Thứ tư 04/03/2026 03:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vi phạm pháp luật môi trường tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Vi phạm pháp luật môi trường tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Bài viết khái quát thực trạng vi phạm pháp luật môi trường ở Việt Nam hiện nay, phân tích, làm rõ các vấn đề còn hạn chế, bất cập trong quy định và áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật môi trường, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Abstract: The article summarizes the current situation of environmental law violations in Vietnam, analyzes and clarifies the shortcomings and inadequacies in the regulation and application of the law on handling violations of the environmental law, from there, recommends to improve the law and improve the efficiency of state management in this field.

1. Thực trạng vi phạm pháp luật môi trường tại Việt Nam hiện nay

Trong những năm gần đây, tình hình vi phạm pháp luật môi trường (VPPLMT) diễn biến rất phức tạp, phổ biến trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều này được thể hiện qua các khía cạnh sau:

Một là, trong lĩnh vực công nghiệp: Thực trạng VPPLMT trong lĩnh vực công nghiệp vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Tình trạng các chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất không thực hiện nghiêm túc các quy định pháp luật về môi trường, không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định; không xử lý chất thải, các chất độc hại trước khi thải vào môi trường; không đầu tư hệ thống xử lý nước thải, khí thải công nghiệp theo quy định, hoặc có nhưng không vận hành, hoặc chỉ vận hành để đối phó vẫn còn diễn ra khá phổ biến[1]. Tại một số khu công nghiệp, việc đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung cũng chưa được bảo đảm. Theo thống kê trên toàn quốc, có 274 khu công nghiệp đang hoạt động, trong đó có 244 khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung, chiếm 89%[2]. So với trước đây, việc đầu tư xử lý nước thải tập trung tại các khu công nghiệp đã có sự tiến bộ tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu đặt ra.

Hai là, trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản: Cùng với việc phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thủy sản, cây lương thực, hoa màu đã kéo theo tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhất là ô nhiễm nguồn nước tại các sông, kênh, hồ, mương, đồng ruộng ở khu vực nông thôn, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của người dân. Tại các cơ sở chế biến, đặc biệt là các cơ sở chế biến nhỏ lẻ nông, lâm, thủy sản, việc kiểm soát, khắc phục ô nhiễm môi trường, bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế… Tình trạng lạm dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác nông nghiệp cũng làm cho môi trường bị ô nhiễm, hủy hoại nghiêm trọng.

Ba là, trong lĩnh vực xây dựng, đô thị, giao thông vận tải: Đối với lĩnh vực xây dựng, việc thi công xây dựng, cải tạo, sửa chữa, phá dỡ công trình xây dựng chưa bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường (BVMT) còn khá phổ biến. Nhiều công trình xây dựng chưa có biện pháp kiểm soát việc phát tán bụi, nhiệt, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng vượt mức cho phép theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Tại các đô thị, vấn đề ô nhiễm bụi, tiếng ồn, ánh sáng, bức xạ vẫn tiếp tục duy trì ở ngưỡng cao. Trong hoạt động giao thông vận tải, tình trạng sử dụng các loại phương tiện giao thông vận tải chưa được cơ quan đăng kiểm kiểm định, xác nhận đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường diễn ra khá phổ biến. Việc thực hiện che chắn cẩn thận khi vận chuyển nguyên liệu, vật liệu, chất thải để tránh tình trạng phát tán bụi, khí thải, chất thải ra môi trường chưa thực sự được bảo đảm. Đặc biệt, việc vận chuyển hàng hóa, vật liệu có nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường trong nhiều trường hợp chưa được các chủ thể thực hiện một cách nghiêm túc. Việc sử dụng còi xe chưa tuân thủ yêu cầu bảo vệ môi trường vẫn còn diễn ra gây ô nhiễm tiếng ồn nghiêm trọng.

Bốn là, trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, xuất nhập khẩu: Trong hoạt động thương mại, tình trạng các chủ thể VPPLMT khá phổ biến, nhiều doanh nghiệp không tuân thủ các yêu cầu về phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý các loại chất thải theo đúng quy định. Trong lĩnh vực dịch vụ, vấn đề ô nhiễm môi trường cũng rất nghiêm trọng, đặc biệt là dịch vụ du lịch. Tình trạng khách du lịch thải bỏ các loại rác tại các khu du lịch, lễ hội, tụ tập đốt lửa trại hoặc karaoke ồn ào, gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến môi trường xung quanh còn thường xuyên xảy ra. Trong hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt là hoạt động nhập khẩu phế liệu cũng gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng bởi các hành vi VPPLMT. Tình trạng nhậu khẩu trái phép rác thải công nghiệp, chất thải nguy hại, phế liệu chưa được làm sạch vào Việt Nam còn diễn biến phức tạp.

Năm là, trong lĩnh vực tài nguyên khoáng sản, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học: Trong lĩnh vực tài nguyên khoáng sản, tình hình VPPLMT diễn ra khá nghiêm trọng. Đa phần các chủ thể tham gia hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản chưa chấp hành nghiêm túc quy định pháp luật về BVMT[3]. Trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, tình trạng vi phạm pháp luật cũng xảy ra rất nghiêm trọng và chưa có xu hướng dừng lại. Theo thống kê sơ bộ, từ năm 2010 đến năm 2016, lực lượng kiểm lâm cả nước đã phát hiện và xử lý hơn 174 nghìn vụ vi phạm pháp luật về quản lý, phát triển, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Trong đó, số vụ vi phạm các quy định về quản lý động vật hoang dã là 4.305 vụ, tịch thu hàng nghìn kg sản phẩm động vật hoang dã và hơn 60 nghìn cá thể động vật hoang dã các loại, trong đó, 3.418 cá thể thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm[4].

Sáu là, trong lĩnh vực y tế: Tại các bệnh viện, lượng chất thải hàng ngày ra môi trường rất lớn nhưng mới chỉ có khoảng trên 20% bệnh viện, cơ sở y tế có hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn, hầu hết rác thải chưa được quản lý và xử lý chặt chẽ theo quy chế xử lý chất thải y tế. Nhiều loại rác thải y tế nguy hại như bệnh phẩm, vỏ chai, dây chuyền dịch, bơm kim tiêm đã qua sử dụng để lẫn lộn với rác thải thông thường. Nhân viên một số bệnh viện không nắm rõ quy trình thu gom, xử lý, thậm chí một số bệnh viện còn cho phép thu gom để bán cho cơ sở tái chế để tận thu, vi phạm các quy định về quản lý, xử lý chất thải y tế[5].

Như vậy, từ những vấn đề nêu trên, có thể thấy rằng, hiện nay, tình trạng VPPLMT ở nước ta vẫn còn đang diễn ra rất phức tạp và chưa có xu hướng giảm trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Điều này đã làm suy giảm chất lượng môi trường cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân.

2. Một số nguyên nhân cơ bản

Một là, các chính sách, pháp luật điều chỉnh về hoạt động BVMT trong các lĩnh vực còn chưa thực sự đầy đủ, rõ ràng và đồng bộ. Hệ thống pháp luật môi trường Việt Nam về cơ bản đã được xây dựng, ban hành và không ngừng hoàn thiện, tuy nhiên, các nội dung BVMT vẫn còn quy định rời rạc, dàn trải trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Luật Đầu tư năm 2020, Luật Đầu tư công năm 2019, Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Luật Tài nguyên nước năm 2012, Luật Khoáng sản năm 2010… Hiện nay, các luật này vẫn còn nhiều điểm chưa có sự thống nhất và còn tồn tại một số khoảng trống pháp lý chưa được quy định đã ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý nhà nước trong vấn đề kiểm soát, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm. Một số điều, khoản chỉ quy định mang tính nguyên tắc, chưa có sự hướng dẫn rõ ràng dẫn đến chưa bảo đảm tính khả thi trong quá trình áp dụng. Một số vấn đề mới phát sinh về BVMT chưa có hành lang pháp lý điều chỉnh đã tạo cơ hội cho các chủ thể dễ dàng tận dụng để thực hiện các hành vi phạm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Một số cơ chế, chính sách BVMT chưa thực sự phù hợp và đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường. Yếu tố môi trường trong một số trường hợp chưa được coi trọng và tính đến nhiều trong quá trình xây dựng và ban hành các luật về thương mại, đầu tư và phát triển kinh tế bởi những yêu cầu về phát triển kinh tế. Một số văn bản quy phạm pháp luật về kinh tế còn chưa tính đến chi phí môi trường trong sản xuất, kinh doanh; thiếu vắng những công cụ kinh tế nhằm BVMT… làm cho công tác BVMT không phát huy được sự kích thích từ góc độ kinh tế đối với những chủ thể sử dụng các thành phần môi trường cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, gây ảnh hưởng đến môi trường, sinh thái[6]. Các loại thuế, phí về môi trường theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” để xử lý, khắc phục, cải tạo và phục hồi môi trường, “người hưởng lợi từ giá trị môi trường phải trả tiền” chưa phát huy được vai trò là công cụ kinh tế điều tiết vĩ mô, hạn chế các hoạt động gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội theo hướng tăng trưởng xanh. Một số của quy định của pháp luật chưa tạo ra hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để khuyến khích sản xuất, tiêu thụ bền vững, phát triển dịch vụ môi trường, sản phẩm, hàng hóa thân thiện với môi trường, khuyến khích xã hội hóa trong một số hoạt động BVMT.

Vấn đề quy định phân công trách nhiệm, thẩm quyền, phân cấp quản lý nhà nước về BVMT vẫn còn thiếu thống nhất, chồng chéo, mâu thuẫn, chưa đi đôi với tăng cường năng lực, chưa phân định rõ trách nhiệm quản lý dẫn đến công tác quản lý, kiểm soát, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm chưa phát huy được tính hiệu quả. Các cơ chế pháp lý trong việc kiểm soát những hoạt động tác động vào tự nhiên, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái chưa thực sự hữu hiệu. Một số quy định về xử phạt đối với các hành vi VPPLMT trong các lĩnh vực chưa thực sự đủ sức răng đe để phòng ngừa, hạn chế các hành vi vi phạm… Những quy định về biện pháp xử lý vi phạm giữa các văn bản pháp luật về môi trường còn có những khoảng trống nhất định nên dẫn đến thiếu các biện pháp xử lý thích hợp đối với chủ thể vi phạm. Vì vậy, hiệu quả của việc xử lý các hành vi VPPLMT còn hạn chế.

Hai là, công tác thực thi pháp luật môi trường chưa thực sự bảo đảm tính hiệu quả. Về phía tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, các chủ thể này vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên trong nhiều trường hợp, khi thực hiện các dự án sản xuất, kinh doanh nhưng chưa chú trọng việc xây dựng các hệ thống xử lý chất thải, thậm chí còn coi đây là giải pháp giảm chi phí, tăng lợi nhuận. Nguy hiểm hơn nữa là có những doanh nghiệp tuy có hệ thống xử lý chất thải nhưng luôn cố tình vi phạm, lén lút xây dựng hệ thống bí mật, phức tạp, được ngụy trang bằng hệ thống đạt tiêu chuẩn để xả ra môi trường những chất xả thải chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt chuẩn[7]. Về phía cơ quan quản lý nhà nước, sự vào cuộc của chính quyền cơ sở nhiều nơi chưa thực sự quyết liệt, chưa thực hiện tốt các quy định trong việc quản lý, kiểm soát, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi VPPLMT, còn thụ động trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh, sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương có lúc, có nơi chưa được chặt chẽ. Một bộ phận cán bộ, công chức chưa đủ năng lực hoặc chưa giữ nghiêm kỷ cương trong khi thi hành công vụ, thậm chí còn nhận hối lộ, bao che, tiếp tay cho các vụ VPPLMT, khai thác bừa bãi tài nguyên khoáng sản của đất nước, chặt phá rừng, khai thác gỗ trái phép, xả những chất thải độc hại chưa qua xử lý vào môi trường… gây thiệt hại không nhỏ đến các hoạt động kinh tế cũng như đời sống của người dân. Chính các vấn đề này cũng là một trong những lý do cơ bản dẫn đến tình trạng VPPLMT vẫn tiếp tục diễn ra trên tất cả các lĩnh vực mà chưa có xu hướng giảm.

Ba là, nhận thức về công tác BVMT, phát triển bền vững của một bộ phận các chủ thể chưa bảo đảm. Hiện nay, các chủ thể này đều coi trọng phát triển kinh tế và xem nhẹ vấn đề BVMT. Nhiều địa phương, do chính sách ưu tiên phát triển kinh tế nên đã kêu gọi đầu tư dàn trải, cấp phép kinh doanh ồ ạt, chưa quan tâm đến việc thẩm định, đánh giá ảnh hưởng của các dự án đối với môi trường, nhất là các dự án thuộc lĩnh vực trọng điểm đã dẫn đến tình trạng việc chấp hành pháp luật BVMT trong các lĩnh vực cơ bản bị xem nhẹ trong thời gian dài, các yêu cầu BVMT trong quá trình triển khai hầu như chỉ mang tính thủ tục, hình thức, đối phó, thiếu cơ chế giám sát thực hiện hiệu quả, từ đó, dẫn đến tình trạng VPPLMT ngày càng gia tăng.

3. Một số kiến nghị

Để khắc phục tình trạng VPPLMT nêu trên, cần thực hiện hiệu quả một số giải pháp, cụ thể:

Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật môi trường theo hướng đồng bộ, thống nhất, đầy đủ, phù hợp với cơ chế thị trường và đáp ứng các yêu cầu hội nhập quốc tế. Theo đó, cần sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật hiện hành để khắc phục tính thiếu nhất quán, chưa cụ thể, chưa rõ ràng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực BVMT. Khi sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các quy định liên quan đến môi trường trong các luật chuyên ngành cần bảo đảm chú trọng các yếu tố môi trường, đồng thời cần giải quyết được mối quan hệ giữa Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản luật chuyên ngành điều chỉnh về môi trường trên cơ sở bảo đảm tính thống nhất[8]. Bên cạnh đó, cần tiếp tục ban hành văn bản mới để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực BVMT chưa được điều chỉnh nhằm kiểm soát hiệu quả các hành vi vi phạm.

Các quy định pháp luật môi trường khi được hoàn thiện phải bảo đảm phù hợp và đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường. Khi xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về kinh tế cần tính đến chi phí môi trường trong sản xuất, kinh doanh, yếu tố môi trường phải được thực sự coi trọng. Bên cạnh đó, cần tạo được hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để khuyến khích sản xuất, tiêu thụ bền vững, phát triển dịch vụ môi trường, sản phẩm, hàng hóa thân thiện với môi trường, khuyến khích xã hội hóa trong một số hoạt động BVMT để tận dụng và phát huy mọi nguồn lực cần thiết vào công tác kiểm soát và phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm. Ngoài ra, cần bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong việc quy định về phân công trách nhiệm, thẩm quyền, phân cấp quản lý nhà nước về theo dõi, kiểm soát, phát hiện và xử lý các hành vi VPPLMT, phân định rõ trách nhiệm quản lý; đặc biệt là cần có một cơ chế pháp lý hữu hiệu trong việc kiểm soát các hoạt động tác động vào tự nhiên, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái nhằm hạn chế các hành vi vi phạm xảy ra.

Đồng thời, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống các quy định xử phạt trong lĩnh vực môi trường theo hướng nghiêm ngặt nhằm bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa và hạn chế tối đa những hành vi vi phạm. Đặc biệt, với tình trạng vẫn còn những khoảng trống pháp lý, cần nhanh chóng đưa ra các quy định xử phạt cụ thể để có biện pháp xử lý thích hợp đối với chủ thể vi phạm, tránh trường hợp bỏ lọt các hành vi vi phạm.

Ngoài ra, cũng cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc nội luật hóa các cam kết quốc tế về BVMT mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia và xác định rõ hiệu lực pháp lý của cam kết quốc tế đó. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế bảo đảm thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế đó tại Việt Nam để góp phần vào việc kiểm soát, phát hiện và xử lý hiệu quả các hành vi VPPLMT trên cơ sở phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế.

Hai là, tiếp tục nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật môi trường. Để hạn chế tình trạng VPPLMT, đòi hỏi cần phải nâng cao trách nhiệm thực thi hiệu quả pháp luật môi trường ở cả góc độ cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội.

Dưới khía cạnh quản lý nhà nước, cần tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý nhà nước, tham mưu ban hành kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật, tập trung rà soát, bổ sung các chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT bảo đảm hoàn thiện, thống nhất và đồng bộ để chỉ đạo, tổ chức thực hiện kiểm soát, xử lý hiệu quả các hành vi vi phạm. Trong quá trình áp dụng pháp luật, để kiểm soát, xử lý các hành vi VPPLMT, cần phát huy đồng bộ các biện pháp được quy định trong luật hành chính, hình sự, dân sự, kinh tế trong việc xử lý các hành vi VPPLMT, đặc biệt là các biện pháp kinh tế để bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và yêu cầu BVMT, thực hiện tốt pháp luật về môi trường. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của các tổ chức, cá nhân, cán bộ, công chức trong hoạt động kiểm soát, phát hiện, xử lý hành vi VPPLMT. Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động thực hiện pháp luật về BVMT bằng cách tăng cường sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc tham gia quản lý, tổ chức thực hiện và giám sát công tác BVMT để phục vụ hiệu quả cho việc kiểm soát, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi VPPLMT. Hơn nữa, cần phải xây dựng được cơ chế kịp thời phát hiện và xử lý các đối tượng vi phạm, tăng cường thực hiện thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT để răn đe, từ đó góp phần thay đổi hành vi xử sự của các chủ thể đối với môi trường theo hướng bảo đảm phát triển bền vững trên cơ sở phù hợp với quy định pháp luật.

Dưới góc độ tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, bản thân các chủ thể này phải tự ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ cũng như những lợi ích mà mình được hưởng trong vấn đề BVMT, tích cực đáp ứng các yêu cầu BVMT, phát triển bền vững trong các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh để góp phần hạn chế tình trạng VPPLMT.

Ba là, cần thay đổi tư duy về vấn đề BVMT và phát triển bền vững. Theo đó, thay vì duy trì tư duy ưu tiên tăng trưởng kinh tế, xem nhẹ BVMT thì một bộ phận các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước cần hình thành thói quen tuân thủ các yêu cầu về phát triển bền vững trong phát triển kinh tế và BVMT. Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước cũng cần đẩy mạnh chính sách phát triển kinh tế gắn liền với BVMT, tránh kêu gọi đầu tư một cách ồ ạt, dàn trải, phải nhất quán với quan điểm “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế”.

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

ThS. Phạm Thị Hồng Tâm

Trường Đại học Phan Thiết

[1]. Ngô Ngọc Diễm (2019), “Thực trạng tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường trong giai đoạn hiện nay - Một số nguyên nhân và giải pháp”, Tạp chí Công thương, số 11, tháng 6/2019, tr. 74.

[2]. Vũ Nam, “Gần 90% khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung”, https://nangluongsachvietnam.vn/d6/vi-VN/news/Gan-90-khu-cong-nghiep-co-he-thong-xu-ly-nuoc-thai-tap trung-6-179-6527, truy cập ngày 22/11/2022.

[3]. Xem thêm: Khánh Toàn & Kim Tiến, “Kiên quyết xử lý các doanh nghiệp khai thác khoáng sản gây ô nhiễm tại Vị Xuyên”, https://nhandan.vn/moi-truong/kien-quyet-xu-ly-cac-doanh-nghiep-khai-thac-khoang-san-gay-o-nhiem-tai-vi-xuyen-301833/, truy cập ngày 22/11/2022.

[4]. Trung Tuyến, “Chống săn bắt, buôn bán động vật hoang dã để bảo đảm đa dạng sinh học”, https://nhandan.vn/moi-truong/chong-san-bat-buon-ban-dong-vat-hoang-da-de-bao-dam-da-dang-sinh-hoc-291121/, truy cập ngày 22/11/2022.

[5]. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2021), “Tăng cường thực thi pháp luật bảo vệ môi trường để phát triển bền vững”, Tạp chí quản lý Nhà nước, số 300, tr. 66.

[6]. Nguyễn Trần Điện, “Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7/2012, tr. 61.

[7]. Hồng Hà & Tuấn Anh, “Xử lý triệt để việc Công ty Vedan gây ô nhiễm môi trường”, https://nhandan.vn/thoi-su-phap-luat/xu-ly-triet-de-viec-cong-ty-vedan-gay-o-nhiem-moi-truong-591540, truy cập ngày 22/11/2022.

[8]. Nguyễn Trần Điện (2012), “Thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7 (215), tr. 62.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: