Thứ tư 23/09/2026 00:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tại Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015

Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật, có liên quan chặt chẽ với hoạt động định tội danh của Tòa án. Quyết định hình phạt công minh, có căn cứ và đúng pháp luật mang ý nghĩa chính trị xã hội và ý nghĩa pháp lý rất quan trọng, đó là thực hiện đúng mục đích của hình phạt, góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, hỗ trợ đắc lực cho công tác giáo dục, tuyên truyền trong nhân dân có ý thức tôn trọng, chấp hành nghiêm pháp luật, đây là vấn đề được toàn xã hội quan tâm, đặc biệt là các cơ quan bảo vệ pháp luật.

1. Lời nói đầu

Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn cơ bản quan trọng của quá trình áp dụng luật hình sự, bởi suy cho cùng, các hoạt động tố tụng hình sự trước đó (từ điều tra, truy tố, kể cả việc tranh tụng tại phiên tòa) sẽ không có ý nghĩa nếu Tòa án không làm tốt việc quyết định hình phạt. Quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý là tiền đề, điều kiện để đạt mục đích hình phạt (cải tạo, giáo dục riêng, phòng ngừa chung). Nếu hình phạt quá nhẹ sẽ làm giảm hiệu quả pháp luật trong đấu tranh phòng chống tội phạm, bởi nó có thể làm phát sinh ý định phạm tội, thái độ vô trách nhiệm và coi thường pháp luật của người phạm tội. Nhưng hình phạt quá nặng sẽ tạo tâm lý không công bằng, không hợp lý ở người bị kết án dẫn đến thái độ oán hận, không tin tưởng pháp luật.

2. Quy định của điều luật và thực tiễn áp dụng

Quyết định hình phạt là việc cơ quan Tòa án (Hội đồng xét xử) trên cơ sở của Bộ luật Hình sự lựa chọn một hình phạt cụ thể và xác định mức hình phạt trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội.

Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự là trường hợp Tòa án có thể áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.

Theo cấu trúc của các điều luật thì khi một người bị truy tố, xét xử về một tội phạm nào đó được quy định trong Bộ luật Hình sự, thì họ phải chịu mức hình phạt của một trong các hình phạt chính được quy định trong điều luật đó. Tuy nhiên, có không ít những trường hợp người phạm tội được quyết định hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt mà họ đã bị truy tố.

Theo quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự) thì: “1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”.

Theo đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự phải đảm bảo các điều kiện cần và đủ. Khi xét đến các điều kiện cần của Điều 54 Bộ luật Hình sự thì Hội đồng xét xử phải căn cứ khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, các văn bản hướng dẫn dưới luật có liên quan để xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, đồng thời phải đảm bảo các nguyên tắc về quyết định hình phạt liên quan. Như vậy, khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật mà người phạm tội bị xét xử.

Thông thường các điều luật trong Bộ luật Hình sự, khung hình phạt của điều luật được sắp xếp theo thứ tự 1, 2, 3… từ nhẹ nhất đến nặng nhất, theo quy định khi có từ hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự trở lên và đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, Tòa án chỉ có thể quyết định một hình phạt trong khung hình phạt của khoản 1, nếu người phạm tội bị xét xử theo khoản 2 hoặc Tòa án chỉ có thể quyết định một hình phạt trong khung hình phạt khoản 2 nếu người phạm tội bị xét xử theo khoản 3. Tuy nhiên, có những điều luật lại được sắp xếp theo thứ tự từ nặng nhất đến nhẹ nhất. Ví dụ: “Tội giết người” theo Điều 123 Bộ luật Hình sự, khoản 1 có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Nhưng khoản 2 lại có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù. Vậy nếu người phạm tội bị xét xử theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 và được áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự sẽ được quyết định hình phạt như thế nào?

Trường hợp điều luật được áp dụng chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là nhẹ nhất của điều luật, Hội đồng xét xử có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Điều luật không quy định cụ thể Tòa án có thể chuyển sang loại hình phạt nhẹ hơn liền kề, nên có cách hiểu là Hội đồng xét xử chỉ có thể quyết định chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn liền kề. Theo tác giả, Tòa án có thể chuyển qua loại hình phạt nhẹ hơn xuống loại hình phạt nhẹ hơn nữa; hình phạt thuộc loại nhẹ hơn không bắt buộc phải được áp dụng đối với loại tội phạm theo khung hình phạt mà bị cáo bị xét xử.

Ví dụ: Bị cáo Nguyễn Văn A bị xét xử về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Bị cáo A có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử được quyết định mức hình phạt tù dưới 06 tháng hoặc chuyển qua loại hình phạt nhẹ hơn cải tạo không giam giữ hoặc chuyển qua loại hình phạt nhẹ hơn xuống loại hình phạt nhẹ hơn nữa là cảnh cáo, phạt tiền.

Đối với hình phạt tù có thời hạn, Hội đồng xét xử không được quyết định mức hình phạt tù dưới 03 tháng vì theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mức tối thiểu của loại hình phạt này là 03 tháng; do đó, trong mọi trường hợp khi quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định mức thấp nhất của khung hình phạt là trên 03 tháng tù, thì không được quyết định mức hình phạt tù dưới 03 tháng; nếu mức thấp nhất của khung hình phạt là 03 tháng tù, thì chỉ có thể chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.

Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự, mức tối thiểu của hình phạt này này là 06 tháng, do đó, trong mọi trường hợp khi quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, không được quyết định mức hình phạt cải tạo không giam giữ dưới 06 tháng.

Đối với hình phạt tiền, thì theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự, mức tối thiểu là 01 triệu đồng; do đó, trong mọi trường hợp khi quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, không được quyết định mức hình phạt tiền dưới 01 triệu đồng. Nếu mức thấp nhất của khung hình phạt là 01 triệu đồng, thì chỉ có thể chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn là cảnh cáo.

Khi xét xử cùng một lần một người phạm nhiều tội, nếu tội nào mà người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, thì có thể áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự đối với tội đó, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Trong thực tiễn xét xử, trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng cũng có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, thì việc xem xét để áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự như thế nào?

Quan điểm thứ nhất cho rằng nếu bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng đồng thời lại có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, lấy số lượng tình tiết giảm nhẹ trừ đi số lượng tình tiết tăng nặng mà còn từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên thì vẫn áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng cũng có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì không áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, cách hiểu và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự của các Tòa vẫn chưa thống nhất, trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đồng thời lại có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xem xét tính chất, mức độ lỗi, hậu quả nguy hiểm của hành vi phạm tội không đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, nhưng có Tòa vẫn áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo dẫn đến quyết định hình phạt chưa chính xác.

Có những vụ án mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng không thể áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự vì tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, không đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Có trường hợp Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đồng thời áp dụng khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho người phạm tội được hưởng án treo mặc dù họ bị xét xử ở khung hình phạt có mức án cao dẫn đến quyết định hình phạt không chính xác, chưa đạt được mục đích.

Ví dụ: Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 03/6/2018 tại phòng ngủ nhà chị Nguyễn Thị N, thuộc xã Ayun, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Trần Văn Th vì ham muốn tình dục, không làm chủ được bản thân. Th đã có hành vi cho cháu Nguyễn Mai T (sinh ngày 25/5/2011) dùng tay và miệng kích thích vào dương vật của Th, Th dùng tay sờ mó vào bộ phận sinh dục của cháu T, nhằm thỏa mãn dục vọng cá nhân. Bản án số 10/2018/HS-ST ngày 29/12/2018 của Tòa án quân sự Khu vực X Quân khu Y xét xử Trần Văn Th phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự và nhận định bị cáo Th phạm tội lần đầu; khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt đến 03 năm tù “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, Th có thêm 2 tình tiết giảm nhẹ “tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả” và “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 146; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54, khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trần Văn Th 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát quân sự Quân khu Y ra Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS ngày 16/01/2019, nội dung: Kết luận của Bản án hình sự sơ thẩm về tội danh như đã nêu trên để xử phạt bị cáo Trần Văn Th là có căn cứ, tuy nhiên do chưa đánh giá hết tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả nghiêm trọng của vụ án do bị cáo gây ra cũng như thực trạng tình hình bạo lực, xâm hại trẻ em, nhất là xâm hại tình dục có chiều hướng diễn biến phức tạp trong giai đoạn hiện nay, nên Hội đồng xét xử đã áp dụng Điều 54 và Điều 65 là không phù hợp, xử phạt bị cáo Trần Văn Th 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng là quá nhẹ, chưa đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Ngày 12/3/2019, Tòa án quân sự Quân khu Y xét xử phúc thẩm: Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, không áp dụng Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với Trần Văn Th, sửa hình phạt tù cho hưởng án treo tại Bản án số 10/2018/HS-ST ngày 29/12/2018 của Tòa án quân sự Khu vực X Quân khu Y và tuyên phạt Trần Văn Th 12 tháng tù.

Tác giả cho rằng mặc dù bị cáo Th có 03 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng vì đối tượng xâm hại của tội phạm là trẻ em, được Nhà nước, xã hội, công dân có trách nhiệm chăm sóc và bảo vệ. Để bảo vệ danh dự, nhân phẩm, sức khỏe cho trẻ em và ngăn ngừa loại tội phạm này Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 16/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ đề nghị Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao chỉ đạo Tòa án, Viện kiểm sát các cấp xử lý nghiêm các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em. Hành vi phạm tội của bị cáo Th đã xâm phạm đến khách thể rất quan trọng được pháp luật hình sự nước ta bảo vệ, đó là quyền bất khả xâm phạm về tình dục của con người, của trẻ em, xâm phạm sự phát triển bình thường về sinh lý và thể chất, danh dự, nhân phẩm của trẻ em. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị hại Nguyễn Mai T mới được hơn 07 tuổi, còn là một đứa trẻ đang trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách; hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ thể hiện sự nguy hiểm cho xã hội mà còn để lại hậu quả nặng nề, gây ảnh hưởng lâu dài đến tâm sinh lý và sự phát triển hồn nhiên của cháu T. Mặt khác, thời gian gần đây, các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em, nhất là xâm hại tình dục trẻ em có chiều hướng diễn biến phức tạp, nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Do vậy, Th không được áp dụng Điều 54 và Điều 65 là phù hợp.

Theo tác giả, để áp dụng đúng Điều 54 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử phải xem xét nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nhân thân, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, lỗi, hậu quả gây ra và bị cáo phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Khi áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự thì không áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự xử án treo đối với trường hợp bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm hoặc đối tượng của tội phạm được xã hội đặc biệt quan tâm, bảo vệ; hành vi phạm tội của bị cáo vi phạm đạo đức bị dư luận xã hội lên án mạnh mẽ, mặc dù người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng không áp dụng Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt tù cho hưởng án treo. Ngoài ra, trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng lại có nhiều tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên, tùy từng trường hợp cụ thể Hội đồng xét xử mới xem xét về việc có áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo hay không, bởi vì tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thể hiện mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và người phạm tội phải chịu một hình phạt nghiêm khắc hơn trong một khung hình phạt.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Từ những bất cập trong thực tiễn áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thống nhất, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị như sau:

Thứ nhất, sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự theo hướng “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 của Bộ luật này”, không nhất thiết quy định cứng nhắc ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Thứ hai, để tránh việc lạm dụng áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, đề nghị cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng lại có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên quy định bù trừ, phải có hơn 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì mới áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Thứ ba, cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn áp dụng Điều 54 thì không áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt tù cho hưởng án treo đối với người phạm tội, phạm những tội rất nghiêm trọng có khung hình phạt từ trên 7 năm đến 15 năm hoặc đối tượng của tội phạm được xã hội đặc biệt quan tâm, bảo vệ; hành vi phạm tội của bị cáo vi phạm đạo đức bị dư luận xã hội lên án mạnh mẽ, mặc dù người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng không áp dụng Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt tù cho hưởng án treo (như tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi tại Điều 144 Bộ luật Hình sự; tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi tại Điều 146 Bộ luật Hình sự…).

Kết luận: Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật, có liên quan chặt chẽ với hoạt động định tội danh của Tòa án. Quyết định hình phạt công minh, có căn cứ và đúng pháp luật mang ý nghĩa chính trị xã hội và ý nghĩa pháp lý rất quan trọng, đó là thực hiện đúng mục đích của hình phạt, góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, hỗ trợ đắc lực cho công tác giáo dục, tuyên truyền trong nhân dân có ý thức tôn trọng, chấp hành nghiêm pháp luật, đây là vấn đề được toàn xã hội quan tâm, đặc biệt là các cơ quan bảo vệ pháp luật.

ThS. Lê Đình Nghĩa

Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 5

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: