Thứ sáu 16/01/2026 21:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tại Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015

Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật, có liên quan chặt chẽ với hoạt động định tội danh của Tòa án. Quyết định hình phạt công minh, có căn cứ và đúng pháp luật mang ý nghĩa chính trị xã hội và ý nghĩa pháp lý rất quan trọng, đó là thực hiện đúng mục đích của hình phạt, góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, hỗ trợ đắc lực cho công tác giáo dục, tuyên truyền trong nhân dân có ý thức tôn trọng, chấp hành nghiêm pháp luật, đây là vấn đề được toàn xã hội quan tâm, đặc biệt là các cơ quan bảo vệ pháp luật.

1. Lời nói đầu

Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn cơ bản quan trọng của quá trình áp dụng luật hình sự, bởi suy cho cùng, các hoạt động tố tụng hình sự trước đó (từ điều tra, truy tố, kể cả việc tranh tụng tại phiên tòa) sẽ không có ý nghĩa nếu Tòa án không làm tốt việc quyết định hình phạt. Quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý là tiền đề, điều kiện để đạt mục đích hình phạt (cải tạo, giáo dục riêng, phòng ngừa chung). Nếu hình phạt quá nhẹ sẽ làm giảm hiệu quả pháp luật trong đấu tranh phòng chống tội phạm, bởi nó có thể làm phát sinh ý định phạm tội, thái độ vô trách nhiệm và coi thường pháp luật của người phạm tội. Nhưng hình phạt quá nặng sẽ tạo tâm lý không công bằng, không hợp lý ở người bị kết án dẫn đến thái độ oán hận, không tin tưởng pháp luật.

2. Quy định của điều luật và thực tiễn áp dụng

Quyết định hình phạt là việc cơ quan Tòa án (Hội đồng xét xử) trên cơ sở của Bộ luật Hình sự lựa chọn một hình phạt cụ thể và xác định mức hình phạt trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội.

Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự là trường hợp Tòa án có thể áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.

Theo cấu trúc của các điều luật thì khi một người bị truy tố, xét xử về một tội phạm nào đó được quy định trong Bộ luật Hình sự, thì họ phải chịu mức hình phạt của một trong các hình phạt chính được quy định trong điều luật đó. Tuy nhiên, có không ít những trường hợp người phạm tội được quyết định hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt mà họ đã bị truy tố.

Theo quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự) thì: “1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”.

Theo đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự phải đảm bảo các điều kiện cần và đủ. Khi xét đến các điều kiện cần của Điều 54 Bộ luật Hình sự thì Hội đồng xét xử phải căn cứ khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, các văn bản hướng dẫn dưới luật có liên quan để xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, đồng thời phải đảm bảo các nguyên tắc về quyết định hình phạt liên quan. Như vậy, khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật mà người phạm tội bị xét xử.

Thông thường các điều luật trong Bộ luật Hình sự, khung hình phạt của điều luật được sắp xếp theo thứ tự 1, 2, 3… từ nhẹ nhất đến nặng nhất, theo quy định khi có từ hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự trở lên và đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, Tòa án chỉ có thể quyết định một hình phạt trong khung hình phạt của khoản 1, nếu người phạm tội bị xét xử theo khoản 2 hoặc Tòa án chỉ có thể quyết định một hình phạt trong khung hình phạt khoản 2 nếu người phạm tội bị xét xử theo khoản 3. Tuy nhiên, có những điều luật lại được sắp xếp theo thứ tự từ nặng nhất đến nhẹ nhất. Ví dụ: “Tội giết người” theo Điều 123 Bộ luật Hình sự, khoản 1 có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Nhưng khoản 2 lại có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù. Vậy nếu người phạm tội bị xét xử theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 và được áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự sẽ được quyết định hình phạt như thế nào?

Trường hợp điều luật được áp dụng chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là nhẹ nhất của điều luật, Hội đồng xét xử có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Điều luật không quy định cụ thể Tòa án có thể chuyển sang loại hình phạt nhẹ hơn liền kề, nên có cách hiểu là Hội đồng xét xử chỉ có thể quyết định chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn liền kề. Theo tác giả, Tòa án có thể chuyển qua loại hình phạt nhẹ hơn xuống loại hình phạt nhẹ hơn nữa; hình phạt thuộc loại nhẹ hơn không bắt buộc phải được áp dụng đối với loại tội phạm theo khung hình phạt mà bị cáo bị xét xử.

Ví dụ: Bị cáo Nguyễn Văn A bị xét xử về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Bị cáo A có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử được quyết định mức hình phạt tù dưới 06 tháng hoặc chuyển qua loại hình phạt nhẹ hơn cải tạo không giam giữ hoặc chuyển qua loại hình phạt nhẹ hơn xuống loại hình phạt nhẹ hơn nữa là cảnh cáo, phạt tiền.

Đối với hình phạt tù có thời hạn, Hội đồng xét xử không được quyết định mức hình phạt tù dưới 03 tháng vì theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mức tối thiểu của loại hình phạt này là 03 tháng; do đó, trong mọi trường hợp khi quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định mức thấp nhất của khung hình phạt là trên 03 tháng tù, thì không được quyết định mức hình phạt tù dưới 03 tháng; nếu mức thấp nhất của khung hình phạt là 03 tháng tù, thì chỉ có thể chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.

Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự, mức tối thiểu của hình phạt này này là 06 tháng, do đó, trong mọi trường hợp khi quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, không được quyết định mức hình phạt cải tạo không giam giữ dưới 06 tháng.

Đối với hình phạt tiền, thì theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự, mức tối thiểu là 01 triệu đồng; do đó, trong mọi trường hợp khi quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, không được quyết định mức hình phạt tiền dưới 01 triệu đồng. Nếu mức thấp nhất của khung hình phạt là 01 triệu đồng, thì chỉ có thể chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn là cảnh cáo.

Khi xét xử cùng một lần một người phạm nhiều tội, nếu tội nào mà người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, thì có thể áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự đối với tội đó, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Trong thực tiễn xét xử, trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng cũng có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, thì việc xem xét để áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự như thế nào?

Quan điểm thứ nhất cho rằng nếu bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng đồng thời lại có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, lấy số lượng tình tiết giảm nhẹ trừ đi số lượng tình tiết tăng nặng mà còn từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên thì vẫn áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng cũng có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì không áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, cách hiểu và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự của các Tòa vẫn chưa thống nhất, trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đồng thời lại có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xem xét tính chất, mức độ lỗi, hậu quả nguy hiểm của hành vi phạm tội không đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, nhưng có Tòa vẫn áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo dẫn đến quyết định hình phạt chưa chính xác.

Có những vụ án mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng không thể áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự vì tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, không đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Có trường hợp Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đồng thời áp dụng khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho người phạm tội được hưởng án treo mặc dù họ bị xét xử ở khung hình phạt có mức án cao dẫn đến quyết định hình phạt không chính xác, chưa đạt được mục đích.

Ví dụ: Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 03/6/2018 tại phòng ngủ nhà chị Nguyễn Thị N, thuộc xã Ayun, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Trần Văn Th vì ham muốn tình dục, không làm chủ được bản thân. Th đã có hành vi cho cháu Nguyễn Mai T (sinh ngày 25/5/2011) dùng tay và miệng kích thích vào dương vật của Th, Th dùng tay sờ mó vào bộ phận sinh dục của cháu T, nhằm thỏa mãn dục vọng cá nhân. Bản án số 10/2018/HS-ST ngày 29/12/2018 của Tòa án quân sự Khu vực X Quân khu Y xét xử Trần Văn Th phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự và nhận định bị cáo Th phạm tội lần đầu; khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt đến 03 năm tù “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, Th có thêm 2 tình tiết giảm nhẹ “tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả” và “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 146; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54, khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trần Văn Th 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát quân sự Quân khu Y ra Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS ngày 16/01/2019, nội dung: Kết luận của Bản án hình sự sơ thẩm về tội danh như đã nêu trên để xử phạt bị cáo Trần Văn Th là có căn cứ, tuy nhiên do chưa đánh giá hết tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả nghiêm trọng của vụ án do bị cáo gây ra cũng như thực trạng tình hình bạo lực, xâm hại trẻ em, nhất là xâm hại tình dục có chiều hướng diễn biến phức tạp trong giai đoạn hiện nay, nên Hội đồng xét xử đã áp dụng Điều 54 và Điều 65 là không phù hợp, xử phạt bị cáo Trần Văn Th 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng là quá nhẹ, chưa đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Ngày 12/3/2019, Tòa án quân sự Quân khu Y xét xử phúc thẩm: Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, không áp dụng Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với Trần Văn Th, sửa hình phạt tù cho hưởng án treo tại Bản án số 10/2018/HS-ST ngày 29/12/2018 của Tòa án quân sự Khu vực X Quân khu Y và tuyên phạt Trần Văn Th 12 tháng tù.

Tác giả cho rằng mặc dù bị cáo Th có 03 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng vì đối tượng xâm hại của tội phạm là trẻ em, được Nhà nước, xã hội, công dân có trách nhiệm chăm sóc và bảo vệ. Để bảo vệ danh dự, nhân phẩm, sức khỏe cho trẻ em và ngăn ngừa loại tội phạm này Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 16/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ đề nghị Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao chỉ đạo Tòa án, Viện kiểm sát các cấp xử lý nghiêm các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em. Hành vi phạm tội của bị cáo Th đã xâm phạm đến khách thể rất quan trọng được pháp luật hình sự nước ta bảo vệ, đó là quyền bất khả xâm phạm về tình dục của con người, của trẻ em, xâm phạm sự phát triển bình thường về sinh lý và thể chất, danh dự, nhân phẩm của trẻ em. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị hại Nguyễn Mai T mới được hơn 07 tuổi, còn là một đứa trẻ đang trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách; hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ thể hiện sự nguy hiểm cho xã hội mà còn để lại hậu quả nặng nề, gây ảnh hưởng lâu dài đến tâm sinh lý và sự phát triển hồn nhiên của cháu T. Mặt khác, thời gian gần đây, các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em, nhất là xâm hại tình dục trẻ em có chiều hướng diễn biến phức tạp, nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Do vậy, Th không được áp dụng Điều 54 và Điều 65 là phù hợp.

Theo tác giả, để áp dụng đúng Điều 54 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử phải xem xét nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nhân thân, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, lỗi, hậu quả gây ra và bị cáo phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Khi áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự thì không áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự xử án treo đối với trường hợp bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm hoặc đối tượng của tội phạm được xã hội đặc biệt quan tâm, bảo vệ; hành vi phạm tội của bị cáo vi phạm đạo đức bị dư luận xã hội lên án mạnh mẽ, mặc dù người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng không áp dụng Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt tù cho hưởng án treo. Ngoài ra, trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng lại có nhiều tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên, tùy từng trường hợp cụ thể Hội đồng xét xử mới xem xét về việc có áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo hay không, bởi vì tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thể hiện mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và người phạm tội phải chịu một hình phạt nghiêm khắc hơn trong một khung hình phạt.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Từ những bất cập trong thực tiễn áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thống nhất, tác giả có một số đề xuất, kiến nghị như sau:

Thứ nhất, sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự theo hướng “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 của Bộ luật này”, không nhất thiết quy định cứng nhắc ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Thứ hai, để tránh việc lạm dụng áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, đề nghị cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng lại có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên quy định bù trừ, phải có hơn 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì mới áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Thứ ba, cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn áp dụng Điều 54 thì không áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt tù cho hưởng án treo đối với người phạm tội, phạm những tội rất nghiêm trọng có khung hình phạt từ trên 7 năm đến 15 năm hoặc đối tượng của tội phạm được xã hội đặc biệt quan tâm, bảo vệ; hành vi phạm tội của bị cáo vi phạm đạo đức bị dư luận xã hội lên án mạnh mẽ, mặc dù người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng không áp dụng Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt tù cho hưởng án treo (như tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi tại Điều 144 Bộ luật Hình sự; tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi tại Điều 146 Bộ luật Hình sự…).

Kết luận: Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật, có liên quan chặt chẽ với hoạt động định tội danh của Tòa án. Quyết định hình phạt công minh, có căn cứ và đúng pháp luật mang ý nghĩa chính trị xã hội và ý nghĩa pháp lý rất quan trọng, đó là thực hiện đúng mục đích của hình phạt, góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, hỗ trợ đắc lực cho công tác giáo dục, tuyên truyền trong nhân dân có ý thức tôn trọng, chấp hành nghiêm pháp luật, đây là vấn đề được toàn xã hội quan tâm, đặc biệt là các cơ quan bảo vệ pháp luật.

ThS. Lê Đình Nghĩa

Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 5

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: