Thứ sáu 24/04/2026 15:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vi phạm pháp luật môi trường tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Vi phạm pháp luật môi trường tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Bài viết khái quát thực trạng vi phạm pháp luật môi trường ở Việt Nam hiện nay, phân tích, làm rõ các vấn đề còn hạn chế, bất cập trong quy định và áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật môi trường, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Abstract: The article summarizes the current situation of environmental law violations in Vietnam, analyzes and clarifies the shortcomings and inadequacies in the regulation and application of the law on handling violations of the environmental law, from there, recommends to improve the law and improve the efficiency of state management in this field.

1. Thực trạng vi phạm pháp luật môi trường tại Việt Nam hiện nay

Trong những năm gần đây, tình hình vi phạm pháp luật môi trường (VPPLMT) diễn biến rất phức tạp, phổ biến trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều này được thể hiện qua các khía cạnh sau:

Một là, trong lĩnh vực công nghiệp: Thực trạng VPPLMT trong lĩnh vực công nghiệp vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Tình trạng các chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất không thực hiện nghiêm túc các quy định pháp luật về môi trường, không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định; không xử lý chất thải, các chất độc hại trước khi thải vào môi trường; không đầu tư hệ thống xử lý nước thải, khí thải công nghiệp theo quy định, hoặc có nhưng không vận hành, hoặc chỉ vận hành để đối phó vẫn còn diễn ra khá phổ biến[1]. Tại một số khu công nghiệp, việc đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung cũng chưa được bảo đảm. Theo thống kê trên toàn quốc, có 274 khu công nghiệp đang hoạt động, trong đó có 244 khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung, chiếm 89%[2]. So với trước đây, việc đầu tư xử lý nước thải tập trung tại các khu công nghiệp đã có sự tiến bộ tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu đặt ra.

Hai là, trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản: Cùng với việc phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thủy sản, cây lương thực, hoa màu đã kéo theo tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhất là ô nhiễm nguồn nước tại các sông, kênh, hồ, mương, đồng ruộng ở khu vực nông thôn, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của người dân. Tại các cơ sở chế biến, đặc biệt là các cơ sở chế biến nhỏ lẻ nông, lâm, thủy sản, việc kiểm soát, khắc phục ô nhiễm môi trường, bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế… Tình trạng lạm dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác nông nghiệp cũng làm cho môi trường bị ô nhiễm, hủy hoại nghiêm trọng.

Ba là, trong lĩnh vực xây dựng, đô thị, giao thông vận tải: Đối với lĩnh vực xây dựng, việc thi công xây dựng, cải tạo, sửa chữa, phá dỡ công trình xây dựng chưa bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường (BVMT) còn khá phổ biến. Nhiều công trình xây dựng chưa có biện pháp kiểm soát việc phát tán bụi, nhiệt, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng vượt mức cho phép theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Tại các đô thị, vấn đề ô nhiễm bụi, tiếng ồn, ánh sáng, bức xạ vẫn tiếp tục duy trì ở ngưỡng cao. Trong hoạt động giao thông vận tải, tình trạng sử dụng các loại phương tiện giao thông vận tải chưa được cơ quan đăng kiểm kiểm định, xác nhận đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường diễn ra khá phổ biến. Việc thực hiện che chắn cẩn thận khi vận chuyển nguyên liệu, vật liệu, chất thải để tránh tình trạng phát tán bụi, khí thải, chất thải ra môi trường chưa thực sự được bảo đảm. Đặc biệt, việc vận chuyển hàng hóa, vật liệu có nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường trong nhiều trường hợp chưa được các chủ thể thực hiện một cách nghiêm túc. Việc sử dụng còi xe chưa tuân thủ yêu cầu bảo vệ môi trường vẫn còn diễn ra gây ô nhiễm tiếng ồn nghiêm trọng.

Bốn là, trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, xuất nhập khẩu: Trong hoạt động thương mại, tình trạng các chủ thể VPPLMT khá phổ biến, nhiều doanh nghiệp không tuân thủ các yêu cầu về phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý các loại chất thải theo đúng quy định. Trong lĩnh vực dịch vụ, vấn đề ô nhiễm môi trường cũng rất nghiêm trọng, đặc biệt là dịch vụ du lịch. Tình trạng khách du lịch thải bỏ các loại rác tại các khu du lịch, lễ hội, tụ tập đốt lửa trại hoặc karaoke ồn ào, gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến môi trường xung quanh còn thường xuyên xảy ra. Trong hoạt động xuất nhập khẩu, đặc biệt là hoạt động nhập khẩu phế liệu cũng gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng bởi các hành vi VPPLMT. Tình trạng nhậu khẩu trái phép rác thải công nghiệp, chất thải nguy hại, phế liệu chưa được làm sạch vào Việt Nam còn diễn biến phức tạp.

Năm là, trong lĩnh vực tài nguyên khoáng sản, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học: Trong lĩnh vực tài nguyên khoáng sản, tình hình VPPLMT diễn ra khá nghiêm trọng. Đa phần các chủ thể tham gia hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản chưa chấp hành nghiêm túc quy định pháp luật về BVMT[3]. Trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, tình trạng vi phạm pháp luật cũng xảy ra rất nghiêm trọng và chưa có xu hướng dừng lại. Theo thống kê sơ bộ, từ năm 2010 đến năm 2016, lực lượng kiểm lâm cả nước đã phát hiện và xử lý hơn 174 nghìn vụ vi phạm pháp luật về quản lý, phát triển, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Trong đó, số vụ vi phạm các quy định về quản lý động vật hoang dã là 4.305 vụ, tịch thu hàng nghìn kg sản phẩm động vật hoang dã và hơn 60 nghìn cá thể động vật hoang dã các loại, trong đó, 3.418 cá thể thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm[4].

Sáu là, trong lĩnh vực y tế: Tại các bệnh viện, lượng chất thải hàng ngày ra môi trường rất lớn nhưng mới chỉ có khoảng trên 20% bệnh viện, cơ sở y tế có hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn, hầu hết rác thải chưa được quản lý và xử lý chặt chẽ theo quy chế xử lý chất thải y tế. Nhiều loại rác thải y tế nguy hại như bệnh phẩm, vỏ chai, dây chuyền dịch, bơm kim tiêm đã qua sử dụng để lẫn lộn với rác thải thông thường. Nhân viên một số bệnh viện không nắm rõ quy trình thu gom, xử lý, thậm chí một số bệnh viện còn cho phép thu gom để bán cho cơ sở tái chế để tận thu, vi phạm các quy định về quản lý, xử lý chất thải y tế[5].

Như vậy, từ những vấn đề nêu trên, có thể thấy rằng, hiện nay, tình trạng VPPLMT ở nước ta vẫn còn đang diễn ra rất phức tạp và chưa có xu hướng giảm trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Điều này đã làm suy giảm chất lượng môi trường cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân.

2. Một số nguyên nhân cơ bản

Một là, các chính sách, pháp luật điều chỉnh về hoạt động BVMT trong các lĩnh vực còn chưa thực sự đầy đủ, rõ ràng và đồng bộ. Hệ thống pháp luật môi trường Việt Nam về cơ bản đã được xây dựng, ban hành và không ngừng hoàn thiện, tuy nhiên, các nội dung BVMT vẫn còn quy định rời rạc, dàn trải trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Luật Đầu tư năm 2020, Luật Đầu tư công năm 2019, Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Luật Tài nguyên nước năm 2012, Luật Khoáng sản năm 2010… Hiện nay, các luật này vẫn còn nhiều điểm chưa có sự thống nhất và còn tồn tại một số khoảng trống pháp lý chưa được quy định đã ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý nhà nước trong vấn đề kiểm soát, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm. Một số điều, khoản chỉ quy định mang tính nguyên tắc, chưa có sự hướng dẫn rõ ràng dẫn đến chưa bảo đảm tính khả thi trong quá trình áp dụng. Một số vấn đề mới phát sinh về BVMT chưa có hành lang pháp lý điều chỉnh đã tạo cơ hội cho các chủ thể dễ dàng tận dụng để thực hiện các hành vi phạm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Một số cơ chế, chính sách BVMT chưa thực sự phù hợp và đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường. Yếu tố môi trường trong một số trường hợp chưa được coi trọng và tính đến nhiều trong quá trình xây dựng và ban hành các luật về thương mại, đầu tư và phát triển kinh tế bởi những yêu cầu về phát triển kinh tế. Một số văn bản quy phạm pháp luật về kinh tế còn chưa tính đến chi phí môi trường trong sản xuất, kinh doanh; thiếu vắng những công cụ kinh tế nhằm BVMT… làm cho công tác BVMT không phát huy được sự kích thích từ góc độ kinh tế đối với những chủ thể sử dụng các thành phần môi trường cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, gây ảnh hưởng đến môi trường, sinh thái[6]. Các loại thuế, phí về môi trường theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” để xử lý, khắc phục, cải tạo và phục hồi môi trường, “người hưởng lợi từ giá trị môi trường phải trả tiền” chưa phát huy được vai trò là công cụ kinh tế điều tiết vĩ mô, hạn chế các hoạt động gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội theo hướng tăng trưởng xanh. Một số của quy định của pháp luật chưa tạo ra hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để khuyến khích sản xuất, tiêu thụ bền vững, phát triển dịch vụ môi trường, sản phẩm, hàng hóa thân thiện với môi trường, khuyến khích xã hội hóa trong một số hoạt động BVMT.

Vấn đề quy định phân công trách nhiệm, thẩm quyền, phân cấp quản lý nhà nước về BVMT vẫn còn thiếu thống nhất, chồng chéo, mâu thuẫn, chưa đi đôi với tăng cường năng lực, chưa phân định rõ trách nhiệm quản lý dẫn đến công tác quản lý, kiểm soát, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm chưa phát huy được tính hiệu quả. Các cơ chế pháp lý trong việc kiểm soát những hoạt động tác động vào tự nhiên, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái chưa thực sự hữu hiệu. Một số quy định về xử phạt đối với các hành vi VPPLMT trong các lĩnh vực chưa thực sự đủ sức răng đe để phòng ngừa, hạn chế các hành vi vi phạm… Những quy định về biện pháp xử lý vi phạm giữa các văn bản pháp luật về môi trường còn có những khoảng trống nhất định nên dẫn đến thiếu các biện pháp xử lý thích hợp đối với chủ thể vi phạm. Vì vậy, hiệu quả của việc xử lý các hành vi VPPLMT còn hạn chế.

Hai là, công tác thực thi pháp luật môi trường chưa thực sự bảo đảm tính hiệu quả. Về phía tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, các chủ thể này vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên trong nhiều trường hợp, khi thực hiện các dự án sản xuất, kinh doanh nhưng chưa chú trọng việc xây dựng các hệ thống xử lý chất thải, thậm chí còn coi đây là giải pháp giảm chi phí, tăng lợi nhuận. Nguy hiểm hơn nữa là có những doanh nghiệp tuy có hệ thống xử lý chất thải nhưng luôn cố tình vi phạm, lén lút xây dựng hệ thống bí mật, phức tạp, được ngụy trang bằng hệ thống đạt tiêu chuẩn để xả ra môi trường những chất xả thải chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt chuẩn[7]. Về phía cơ quan quản lý nhà nước, sự vào cuộc của chính quyền cơ sở nhiều nơi chưa thực sự quyết liệt, chưa thực hiện tốt các quy định trong việc quản lý, kiểm soát, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi VPPLMT, còn thụ động trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh, sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương có lúc, có nơi chưa được chặt chẽ. Một bộ phận cán bộ, công chức chưa đủ năng lực hoặc chưa giữ nghiêm kỷ cương trong khi thi hành công vụ, thậm chí còn nhận hối lộ, bao che, tiếp tay cho các vụ VPPLMT, khai thác bừa bãi tài nguyên khoáng sản của đất nước, chặt phá rừng, khai thác gỗ trái phép, xả những chất thải độc hại chưa qua xử lý vào môi trường… gây thiệt hại không nhỏ đến các hoạt động kinh tế cũng như đời sống của người dân. Chính các vấn đề này cũng là một trong những lý do cơ bản dẫn đến tình trạng VPPLMT vẫn tiếp tục diễn ra trên tất cả các lĩnh vực mà chưa có xu hướng giảm.

Ba là, nhận thức về công tác BVMT, phát triển bền vững của một bộ phận các chủ thể chưa bảo đảm. Hiện nay, các chủ thể này đều coi trọng phát triển kinh tế và xem nhẹ vấn đề BVMT. Nhiều địa phương, do chính sách ưu tiên phát triển kinh tế nên đã kêu gọi đầu tư dàn trải, cấp phép kinh doanh ồ ạt, chưa quan tâm đến việc thẩm định, đánh giá ảnh hưởng của các dự án đối với môi trường, nhất là các dự án thuộc lĩnh vực trọng điểm đã dẫn đến tình trạng việc chấp hành pháp luật BVMT trong các lĩnh vực cơ bản bị xem nhẹ trong thời gian dài, các yêu cầu BVMT trong quá trình triển khai hầu như chỉ mang tính thủ tục, hình thức, đối phó, thiếu cơ chế giám sát thực hiện hiệu quả, từ đó, dẫn đến tình trạng VPPLMT ngày càng gia tăng.

3. Một số kiến nghị

Để khắc phục tình trạng VPPLMT nêu trên, cần thực hiện hiệu quả một số giải pháp, cụ thể:

Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật môi trường theo hướng đồng bộ, thống nhất, đầy đủ, phù hợp với cơ chế thị trường và đáp ứng các yêu cầu hội nhập quốc tế. Theo đó, cần sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật hiện hành để khắc phục tính thiếu nhất quán, chưa cụ thể, chưa rõ ràng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực BVMT. Khi sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các quy định liên quan đến môi trường trong các luật chuyên ngành cần bảo đảm chú trọng các yếu tố môi trường, đồng thời cần giải quyết được mối quan hệ giữa Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản luật chuyên ngành điều chỉnh về môi trường trên cơ sở bảo đảm tính thống nhất[8]. Bên cạnh đó, cần tiếp tục ban hành văn bản mới để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực BVMT chưa được điều chỉnh nhằm kiểm soát hiệu quả các hành vi vi phạm.

Các quy định pháp luật môi trường khi được hoàn thiện phải bảo đảm phù hợp và đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường. Khi xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về kinh tế cần tính đến chi phí môi trường trong sản xuất, kinh doanh, yếu tố môi trường phải được thực sự coi trọng. Bên cạnh đó, cần tạo được hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để khuyến khích sản xuất, tiêu thụ bền vững, phát triển dịch vụ môi trường, sản phẩm, hàng hóa thân thiện với môi trường, khuyến khích xã hội hóa trong một số hoạt động BVMT để tận dụng và phát huy mọi nguồn lực cần thiết vào công tác kiểm soát và phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm. Ngoài ra, cần bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong việc quy định về phân công trách nhiệm, thẩm quyền, phân cấp quản lý nhà nước về theo dõi, kiểm soát, phát hiện và xử lý các hành vi VPPLMT, phân định rõ trách nhiệm quản lý; đặc biệt là cần có một cơ chế pháp lý hữu hiệu trong việc kiểm soát các hoạt động tác động vào tự nhiên, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái nhằm hạn chế các hành vi vi phạm xảy ra.

Đồng thời, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống các quy định xử phạt trong lĩnh vực môi trường theo hướng nghiêm ngặt nhằm bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa và hạn chế tối đa những hành vi vi phạm. Đặc biệt, với tình trạng vẫn còn những khoảng trống pháp lý, cần nhanh chóng đưa ra các quy định xử phạt cụ thể để có biện pháp xử lý thích hợp đối với chủ thể vi phạm, tránh trường hợp bỏ lọt các hành vi vi phạm.

Ngoài ra, cũng cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc nội luật hóa các cam kết quốc tế về BVMT mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia và xác định rõ hiệu lực pháp lý của cam kết quốc tế đó. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế bảo đảm thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế đó tại Việt Nam để góp phần vào việc kiểm soát, phát hiện và xử lý hiệu quả các hành vi VPPLMT trên cơ sở phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế.

Hai là, tiếp tục nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật môi trường. Để hạn chế tình trạng VPPLMT, đòi hỏi cần phải nâng cao trách nhiệm thực thi hiệu quả pháp luật môi trường ở cả góc độ cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội.

Dưới khía cạnh quản lý nhà nước, cần tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý nhà nước, tham mưu ban hành kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật, tập trung rà soát, bổ sung các chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT bảo đảm hoàn thiện, thống nhất và đồng bộ để chỉ đạo, tổ chức thực hiện kiểm soát, xử lý hiệu quả các hành vi vi phạm. Trong quá trình áp dụng pháp luật, để kiểm soát, xử lý các hành vi VPPLMT, cần phát huy đồng bộ các biện pháp được quy định trong luật hành chính, hình sự, dân sự, kinh tế trong việc xử lý các hành vi VPPLMT, đặc biệt là các biện pháp kinh tế để bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và yêu cầu BVMT, thực hiện tốt pháp luật về môi trường. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của các tổ chức, cá nhân, cán bộ, công chức trong hoạt động kiểm soát, phát hiện, xử lý hành vi VPPLMT. Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động thực hiện pháp luật về BVMT bằng cách tăng cường sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc tham gia quản lý, tổ chức thực hiện và giám sát công tác BVMT để phục vụ hiệu quả cho việc kiểm soát, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi VPPLMT. Hơn nữa, cần phải xây dựng được cơ chế kịp thời phát hiện và xử lý các đối tượng vi phạm, tăng cường thực hiện thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT để răn đe, từ đó góp phần thay đổi hành vi xử sự của các chủ thể đối với môi trường theo hướng bảo đảm phát triển bền vững trên cơ sở phù hợp với quy định pháp luật.

Dưới góc độ tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, bản thân các chủ thể này phải tự ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ cũng như những lợi ích mà mình được hưởng trong vấn đề BVMT, tích cực đáp ứng các yêu cầu BVMT, phát triển bền vững trong các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh để góp phần hạn chế tình trạng VPPLMT.

Ba là, cần thay đổi tư duy về vấn đề BVMT và phát triển bền vững. Theo đó, thay vì duy trì tư duy ưu tiên tăng trưởng kinh tế, xem nhẹ BVMT thì một bộ phận các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước cần hình thành thói quen tuân thủ các yêu cầu về phát triển bền vững trong phát triển kinh tế và BVMT. Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước cũng cần đẩy mạnh chính sách phát triển kinh tế gắn liền với BVMT, tránh kêu gọi đầu tư một cách ồ ạt, dàn trải, phải nhất quán với quan điểm “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế”.

ThS. Trần Linh Huân

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

ThS. Phạm Thị Hồng Tâm

Trường Đại học Phan Thiết

[1]. Ngô Ngọc Diễm (2019), “Thực trạng tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường trong giai đoạn hiện nay - Một số nguyên nhân và giải pháp”, Tạp chí Công thương, số 11, tháng 6/2019, tr. 74.

[2]. Vũ Nam, “Gần 90% khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung”, https://nangluongsachvietnam.vn/d6/vi-VN/news/Gan-90-khu-cong-nghiep-co-he-thong-xu-ly-nuoc-thai-tap trung-6-179-6527, truy cập ngày 22/11/2022.

[3]. Xem thêm: Khánh Toàn & Kim Tiến, “Kiên quyết xử lý các doanh nghiệp khai thác khoáng sản gây ô nhiễm tại Vị Xuyên”, https://nhandan.vn/moi-truong/kien-quyet-xu-ly-cac-doanh-nghiep-khai-thac-khoang-san-gay-o-nhiem-tai-vi-xuyen-301833/, truy cập ngày 22/11/2022.

[4]. Trung Tuyến, “Chống săn bắt, buôn bán động vật hoang dã để bảo đảm đa dạng sinh học”, https://nhandan.vn/moi-truong/chong-san-bat-buon-ban-dong-vat-hoang-da-de-bao-dam-da-dang-sinh-hoc-291121/, truy cập ngày 22/11/2022.

[5]. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2021), “Tăng cường thực thi pháp luật bảo vệ môi trường để phát triển bền vững”, Tạp chí quản lý Nhà nước, số 300, tr. 66.

[6]. Nguyễn Trần Điện, “Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7/2012, tr. 61.

[7]. Hồng Hà & Tuấn Anh, “Xử lý triệt để việc Công ty Vedan gây ô nhiễm môi trường”, https://nhandan.vn/thoi-su-phap-luat/xu-ly-triet-de-viec-cong-ty-vedan-gay-o-nhiem-moi-truong-591540, truy cập ngày 22/11/2022.

[8]. Nguyễn Trần Điện (2012), “Thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7 (215), tr. 62.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: