Thứ năm 15/01/2026 06:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vận dụng nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật giải quyết vụ việc thực tiễn

Vận dụng nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật giải quyết vụ việc thực tiễn có ý nghĩa quan trọng đối với công tác pháp chế nói chung và pháp chế doanh nghiệp nói riêng cũng như hoạt động tư vấn, tranh tụng tại Trọng tài hay Tòa án.

Vận dụng nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật giải quyết vụ việc thực tiễn có ý nghĩa quan trọng đối với công tác pháp chế nói chung và pháp chế doanh nghiệp nói riêng cũng như hoạt động tư vấn, tranh tụng tại Trọng tài hay Tòa án. Tuy nhiên, không phải những người hoạt động trong các lĩnh vực này đều có kỹ năng cần thiết để thấu hiểu đầy đủ nội dung các quy phạm pháp luật cần truyền tải và vận dụng nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật giải quyết vụ việc phát sinh từ thực tiễn pháp lý đầy sôi động. Bài viết này tập trung làm sáng rõ những kiến thức pháp lý cơ bản nhằm nâng cao kỹ năng vận dụng nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật giải quyết vụ việc thực tiễn.

1. Dẫn nhập

Trong xã hội hiện đại, vẫn luôn có sự đan xen tồn tại nhiều loại quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội, như quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm tập quán, quy phạm của các tổ chức chính trị - xã hội, quy phạm pháp luật… trong đó, quy phạm pháp luật có vị trí quan trọng, vai trò trung tâm trong hệ thống các quy phạm điều chỉnh quan hệ xã hội. Ở Việt Nam, quan niệm về áp dụng pháp luật vẫn được nhìn nhận rộng hẹp khác nhau, chưa có sự đồng nhất[1]. Ở mức độ phổ quát, áp dụng pháp luật là một dạng thức biểu hiện của thực hiện pháp luật, đó là hoạt động của các chủ thể nhân danh quyền lực nhà nước và tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền theo quy định pháp luật, căn cứ vào các quy định pháp luật để đưa ra quyết định có tính cá biệt nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội theo mục tiêu cụ thể. Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật[2].

Các quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnh của pháp luật ngày càng đa dạng về chủ thể, phong phú về mục đích cũng như phức tạp về nội dung mối quan hệ giữa các bên. Bởi vậy, pháp luật của xã hội hiện đại cũng ngày càng phát triển, đa dạng và phức tạp về cấu trúc hình thức lẫn cấu trúc nội dung. Khi hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng đa dạng, nội dung điều chỉnh pháp luật ngày càng phức tạp trên nhiều lĩnh vực thì nguy cơ xung đột pháp luật cũng ngày càng gia tăng và việc đặt ra nguyên tắc (tư tưởng chỉ đạo) áp dụng vản bản quy phạm pháp luật là điều tất yếu, cần thiết. Nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật là tư tưởng chỉ đạo được quán triệt trong các quy phạm pháp luật đòi hỏi mọi chủ thể có thẩm quyền khi áp dụng văn bản quy phạm pháp luật phải triệt để tuân thủ. Để vận dụng có hiệu quả các nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật giải quyết tình huống thực tiễn, trước hết cần hiểu đúng nguyên tắc “được làm những gì pháp luật không cấm” - một nguyên tắc cơ bản trong xây dựng và thực thi pháp luật của Nhà nước pháp quyền.

2. Hiểu đúng nguyên tắc được làm những gì pháp luật không cấm

Nhà nước pháp quyền đỏi hỏi pháp luật phải được xây dựng và vận hành dựa trên nền tảng tư tưởng pháp lý (nguyên tắc pháp lý) sau: (i) Cá nhân, tổ chức được làm những gì pháp luật không cấm; (ii) Cơ quan nhà nước, công chức, viên chức nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật có quy định. Tuy nhiên, trong thực tiễn không phải nguyên tắc pháp lý này lúc nào cũng được hiểu đúng, làm đúng. Trong thực tiễn pháp lý, vẫn có những trường hợp pháp luật không cấm nhưng tổ chức, cá nhân vẫn không được làm bởi khi họ thực hiện một hành vi thể hiện quyền tự do của mình mà pháp luật không cấm nhưng hành vi đó cần phải được ghi nhận (công nhận) bằng thủ tục hành chính của Nhà nước mà thủ tục hành chính để Nhà nước ghi nhận hành vi đó lại chưa được pháp luật quy định.

Chẳng hạn, chủ doanh nghiệp tư nhân có thể thực hiện chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (viết tắt công ty TNHH 1TV) theo Điều 205 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Tuy nhiên, chủ sở hữu công ty TNHH 1TV lại không thể thực hiện thủ tục chuyển đổi công ty TNHH 1TV thành doanh nghiệp tư nhân, bởi hình thức chuyển đổi này không được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2020. Vì vậy, cơ quan đăng ký kinh doanh không thể làm thủ thục đăng ký chuyển đổi công ty TNHH 1TV thành doanh nghiệp tư nhân, mặc dù Luật Doanh nghiệp năm 2020 không có điều luật nào cấm chuyển đổi công ty TNHH 1TV thành doanh nghiệp tư nhân. Trong trường hợp này, chủ sở hữu công ty TNHH 1TV phải làm đồng thời hai thủ tục pháp lý, đó là thành lập doanh nghiệp tư nhân và giải thể công ty TNHH 1TV[3].

3. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm xảy ra hành vi

Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó[4]. Theo nguyên tắc này, phải áp dụng văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực tại thời điểm xảy ra hành vi. Tuy nhiên, vẫn có ngoại lệ khi áp dụng nguyên tắc này. Theo đó, trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước (hiệu lực hồi tố) thì áp dụng theo quy định đó. Quy định hiệu lực hồi tố chỉ được đặt ra trong trường hợp đặc biệt, thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân. Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây: (i) Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý; (ii) Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn[5].

Chỉ luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương mới được quy định hiệu lực trở về trước[6]. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt không được quy định hiệu lực trở về trước. Ngoài ra, cũng cần lưu ý trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới[7].

Ví dụ: Cục Thuế tỉnh M thanh tra Công ty CP H, truy thu tiền chậm nộp thuế căn cứ theo Luật Quản lý thuế số 71 đối với hành vi kê khai thuế của Công ty CP H (cho kỳ tính thuế 2011, có thời hạn nộp cuối cùng là 31/3/2012), trước thời điểm Luật Quản lý thuế số 71 có hiệu lực thi hành từ 01/7/2013. Công ty CP H khiếu nại nhưng quyền lợi của doanh nghiệp vẫn không được giải quyết. Vì vậy, Công ty CP H đã nhờ sự trợ giúp của tư vấn thuế và chuyên gia pháp lý để khởi kiện hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh M. Sau khi xem xét vụ việc, Hội đồng xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân tỉnh M đã chấp nhận toàn bộ nội dung khởi kiện của Công ty CP H, tuyên huỷ toàn bộ các quyết định truy thu, phạt tiền chậm nộp tiền thuế của Cục Thuế tỉnh M. Cục Thuế tỉnh M đã kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh M. Giải quyết vụ việc, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh M.

Trong tình huống này, cần phải áp dụng Luật Quản lý thuế số 78/2006 để xem xét hành vi kê khai thuế của Công ty CP H (áp dụng văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực tại thời điểm xảy ra hành vi), không áp dụng Luật Quản lý thuế số 71 có hiệu lực thi hành từ 01/7/2013[8]. Cục Thuế tỉnh M truy thu tiền chậm nộp thuế căn cứ theo Luật Quản lý thuế số 71 đối với hành vi kê khai thuế trước thời điểm Luật Quản lý thuế số 71 có hiệu lực là không đúng với nguyên tác áp dụng hiệu lực hồi tố.

4. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn

Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn[9]. Theo Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm[10]: Hiến pháp; bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; quyết định của Thủ tướng Chính phủ; nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; quyết định của Tổng kiểm toán nhà nước; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Không ban hành thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện; quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện; nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã; quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.

Ví dụ: Trong cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước, chức danh Tổng giám đốc Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm hay Hội đồng thành viên Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước bổ nhiệm? Trong tình huống này, có thể nhận thấy:

- Theo khoản 3 Điều 5 Nghị định số 159/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp thì Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm Tổng giám đốc Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước;

- Theo khoản 1 Điều 100 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thì Giám đốc hoặc Tổng giám đốc do Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty bổ nhiệm hoặc thuê theo phương án nhân sự đã được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận.

Căn cứ khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn. Trong trường hợp này, cần áp dụng khoản 1 Điều 100 Luật Doanh nghiệp năm 2020, theo đó, Tổng giám đốc Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước do Hội đồng thành viên Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước bổ nhiệm.

5. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau

Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau[11]. Văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau thường chỉ rõ hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật ban hành trước về cùng một vấn đề. Tuy nhiên, có thể vẫn nảy sinh một vấn đề được quy định ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau do cùng một cơ quan ban hành và các văn bản quy phạm pháp luật này đều đang có hiệu lực thì áp dụng nội dung quy định của văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau.

Ví dụ: Ngày 10/2/2015, Công ty TNHH X ký Hợp đồng số 06/2015/HĐTN với vợ chồng ông Hoàng Tân và bà Nguyễn Thị Điệp để thuê nhà làm trụ sở giao dịch. Theo thỏa thuận, thời hạn thuê 05 năm, kể từ ngày 01/3/2015. Giá thuê nhà 20 triệu/tháng. Tháng 02/2016, ông Tân và bà Điệp đề nghị Công ty TNHH X tăng giá tiền thuê nhà cho 4 năm còn lại (do giá thuê nhà ở khu vực đang gia tăng) nhưng Công ty TNHH X không đồng ý và phát sinh tranh chấp. Ông Tân và bà Điệp đã khởi kiện Công ty TNHH X ra Tòa án nhân dân huyện M yêu cầu tuyên Hợp đồng số 06/2015/HĐTN vô hiệu do không công chứng theo quy định tại Điều 492 Bộ luật Dân sự năm 2005. Với sự trợ giúp của luật sư, các bên hòa giải thành và Tòa án nhân dân huyện M đã đình chỉ giải quyết vụ án. Trong tình huống này, có thể nhận thấy: (i) Theo Điều 492 Bộ luật Dân sự năm 2005, hợp đồng thuê nhà thời hạn 06 tháng trở lên phải công chứng hoặc chứng thực và phải đăng ký, trừ khi pháp luật có quy định khác; (ii) Theo khoản 2 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014 (sửa đổi 2020), đối với trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương; mua bán, cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; mua bán, cho thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư; góp vốn bằng nhà ở mà có một bên là tổ chức; cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở thì không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng. Vì vậy, cần áp dụng khoản 2 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014 (luật ban hành sau - cũng là luật chuyên ngành) để xác định hiệu lực của Hợp đồng số 06/2015/HĐTN (không áp dụng Điều 492 Bộ luật Dân sự năm 2005).

6. Ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành

Nguyên lý (học thuyết pháp lý) về mối quan hệ luật riêng/luật chuyên ngành với luật chung được quy định và áp dụng phổ biến trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới, điển hình như: Nhật Bản, Đức, Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc[12]. Khi xem xét đến mối quan hệ giữa luật riêng/luật chuyên ngành và luật chung, người ta coi đây là: (i) Vấn đề về mối quan hệ giữa các văn bản pháp luật và (ii) Đối tượng được nói đến chỉ là các văn bản giá trị luật[13]. Nguyên lý ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành trước luật chung đến nay vẫn chưa được nhìn nhận nhất quán trong giới luật học ở Việt Nam. Nguyên lý này cũng chưa được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhưng hạt nhân của nguyên lý này cũng đã được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 và một số luật khác.

- Theo Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Dân sự là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự. Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự (quy định tại Điều 3 của Bộ luật Dân sự) được ưu tiên áp dụng. Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì quy định của Bộ luật Dân sự được áp dụng.

Nguyên lý ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành cũng được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”.

- Tại Điều 4 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “1. Hoạt động thương mại phải tuân theo Luật thương mại và pháp luật có liên quan. 2. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó. 3. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự”.

- Tại khoản 2 Điều 5 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định: “Trường hợp luật khác có quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hình thức tập trung kinh tế, hành vi cạnh tranh không lành mạnh và việc xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của luật đó”.

- Tại Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Trường hợp luật khác có quy định đặc thù về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp thì áp dụng quy định của luật đó”.

Ngoài ra, nguyên lý ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành trước luật chung cũng được đề cập tại Điều 3 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi năm 2018), khoản 2 Điều 1 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Điều 4 Luật Đầu tư năm 2020... Qua các quy định của pháp luật Việt Nam, nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành được vận dụng như sau:

(i) Trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác với Luật Thương mại về vấn đề pháp lý có liên quan và các quy định này không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì áp dụng luật riêng/luật chuyên ngành;

(ii) Trường hợp luật chuyên ngành không quy định về vấn đề pháp lý có liên quan nhưng Luật Thương mại có quy định về vấn đề đó và quy định của Luật Thương mại không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì áp dụng Luật Thương mại;

(iii) Trường hợp luật chuyên ngành hoặc Luật Thương mại có quy định khác Bộ luật Dân sự về vấn đề pháp lý có liên quan và các quy định này không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì áp dụng luật chuyên ngành hoặc Luật Thương mại;

(iv) Trường hợp luật chuyên ngành và Luật Thương mại không quy định về vấn đề pháp lý có liên quan hoặc có quy định khác với Bộ luật Dân sự mà các quy định này trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì áp dụng Bộ luật Dân sự.

Ví dụ: Công ty TNHH G ký Hợp đồng 08/2021/HĐHT với Công ty CP H để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng Tổ hợp Trung tâm thương mại và chung cư cao cấp tại quận Y, thành phố X.

Theo Hợp đồng 08/2021/HĐHT, Công ty TNHH G đầu tư toàn bộ diện tích lô đất 25.000m2 và thực hiện thủ tục pháp lý liên quan đến Dự án; Công ty CP H đầu tư vốn để giải phóng mặt bằng, di rời nhà xưởng cũng như thiết kế, thi công và hoàn thiện công trình của Dự án. Sau khi hoàn thành Dự án, Công ty TNHH G được quản lý, khai thác toàn bộ các tầng hầm, khuôn viên và diện tích sàn tại tầng 1 và tầng 2, tầng 3 của Dự án; Công ty CP H quản lý, khai thác toàn bộ từ tầng 4 trở lên. Hợp đồng có nhiều nội dung, trong đó có quy định: “Bên vi phạm bị phạt 10% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm”. Thỏa thuận phạt vi phạm tại Hợp đồng 08/2021/HĐHT là phù hợp hay không phù hợp pháp luật Việt Nam hiện hành? Qua vụ việc này, có thể nhận thấy:

- Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định về mức phạt. Điều 146 Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi năm 2020) quy định, đối với công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước, mức phạt hợp đồng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm. Tuy nhiên, tình huống này không áp dụng Bộ luật Dân sự và Điều 146 Luật Xây dựng.

- Hợp đồng 08/2021/HĐHT ký kết giữa Công ty TNHH G và Công ty CP H là hợp đồng hợp tác kinh doanh, luật riêng trực tiếp điều chỉnh quan hệ hợp đồng này là Luật Đầu tư năm 2020. Tuy nhiên, Luật Đầu tư năm 2020 không quy định về phạt giữa các bên trong quan hệ hợp đồng hợp tác kinh doanh nên áp dụng Điều 301 Luật Thương mại năm 2005 (luật chung trong mối quan hệ với Luật Đầu tư năm 2020) về mức phạt vi phạm, theo đó mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 Luật Thương mại năm 2005. Vì vậy, thỏa thuận “bên vi phạm bị phạt 10% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm” tại Hợp đồng 08/2021/HĐHT giữa Công ty TNHH G và Công ty CP H là trái pháp luật[14].

7. Một số nguyên tắc áp dụng quy phạm pháp luật khác

Bên cạnh các nguyên tắc cơ bản nêu trên, nguyên tắc áp dụng quy phạm pháp luật còn bao gồm một số nguyên tắc khác, như:

(i) Áp dụng bảo lưu ưu đãi đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật (Điều 13 Luật Đầu tư năm 2020);

(ii) Áp dụng điều ước quốc tế khi khác biệt với văn bản quy phạm pháp luật trong nước về cùng một vấn đề, trừ Hiến pháp (khoản 5 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật);

(iii) Áp dụng hiệu lực về không gian (Điều 155 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật);

Ngoài ra, cần lưu ý đến trật tự áp dụng nguồn bổ trợ khác, như áp dụng tập quán, thói quen trong thương mại[15](Điều 5 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3, khoản 4 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005) và áp dụng tương tự pháp luật, án lệ, lẽ công bằng (Điều 6 Bộ luật Dân sự năm 2015)...

ThS. Hoàng Minh Chiến
Trường Đại học Luật Hà Nội


[1] Xem thêm: TS. Nguyễn Thị Hồi (chủ biên), Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp, Hà Nội 2009, tr. 22 - tr. 30.

[2] Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

[3] Để giải thể Công ty TNHH 1TV, chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân cam kết tiếp nhận các quyền, nghĩa vụ của công ty TNHH 1TV nhằm hoàn tất hồ sơ giải thể công ty TNHH 1TV gửi cơ quan đăng ký kinh doanh. Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật tình trạng pháp lý của công ty TNHH 1TV trên cxơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

[4] Khoản 1 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

[5] Điều 152 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

[6] Quy định hiệu lực trở về trước (hồi tố) cũng đã được đề cập tại một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam, như khoản 1 và khoản 2 Điều 118 Luật Cạnh tranh năm 2018; khoản 2 Điều 13 Luật Đầu tư năm 2020; khoản 2, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)…

[7] Khoản 4 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

[8] Chỉ áp dụng hiệu lực hồi tố trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản mới có hiệu lực (khoản 4 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật).

[9] Khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

[10] Được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 63/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (hiệu lực từ ngày 01/01/2021).

[11] Khoản 3 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.[12] Xem thêm: TS. Nguyễn Văn Hiến, Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong trường hợp các văn bản do cùng một chủ thể ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề. Nguồn:

[13] Xem thêm: PGS, TS. Nguyễn Như Phát, Bài tham luận tại Hội thảo khoa học của VCCI ngày 8/12/2004.

[14] Vô hiệu đối với phần vượt quá 8% giá trị nghĩa vụ bị vi phạm.

[15] Luật Thương mại 2005, chỉ định nghĩa tập quán, thói quen trong thương mại, không quy định về thứ bậc ưu tiên áp dụng tập quán, thói quen trong thương mại. Tuy nhiên, căn cứ vào khái niệm thói quen trong thương mại và quy định tại Điều 5, Điều 6 Bộ luật Dân sự 2015 thì thói quen trong hoạt động thương mại được áp dụng khi các bên không có thỏa thuận. Các bên không có thỏa thuận (cũng không có thói quen trong thương mại), pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng tương tự pháp luật. Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng.



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: