Thứ tư 18/03/2026 00:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tại Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015

Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật, có liên quan chặt chẽ với hoạt động định tội danh của Tòa án. Quyết định hình phạt công minh, có căn cứ và đúng pháp luật mang ý nghĩa chính trị xã hội và ý nghĩa pháp lý rất quan trọng, đó là thực hiện đúng mục đích của hình phạt, góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, hỗ trợ đắc lực cho công tác giáo dục, tuyên truyền trong nhân dân có ý thức tôn trọng, chấp hành nghiêm pháp luật, đây là vấn đề được toàn xã hội quan tâm, đặc biệt là các cơ quan bảo vệ pháp luật.

1. Lời nói đầu

Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn cơ bản quan trọng của quá trình áp dụng luật hình sự, bởi suy cho cùng, các hoạt động tố tụng hình sự trước đó (từ điều tra, truy tố, kể cả việc tranh tụng tại phiên tòa) sẽ không có ý nghĩa nếu Tòa án không làm tốt việc quyết định hình phạt. Quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý là tiền đề, điều kiện để đạt mục đích hình phạt (cải tạo, giáo dục riêng, phòng ngừa chung). Nếu hình phạt quá nhẹ sẽ làm giảm hiệu quả pháp luật trong đấu tranh phòng chống tội phạm, bởi nó có thể làm phát sinh ý định phạm tội, thái độ vô trách nhiệm và coi thường pháp luật của người phạm tội. Nhưng hình phạt quá nặng sẽ tạo tâm lý không công bằng, không hợp lý ở người bị kết án dẫn đến thái độ oán hận, không tin tưởng pháp luật.

2. Quy định của điều luật và thực tiễn áp dụng

Quyết định hình phạt là việc cơ quan Tòa án (Hội đồng xét xử) trên cơ sở của Bộ luật Hình sự lựa chọn một hình phạt cụ thể và xác định mức hình phạt trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội.

Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự là trường hợp Tòa án có thể áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.

Theo cấu trúc của các điều luật thì khi một người bị truy tố, xét xử về một tội phạm nào đó được quy định trong Bộ luật Hình sự, thì họ phải chịu mức hình phạt của một trong các hình phạt chính được quy định trong điều luật đó. Tuy nhiên, có không ít những trường hợp người phạm tội được quyết định hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt mà họ đã bị truy tố.

Theo quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự) thì: “1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”.

Theo đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự phải đảm bảo các điều kiện cần và đủ. Khi xét đến các điều kiện cần của Điều 54 Bộ luật Hình sự thì Hội đồng xét xử phải căn cứ khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, các văn bản hướng dẫn dưới luật có liên quan để xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, đồng thời phải đảm bảo các nguyên tắc về quyết định hình phạt liên quan. Như vậy, khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật mà người phạm tội bị xét xử.

Thông thường các điều luật trong Bộ luật Hình sự, khung hình phạt của điều luật được sắp xếp theo thứ tự 1, 2, 3… từ nhẹ nhất đến nặng nhất, theo quy định khi có từ hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự trở lên và đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, Tòa án chỉ có thể quyết định một hình phạt trong khung hình phạt của khoản 1, nếu người phạm tội bị xét xử theo khoản 2 hoặc Tòa án chỉ có thể quyết định một hình phạt trong khung hình phạt khoản 2 nếu người phạm tội bị xét xử theo khoản 3. Tuy nhiên, có những điều luật lại được sắp xếp theo thứ tự từ nặng nhất đến nhẹ nhất. Ví dụ: “Tội giết người” theo Điều 123 Bộ luật Hình sự, khoản 1 có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Nhưng khoản 2 lại có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù. Vậy nếu người phạm tội bị xét xử theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 và được áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự sẽ được quyết định hình phạt như thế nào?

Trường hợp điều luật được áp dụng chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là nhẹ nhất của điều luật, Hội đồng xét xử có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Điều luật không quy định cụ thể Tòa án có thể chuyển sang loại hình phạt nhẹ hơn liền kề, nên có cách hiểu là Hội đồng xét xử chỉ có thể quyết định chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn liền kề. Theo tác giả, Tòa án có thể chuyển qua loại hình phạt nhẹ hơn xuống loại hình phạt nhẹ hơn nữa; hình phạt thuộc loại nhẹ hơn không bắt buộc phải được áp dụng đối với loại tội phạm theo khung hình phạt mà bị cáo bị xét xử.

Ví dụ: Bị cáo Nguyễn Văn A bị xét xử về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Bị cáo A có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử được quyết định mức hình phạt tù dưới 06 tháng hoặc chuyển qua loại hình phạt nhẹ hơn cải tạo không giam giữ hoặc chuyển qua loại hình phạt nhẹ hơn xuống loại hình phạt nhẹ hơn nữa là cảnh cáo, phạt tiền.

Đối với hình phạt tù có thời hạn, Hội đồng xét xử không được quyết định mức hình phạt tù dưới 03 tháng vì theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mức tối thiểu của loại hình phạt này là 03 tháng; do đó, trong mọi trường hợp khi quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định mức thấp nhất của khung hình phạt là trên 03 tháng tù, thì không được quyết định mức hình phạt tù dưới 03 tháng; nếu mức thấp nhất của khung hình phạt là 03 tháng tù, thì chỉ có thể chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.

Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự, mức tối thiểu của hình phạt này này là 06 tháng, do đó, trong mọi trường hợp khi quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, không được quyết định mức hình phạt cải tạo không giam giữ dưới 06 tháng.

Đối với hình phạt tiền, thì theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự, mức tối thiểu là 01 triệu đồng; do đó, trong mọi trường hợp khi quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, không được quyết định mức hình phạt tiền dưới 01 triệu đồng. Nếu mức thấp nhất của khung hình phạt là 01 triệu đồng, thì chỉ có thể chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn là cảnh cáo.

Khi xét xử cùng một lần một người phạm nhiều tội, nếu tội nào mà người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, thì có thể áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự đối với tội đó, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Trong thực tiễn xét xử, trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng cũng có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, thì việc xem xét để áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự như thế nào?

Quan điểm thứ nhất cho rằng nếu bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng đồng thời lại có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, lấy số lượng tình tiết giảm nhẹ trừ đi số lượng tình tiết tăng nặng mà còn từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên thì vẫn áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng cũng có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì không áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, cách hiểu và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự của các Tòa vẫn chưa thống nhất, trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đồng thời lại có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xem xét tính chất, mức độ lỗi, hậu quả nguy hiểm của hành vi phạm tội không đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, nhưng có Tòa vẫn áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo dẫn đến quyết định hình phạt chưa chính xác.

Có những vụ án mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng không thể áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự vì tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, không đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Có trường hợp Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đồng thời áp dụng khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho người phạm tội được hưởng án treo mặc dù họ bị xét xử ở khung hình phạt có mức án cao dẫn đến quyết định hình phạt không chính xác, chưa đạt được mục đích.

Ví dụ: Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 03/6/2018 tại phòng ngủ nhà chị Nguyễn Thị N, thuộc xã Ayun, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Trần Văn Th vì ham muốn tình dục, không làm chủ được bản thân. Th đã có hành vi cho cháu Nguyễn Mai T (sinh ngày 25/5/2011) dùng tay và miệng kích thích vào dương vật của Th, Th dùng tay sờ mó vào bộ phận sinh dục của cháu T, nhằm thỏa mãn dục vọng cá nhân. Bản án số 10/2018/HS-ST ngày 29/12/2018 của Tòa án quân sự Khu vực X Quân khu Y xét xử Trần Văn Th phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự và nhận định bị cáo Th phạm tội lần đầu; khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt đến 03 năm tù “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, Th có thêm 2 tình tiết giảm nhẹ “tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả” và “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 146; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54, khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trần Văn Th 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát quân sự Quân khu Y ra Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS ngày 16/01/2019, nội dung: Kết luận của Bản án hình sự sơ thẩm về tội danh như đã nêu trên để xử phạt bị cáo Trần Văn Th là có căn cứ, tuy nhiên do chưa đánh giá hết tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả nghiêm trọng của vụ án do bị cáo gây ra cũng như thực trạng tình hình bạo lực, xâm hại trẻ em, nhất là xâm hại tình dục có chiều hướng diễn biến phức tạp trong giai đoạn hiện nay, nên Hội đồng xét xử đã áp dụng Điều 54 và Điều 65 là không phù hợp, xử phạt bị cáo Trần Văn Th 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng là quá nhẹ, chưa đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Ngày 12/3/2019, Tòa án quân sự Quân khu Y xét xử phúc thẩm: Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, không áp dụng Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với Trần Văn Th, sửa hình phạt tù cho hưởng án treo tại Bản án số 10/2018/HS-ST ngày 29/12/2018 của Tòa án quân sự Khu vực X Quân khu Y và tuyên phạt Trần Văn Th 12 tháng tù.

Tác giả cho rằng mặc dù bị cáo Th có 03 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng vì đối tượng xâm hại của tội phạm là trẻ em, được Nhà nước, xã hội, công dân có trách nhiệm chăm sóc và bảo vệ. Để bảo vệ danh dự, nhân phẩm, sức khỏe cho trẻ em và ngăn ngừa loại tội phạm này Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 16/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ đề nghị Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao chỉ đạo Tòa án, Viện kiểm sát các cấp xử lý nghiêm các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em. Hành vi phạm tội của bị cáo Th đã xâm phạm đến khách thể rất quan trọng được pháp luật hình sự nước ta bảo vệ, đó là quyền bất khả xâm phạm về tình dục của con người, của trẻ em, xâm phạm sự phát triển bình thường về sinh lý và thể chất, danh dự, nhân phẩm của trẻ em. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị hại Nguyễn Mai T mới được hơn 07 tuổi, còn là một đứa trẻ đang trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách; hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ thể hiện sự nguy hiểm cho xã hội mà còn để lại hậu quả nặng nề, gây ảnh hưởng lâu dài đến tâm sinh lý và sự phát triển hồn nhiên của cháu T. Mặt khác, thời gian gần đây, các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em, nhất là xâm hại tình dục trẻ em có chiều hướng diễn biến phức tạp, nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Do vậy, Th không được áp dụng Điều 54 và Điều 65 là phù hợp.

Theo tác giả, để áp dụng đúng Điều 54 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử phải xem xét nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nhân thân, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, lỗi, hậu quả gây ra và bị cáo phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Khi áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự thì không áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự xử án treo đối với trường hợp bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm hoặc đối tượng của tội phạm được xã hội đặc biệt quan tâm, bảo vệ; hành vi phạm tội của bị cáo vi phạm đạo đức bị dư luận xã hội lên án mạnh mẽ, mặc dù người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng không áp dụng Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt tù cho hưởng án treo. Ngoài ra, trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng lại có nhiều tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên, tùy từng trường hợp cụ thể Hội đồng xét xử mới xem xét về việc có áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo hay không, bởi vì tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thể hiện mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và người phạm tội phải chịu một hình phạt nghiêm khắc hơn trong một khung hình phạt.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Từ những bất cập trong thực tiễn áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thống nhất, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị như sau:

Thứ nhất, sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự theo hướng “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 của Bộ luật này”, không nhất thiết quy định cứng nhắc ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Thứ hai, để tránh việc lạm dụng áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, đề nghị cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng lại có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên quy định bù trừ, phải có hơn 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì mới áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Thứ ba, cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn áp dụng Điều 54 thì không áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt tù cho hưởng án treo đối với người phạm tội, phạm những tội rất nghiêm trọng có khung hình phạt từ trên 7 năm đến 15 năm hoặc đối tượng của tội phạm được xã hội đặc biệt quan tâm, bảo vệ; hành vi phạm tội của bị cáo vi phạm đạo đức bị dư luận xã hội lên án mạnh mẽ, mặc dù người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng không áp dụng Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt tù cho hưởng án treo (như tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi tại Điều 144 Bộ luật Hình sự; tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi tại Điều 146 Bộ luật Hình sự…).

Kết luận: Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật, có liên quan chặt chẽ với hoạt động định tội danh của Tòa án. Quyết định hình phạt công minh, có căn cứ và đúng pháp luật mang ý nghĩa chính trị xã hội và ý nghĩa pháp lý rất quan trọng, đó là thực hiện đúng mục đích của hình phạt, góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, hỗ trợ đắc lực cho công tác giáo dục, tuyên truyền trong nhân dân có ý thức tôn trọng, chấp hành nghiêm pháp luật, đây là vấn đề được toàn xã hội quan tâm, đặc biệt là các cơ quan bảo vệ pháp luật.

ThS. Lê Đình Nghĩa

Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 5

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: