứ, có giá trị chứng minh và việc đánh giá, sử dụng chứng cứ như thế nào trong quá trình tố tụng có ý nghĩa quyết định đến việc giải quyết VAHS.

Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”.

Với tư cách là một nguồn chứng cứ trong TTHS, dữ liệu điện tử (DLĐT) được hiểu là những phản ánh vật chất tồn tại dưới dạng kỹ thuật số, lưu trữ trong các phương tiện điện tử hoặc trên mạng máy tính, mạng viễn thông, góp phần phản ánh một cách khách quan, trung thực những tình tiết, diễn biến trong VAHS hoặc có liên quan đến VAHS nào đó đã xảy ra. Ở trạng thái tự nhiên, DLĐT có trong các thiết bị, phương tiện điện tử hoặc được truyền đi, tiếp nhận từ các thiết bị, phương tiện điện tử, khi thông qua một phần mềm thích hợp (tương thích) thì các DLĐT sẽ biểu hiện dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự mà con người có thể nhận biết được bằng các giác quan. DLĐT được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng, bảo đảm các thuộc tính của chứng cứ được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết VAHS theo quy định của pháp luật.

2. Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về chứng cứ từ nguồn giữ liệu điện tử

Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định các loại nguồn chứng cứ, trong đó có DLĐT. Theo đó, từ các DLĐT, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (THTT) có thể thu thập được các loại chứng cứ dùng để chứng minh có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến việc giải quyết VAHS. Theo Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì: “DLĐT là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử”. Đây là nguồn chứng cứ mới được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đòi hỏi phải có cách hiểu đúng để có biện pháp thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ phù hợp, nhằm tạo tiền đề cho việc giải quyết đúng đắn VAHS, đặc biệt là các vụ án trong lĩnh vực công nghệ cao, những vụ án có sử dụng công nghệ thông tin là công cụ, phương tiện phạm tội.

Trên cơ sở tìm hiểu quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và thực tiễn áp dụng pháp luật về thu thập, kiểm tra, đánh giá, sử dụng chứng cứ từ nguồn DLĐT, tác giả có một số nhận xét như sau:

Thứ nhất, về thu thập chứng cứ từ nguồn DLĐT:

Để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền THTT có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân “cung cấp… DLĐT” (khoản 1 Điều 88). Ngoài ra, người bào chữa cũng có quyền thu thập chứng cứ bằng cách đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân “cung cấp… DLĐT” (khoản 2 Điều 88). Về phía những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào cũng đều có thể “đưa ra… DLĐT” (khoản 3 Điều 88).

Bên cạnh những quy định chung về thu thập chứng cứ nêu trên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn có quy định về biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (TTĐB) liên quan đến việc thu thập chứng cứ từ nguồn DLĐT. Với biện pháp “thu thập bí mật DLĐT” thì đương nhiên chứng cứ này cũng từ nguồn DLĐT. Tuy nhiên, với các biện pháp “ghi âm, ghi hình bí mật” (khoản 1 Điều 223) hay “nghe điện thoại bí mật” (khoản 2 Điều 223) thì thông tin, tài liệu được lưu giữ là hình ảnh, âm thanh lưu trong các băng từ, đĩa từ, các phương tiện điện tử thì xếp vào loại nguồn chứng cứ nào là vấn đề cần trao đổi.

Nếu xếp các loại thông tin đó vào nguồn DLĐT thì không phù hợp với sự phân loại về biện pháp thu thập. Dẫn đến có thể hiểu biện pháp “thu thập bí mật DLĐT” đã bao gồm cả hai biện pháp “ghi âm, ghi hình bí mật” và “nghe điện thoại bí mật”. Ngược lại, nếu đưa kết quả thu thập từ hai biện pháp điều tra TTĐB “ghi âm, ghi hình bí mật” và “nghe điện thoại bí mật” về nguồn chứng cứ vật chứng thì vẫn chưa phù hợp vì những “vật chứng” này lại có thể được xem là DLĐT.

Ngoài ra, Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn quy định về “thu thập phương tiện điện tử, DLĐT”. Tuy nhiên, những quy định của điều luật này lại cho thấy chưa thực sự khoa học và thậm chí còn có sự mâu thuẫn, khó hiểu. Trước hết, quy định của điều luật cho thấy có “thu thập phương tiện điện tử” và “thu thập DLĐT”. Theo khoản 1 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, việc thu thập phương tiện điện tử được hiểu là “thu giữ” phương tiện điện tử hoặc “sao lưu” đối với “phương tiện lưu trữ DLĐT”. Rõ ràng “thu thập” và “thu giữ” không thể hoàn toàn giống nhau và phương tiện điện tử cũng khác với phương tiện lưu trữ DLĐT. Đồng thời, theo quy định của điều luật có thể hiểu là thu thập DLĐT không bao gồm “chặn thu, sao lưu” DLĐT. Vì vậy, nếu chỉ căn cứ điều luật về “thu thập phương tiện điện tử, DLĐT” thì rất khó hiểu như thế nào là thu thập DLĐT. Việc thu thập chứng cứ từ nguồn DLĐT phải bảo đảm các nguyên tắc chung của TTHS. Trong đó có “bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân” (Điều 12 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Để bảo đảm nguyên tắc trên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có quy định mới liên quan đến hoạt khám xét DLĐT: “Khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín… DLĐT có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, DLĐT” (khoản 2 Điều 192). Như vậy, khi có căn cứ để nhận định “trong DLĐT” có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể “khám xét DLĐT”. Quy định này cho thấy, căn cứ khám xét DLĐT còn chưa rõ ràng khi có sự gộp chung các căn cứ khám xét khác.

Quá trình thu thập chứng cứ về mặt khoa học luật TTHS gồm có phát hiện, ghi nhận và bảo quản chứng cứ. Tuy nhiên, thuật ngữ “bảo quản chứng cứ” không được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Về mặt khoa học, bảo quản chứng cứ là giữ cho chứng cứ được tính nguyên vẹn như khi ta thu giữ, không làm mất, làm hỏng, làm biến dạng hay sai lệch sự thật. Việc bảo quản chứng cứ suy cho cùng là bảo quản nguyên vẹn các nguồn chứng cứ, bảo quản các thuộc tính của chứng cứ. Đối với chứng cứ từ nguồn DLĐT, việc bảo quản cũng giống như bảo quản chứng cứ từ các nguồn khác: “… DLĐT, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ, tạm giữ hoặc bị niêm phong phải được bảo quản nguyên vẹn” (Điều 199 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Bên cạnh đó, do tính đặc biệt của DLĐT mà việc bảo quản cũng có thể giống như bảo quản vật chứng: “Phương tiện điện tử, DLĐT được bảo quản như vật chứng theo quy định của Bộ luật này” (khoản 5 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

Việc thu thập, bảo quản chứng cứ từ nguồn DLĐT cần phải tuân thủ những quy định chung về thu thập chứng cứ, đồng thời phải cũng phải bảo đảm đúng quy định về việc “thu thập phương tiện điện tử, DLĐT” theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu những quy định cụ thể về thu thập, bảo quản chứng cứ từ nguồn DLĐT trong trường hợp phục hồi dữ liệu trên các phương tiện lưu trữ DLĐT bị xóa, bị ghi đè… Ngoài ra, trước sự phát triển của khoa học còn cho thấy việc sử dụng trí tuệ nhân tạo để phát hiện, ghi nhận và bảo quản chứng cứ từ nguồn DLĐT cũng là hoạt động rất cần thiết nhưng cũng chưa có những quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ hai, về kiểm tra, đánh giá chứng cứ từ nguồn DLĐT:

Chứng cứ từ nguồn DLĐT hay từ bất cứ nguồn nào cũng đều phải được kiểm tra, đánh giá theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: “Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án. Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết VAHS” (khoản 1 Điều 108). Việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ nói chung và chứng cứ từ nguồn DLĐT thuộc về trách nhiệm của người có thẩm quyền THTT: “Người có thẩm quyền THTT trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án” (khoản 2 Điều 108).

Để kiểm tra, đánh giá tính hợp pháp của chứng cứ từ nguồn DLĐT đòi hỏi người có thẩm quyền phải kiểm tra ngoài việc bảo đảm thông tin, tài liệu đó đúng nguồn được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, còn phải bảo đảm biện pháp thu thập đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục mà Bộ luật này quy định. Người có thẩm quyền thu thập DLĐT không chỉ là người có thẩm quyền THTT mà còn có người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác. Riêng đối với chứng cứ từ nguồn DLĐT do tiến hành biện pháp điều tra TTĐB còn đòi hỏi phải có quyết định áp dụng biện pháp điều tra TTĐB được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng có trách nhiệm kiểm tra chặt chẽ việc áp dụng biện pháp này, kịp thời đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ nếu xét thấy không còn cần thiết. Tuy nhiên, thời hạn để Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra TTĐB là bao lâu thì chưa được quy định cụ thể.

Kiểm tra, đánh giá tính xác thực hay còn gọi là tính khách quan của chứng cứ từ nguồn DLĐT chính là kiểm tra, đánh giá các thông tin, tài liệu phản ánh từ DLĐT có thực sự khách quan. Thông thường, những thông tin phản ánh từ DLĐT thường có tính khách quan rất cao. Tuy nhiên, các đối tượng cũng có thể dựa vào đặc điểm này mà cố tình đưa những thông tin giả vào DLĐT để đánh lừa những người có thẩm quyền khi kiểm tra, đánh giá tính khách quan của chứng cứ từ nguồn DLĐT.

Kiểm tra, đánh giá tính liên quan của chứng cứ từ nguồn DLĐT là kiểm tra, đánh giá về giá trị chứng minh của những thông tin, tài liệu thu thập hợp pháp và khách quan từ các hoạt động có thể chứng minh được vấn đề nào trong VAHS; thông tin, tình tiết được phản ánh đó liên quan một cách trực tiếp hay gián tiếp vấn đề phải chứng minh trong VAHS.

Song song với quá trình kiểm tra chứng cứ đó là hoạt động đánh giá chứng cứ là hoạt động tư duy của người THTT, dựa trên cơ sở pháp luật hình sự, pháp luật TTHS, ý thức pháp luật và niềm tin nội tâm nhằm xác định giá trị chứng minh của chứng cứ đã thu được. Việc đánh giá chứng cứ từ nguồn DLĐT cũng phải tuân theo những nguyên tắc và phương pháp chung của đánh giá chứng cứ. Thực tiễn cho thấy, những thông tin, tài liệu có được từ nguồn DLĐT thường là những chứng cứ trực tiếp, cho thấy ngay đối tượng cần chứng minh. Tuy nhiên, cũng không loại trừ vì một lý do nào đó mà đối tượng biết mình đang bị theo dõi nên đưa ra những thông tin giả gây khó khăn cho hoạt động điều tra. Vì vậy, việc đánh giá chứng cứ từ nguồn DLĐT cần hết sức khách quan, toàn diện. Nó phụ thuộc rất lớn vào ý thức pháp luật và niềm tin nội tâm của những người có thẩm quyền.

Thứ ba, về sử dụng chứng cứ từ nguồn DLĐT:

Về mặt khoa học: Sử dụng chứng cứ là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền THTT dùng các thông tin, tài liệu đã bảo đảm tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp đế kết luận về các vấn đề của VAHS. Tuy nhiên, trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không có thuật ngữ về “sử dụng chứng cứ” nói chung mà chỉ có những quy định liên quan đến việc sử dụng chứng cứ từ biện pháp điều tra TTĐB và những quy định về sử dụng các nguồn chứng cứ, trong đó có nguồn DLĐT.

Trước hết, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về việc sử dụng chứng cứ từ biện pháp điều tra TTĐB là “thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra TTĐB chỉ được sử dụng vào việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử VAHS; thông tin, tài liệu không liên quan đến vụ án phải tiêu hủy kịp thời. Nghiêm cấm sử dụng thông tin, tài liệu, chứng cứ thu thập được vào mục đích khác” (khoản 1 Điều 227).

Việc sử dụng chứng cứ từ nguồn DLĐT không chỉ qua biện pháp điều tra TTĐB mà còn do nhiều hoạt động và nhiều chủ thể khác tiến hành. Vì vậy, bên cạnh những quy định về sử dụng chứng cứ nói chung, chứng cứ từ biện pháp điều tra TTĐB nói riêng, việc sử dụng chứng cứ từ nguồn DLĐT cũng có những điểm riêng của nó, bởi vì: “Giá trị chứng cứ của DLĐT được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi DLĐT; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của DLĐT; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác” (khoản 3 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).

Khác với chứng cứ truyền thống, giá trị sử dụng của chứng cứ từ nguồn DLĐT không chỉ được dựa trên kết quả kiểm tra, đánh giá về các thuộc tính khách quan, liên quan và hợp pháp mà còn phải dựa vào cả tiêu chí về cách thức bảo đảm, duy trì tính toàn vẹn của thông điệp DLĐT và cách xác định của người khởi tạo thông điệp đó hoặc các yếu tố phù hợp khác. Cho dù việc thu được DLĐT có khách quan, liên quan và hợp pháp nhưng nếu không được sử dụng phần mềm thích hợp, không có thiết bị và phương tiện điện tử thích hợp, hay không có người có khả năng sử dụng thiết bị, phương tiện và phần mềm thì cũng không thể thấy, không thể nhận biết được các thông điệp của thông tin là chữ viết, chữ số, ký hiệu, âm thanh, hình ảnh hoặc dạng tương tự. Vì vậy, cũng không được dùng làm chứng cứ.

Trong thực tiễn, việc sử dụng chứng cứ từ nguồn DLĐT hiện nay vẫn đang còn nhiều quan điểm cá nhân khác nhau của những người có thẩm quyền THTT và người tham gia tố tụng. Về phía người có thẩm quyền THTT thường đặt ra là sau khi thu thập DLĐT có cần giám định, nhận dạng lại âm thanh, hình ảnh… ngay cả khi tiến hành biện pháp điều tra TTĐB hay không. Về phía người tham gia tố tụng thì yêu cầu phải đưa ra tất cả DLĐT mà không chỉ phần bất lợi cho họ. Thế nhưng, nếu đưa ra tất cả DLĐT thu được thì lại có thể làm lộ bí mật, làm ảnh hưởng quyền lợi cá nhân… Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục trích xuất chứng cứ từ nguồn DLĐT.

Trong một thời gian dài, Nhà nước ta có thừa nhận biện pháp nghiệp vụ điều tra bí mật, có sử dụng những ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử để đấu tranh với tội phạm nhưng vẫn chưa được sử dụng công khai trong TTHS hoặc có sử dụng thì tên gọi cũng chưa được thống nhất nên việc áp dụng pháp luật ở mỗi nơi cũng có khác nhau.

3. Một số đề xuất góp phần nâng cao hiệu quả thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử

Kể từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ra đời và có hiệu lực pháp luật, chứng cứ từ nguồn DLĐT chính thức được thừa nhận, góp phần cho công tác điều tra phòng, chống tội phạm, nhất là tội phạm hoạt động qua mạng có được nhiều thuận lợi hơn. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, cần phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện những quy định pháp luật liên quan để góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả việc thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ từ nguồn DLĐT như sau:

Thứ nhất, các nhà làm luật cần xây dựng các chế định trong TTHS, dân sự, hành chính liên quan đến chứng cứ từ nguồn DLĐT bảo đảm sự thống nhất và đồng bộ trong cả ba hệ thống tố tụng như về khái niệm DLĐT, về các hoạt động tố tụng liên quan đến thu thập DLĐT như khám nghiệm hiện trường, khám xét, tương trợ tư pháp, việc tìm kiếm, phát hiện, phục hồi, thu thập, bảo quản, đánh giá, sử dụng chứng cứ từ nguồn DLĐT.

Thứ hai, cần có văn bản hướng dẫn thống nhất hoặc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định về thu thập nguồn chứng cứ có được từ biện pháp điều tra TTĐB trong TTHS theo hướng các thông tin, tài liệu về âm thanh, hình ảnh thu thập được từ biện pháp ghi âm bí mật, ghi hình bí mật, nghe điện thoại bí mật cũng được xem là nguồn chứng cứ DLĐT.

Thứ ba, cần sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện những quy định tại Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng hoàn thiện các cụm từ “thu thập”, “thu giữ”, “phương tiện điện tử”, “phương tiện lưu trữ DLĐT”. Đặc biệt, cần hoàn thiện quy định về thu thập DLĐT theo hướng thu thập DLĐT bao gồm cả thu giữ, chặn thu, sao lưu, phục hồi DLĐT trên phương tiện điện tử, trên đường truyền… để hạn chế việc sử dụng từ ngữ lặp lại không thống nhất, gây khó hiểu trong áp dụng pháp luật.

Thứ tư, cần nghiên cứu, bổ sung những quy định về việc sử dụng trí tuệ nhân tạo để phát hiện, thu thập chứng cứ, bảo quản, đánh giá và sử dụng chứng cứ từ nguồn DLĐT cần có những khung pháp lý cụ thể.

Thứ năm, cần có quy định bổ sung về vai trò, nhiệm vụ, trách nhiệm của người có thẩm quyền THTT và lực lượng làm công tác chuyên môn có liên quan đến việc thu thập, kiểm tra, đánh giá, sử dụng chứng cứ từ nguồn DLĐT cũng như trong khi áp dụng biện pháp điều tra TTĐB. Bởi vì, những thông tin từ nguồn DLĐT rất lớn, có thể liên quan bí mật điều tra, bí mật đời tư… Việc để lộ, lọt những thông tin từ nguồn DLĐT nhất là khi tiến hành biện pháp điều tra TTĐB không chỉ làm cho đối tượng cảnh giác, tìm cách đối phó, tạo ra thông tin sai lệch, đánh lạc hướng cơ quan có thẩm quyền THTT hay có biểu hiện chống đối… mà còn có thể ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác.

Thứ sáu, cần có hướng dẫn về thành phần, quy trình tiến hành việc kiểm tra, cắt, trích, sao chép thông tin về âm thanh, hình ảnh từ nguồn DLĐT, đặc biệt là từ kết quả tiến hành biện pháp điều tra TTĐB để sử dụng làm chứng cứ theo hướng thành phần tham gia phải có điều tra viên, kiểm sát viên, các chuyên gia kỹ thuật có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm liên quan đến biện pháp điều tra TTĐB được áp dụng. Trong trường hợp cần thiết, có thể cho người bào chữa, người bị buộc tội, người tham gia tố tụng khác cùng tham gia./.

PGS. TS. Hoàng Minh Đức

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 406), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: