Thứ năm 08/10/2026 14:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vốn điều lệ của công ty đại chúng và mức vốn điều lệ khi chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng

Luật Chứng khoán năm 2019 đã tạo ra những thay đổi diện mạo đáng kể cho thị trường chứng khoán Việt Nam. Luật Chứng khoán năm 2019 có nhiều điểm mới so với Luật Chứng khoán trước đây. Một trong những điểm mới là vấn đề về vốn điều lệ của công ty đại chúng. Trong bài viết, nhóm tác giả muốn đề cập đến nội dung này, mang tính chất lý giải cho sự thay đổi quy định về vốn điều lệ của công ty đại chúng và yêu cầu mức vốn điều lệ khi chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng.


1. Cơ sở cho việc điều chỉnh mức vốn điều lệ của công ty đại chúng

1.1. Yêu cầu phát triển thị trường chứng khoán ổn định, bền vững

Để thị trường chứng khoán ổn định và phát triển, trước hết, hàng hóa đăng ký giao dịch (chứng khoán niêm yết) phải có chất lượng, không chỉ thể hiện ở năng lực quản trị, hoạt động của tổ chức niêm yết mà còn thể hiện ở năng lực tài chính của các tổ chức này. Một trong những căn cứ xác định chất lượng chứng khoán giao dịch chính là năng lực tài chính của chủ thể phát hành ra nó hoặc là căn cứ để xác định giá trị của chứng khoán phái sinh (dựa trên các yếu tố để xác định chứng khoán cơ sở).

Khi năng lực tài chính của công ty đại chúng đạt đến mức độ nhất định cũng đồng nghĩa với khả năng chịu đựng rủi ro, kể cả rủi ro biến động giá chứng khoán niêm yết. Điều này lý giải vì sao thị trường giao dịch chứng khoán trên thế giới luôn quan tâm tới chỉ tiêu định lượng này.

1.2. Mối tương quan giữa năng lực tài chính của tổ chức niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam và các thị trường trong khu vực

Mối quan hệ giữa năng lực tài chính của các tổ chức niêm yết tại các thị trường chứng khoán có tổ chức trong khu vực sẽ được thể hiện tại phần sau của bài viết. Tuy nhiên, có thể dễ dàng lý giải yếu tố cạnh tranh của thị trường chứng khoán có tổ chức giữa các quốc gia luôn đặt ra mục tiêu về yếu tố định lượng của tổ chức phát hành và tổ chức niêm yết, trong đó có thể nói đến yếu tố năng lực tài chính và tính ổn định của thị trường.

1.3. Yêu cầu gắn hoạt động chào bán ra công chúng với niêm yết chứng khoán

Nội dung này đã được đề cập tại các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về niêm yết/đăng ký giao dịch của các doanh nghiệp sau cổ phần hóa và Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 28/2/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025”.

1.4. Điều kiện thực tế tại Việt Nam

Thứ nhất, các quốc gia có thị trường, có thể lựa chọn cách thức quản lý hàng hóa (chứng khoán niêm yết) và nhà sản xuất (tổ chức niêm yết) theo những cách thức khác nhau. Có thể chỉ ra cách thức quản lý thông qua việc tăng cường quản lý thông tin (bảo đảm tính minh bạch) như ý kiến của TS. Vũ Bằng[1] hoặc thông qua việc xác định năng lực tài chính tối thiểu đối với công ty đại chúng[2]. Việc xác định năng lực tài chính của công ty đại chúng là một trong những biện pháp để bảo đảm chất lượng hàng hóa (hướng tới nhà đầu tư khi đánh giá năng lực của tổ chức niêm yết). Luật Chứng khoán năm 2019 đã thể hiện việc cố gắng áp dụng cả hai biện pháp trên: Tăng cường quản lý công bố thông tin: Sửa đổi toàn bộ 08 điều tại Chương VIII - Chế độ công bố thông tin của Luật Chứng khoán năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2010 (Luật Chứng khoán năm 2006) và bổ sung 02 điều về nguyên tắc công bố thông tin (Điều 117), công bố thông tin của tổ chức niêm yết trái phiếu doanh nghiệp (Điều 122). Những điều chỉnh này đều hướng tới mục tiêu minh bạch.

Thứ hai, thực tế tiêu chuẩn của tổ chức niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) đã quy định mức 30 tỷ đồng như mức tối thiểu (điểm a khoản 1 Điều 54 Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán (Nghị định số 58/2012/NĐ-CP)) và những mức cao hơn thế (120 tỷ đồng) (điểm a khoản 1 Điều 53 Nghị định số 58/2012/NĐ-CP). Vì vậy, việc nâng quy định có hiệu lực pháp lý thấp hơn (nghị định) lên thành luật (thể hiện tại Luật Chứng khoán năm 2019) cũng là cần thiết. Yêu cầu này tương ứng với yêu cầu gắn chào bán ra công chúng với niêm yết chứng khoán.

2. Căn cứ xác định mức vốn điều lệ điều chỉnh

2.1. Thực trạng về quy mô vốn của công ty đại chúng

Trên cơ sở thực tiễn đăng ký vốn, góp vốn, mua cổ phần có thể thấy tốc độ và quy mô vốn của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tăng cao qua những năm gần đây, thể hiện thông qua một số thông tin cụ thể sau đây:

Nếu trong 10 năm từ năm 2005 đến năm 2015, nguồn vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp nói chung (không bao gồm doanh nghiệp nhà nước) đã tăng 16,35 lần so với năm 2005[3] thì chỉ riêng 02 tháng (tháng 1 và tháng 2/2019) theo số liệu từ Tổng cục Thống kê công bố, số vốn đăng ký bình quân của doanh nghiệp thành lập mới đạt 16,3 tỷ đồng[4], cao hơn cả mức vốn điều lệ tối thiểu của công ty đại chúng (10 tỷ đồng) theo quy định của Luật Chứng khoán vào cùng thời điểm. Điều này cho thấy tốc độ, quy mô phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay ở mức tương đối cao.

Bên cạnh đó, theo kết quả thống kê sơ bộ của Bộ Tài chính thì tính đến tháng 12/2018, tổng số lượng công ty đại chúng là 1.940 công ty. Trong đó: Số lượng công ty đại chúng có mức vốn từ 10 đến dưới 20 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 11,54% tổng số công ty đại chúng; số lượng công ty đại chúng có mức vốn dưới 30 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 8,96% tổng số công ty đại chúng; số lượng công ty đại chúng có mức vốn dưới 50 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 30,97% tổng số công ty đại chúng.

Như vậy, với mức vốn điều lệ từ 30 tỷ đồng trở lên thì số lượng công ty đại chúng chiếm tỷ lệ 81,04%; với mức vốn điều lệ từ 50 tỷ đồng trở lên thì số lượng công ty đại chúng chiếm tỷ lệ 69,03%. Tuy nhiên, nếu lựa chọn điều kiện về vốn điều lệ đã góp quá cao (từ 50 tỷ đồng trở lên) thì sẽ có khoảng gần 31% công ty đại chúng hiện nay không đáp ứng điều kiện này. Với tỷ lệ không đáp ứng điều kiện tối thiểu sẽ gây ra những cản trở không nhỏ cho kế hoạch phát triển của các công ty đại chúng hiện hữu.

2.2. Thông lệ quốc tế

Theo thông lệ quốc tế, công ty đại chúng phải gắn với việc niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao dịch chứng khoán. Do vậy, một số nước quy định tiêu chuẩn công ty đại chúng riêng biệt, tuy nhiên, một số nước khác thì quy định điều kiện niêm yết được coi là điều kiện/tiêu chuẩn của công ty đại chúng. Có thể đề cập đến quy định của một số quốc gia về vấn đề này như sau[5]:

- Tại Trung Quốc: Điều kiện về vốn trước khi chào bán chứng khoán ra công chúng tối thiểu là 30 triệu nhân dân tệ (tương đương gần 104 tỷ đồng Việt Nam). Công ty cổ phần được coi là công ty đại chúng khi có vốn cổ phần ít nhất là 50 triệu nhân dân tệ (tương đương gần 174 tỷ đồng Việt Nam)[6].

- Tại Thái Lan: Công ty nếu niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán SET, vốn góp tối thiểu là 300 triệu bath (tương đương gần 218 tỷ đồng Việt Nam); nếu niêm yết trên thị trường MAI (Thái Lan), điều kiện về vốn góp chủ sở hữu là 200 triệu bath trở lên (tương đương khoảng 145 tỷ đồng Việt Nam)[7].

- Sở Giao dịch chứng khoán Đài Loan Đài Bắc Taipei Exchange - TPEx (Đài Loan): Tối thiểu 50 triệu TWD (tương đương gần 375 tỷ đồng Việt Nam) áp dụng đối với doanh nghiệp trong nước; tối thiểu 100 triệu TWD (tương đương 750 tỷ đồng Việt Nam áp dụng đối với doanh nghiệp nước ngoài)[8].

- Philippines: Bảng Main Board: Vốn điều lệ tối thiểu là 500 triệu Peso (tương đương khoảng 210 tỷ đồng Việt Nam); Bảng SME: Vốn điều lệ tối thiểu là 100 triệu Peso (tương đương khoảng 42 tỷ đồng Việt Nam)[9].

- Tại Hàn Quốc: Công ty đại chúng có số vốn ít nhất 50 triệu won (tương đương 1.023 tỷ đồng Việt Nam)[10].

- Tại Mỹ: Công ty đại chúng có vốn điều lệ tối thiểu 10 triệu USD (tương đương 220 tỷ đồng Việt Nam) và tối thiểu 500 cổ đông; công ty đại chúng quy mô lớn có vốn điều lệ tối thiểu 75 triệu USD (tương đương 1.650 tỷ đồng Việt Nam) và trên 300 cổ đông (tối thiểu 1.200 cổ đông nếu công ty đại chúng là ngân hàng)[11].

- Theo khuyến nghị của nhóm chuyên gia Ngân hàng Thế giới (World Bank): Số vốn điều lệ đã góp là 30 tỷ đồng Việt Nam là phù hợp với quy mô vốn của doanh nghiệp và sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay cũng như tương lai 10 năm tới. Thời gian 10 năm là khoảng thời gian cần thiết để xem xét, điều chỉnh quy định pháp luật trong trường hợp cần thiết.

Từ thực trạng và thông lệ quốc tế nêu trên cho thấy, quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu để tổ chức phát hành được chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng và tiêu chí vốn điều lệ đã góp đối với công ty đại chúng từ 10 tỷ đồng trở lên theo Luật Chứng khoán năm 2006 thấp hơn nhiều so với tốc độ phát triển về quy mô vốn của các doanh nghiệp Việt Nam và thấp hơn so với mức trung bình của các nước Đông Nam Á, các nước đang phát triển.

2.3. Sự cần thiết của việc nâng cao tiêu chuẩn/điều kiện về vốn của công ty đại chúng và tổ chức phát hành khi chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng

Việc nâng cao tiêu chuẩn về vốn của công ty đại chúng và tổ chức chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng là cần thiết, bởi vì:

Một là, thực tế cho thấy, các công ty đại chúng có quy mô vốn quá nhỏ như hiện nay sẽ khó khăn trong việc trang trải các nghĩa vụ của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán. Những nghĩa vụ này bao gồm: Nghĩa vụ nộp phí quản lý công ty đại chúng; nghĩa vụ đăng ký chứng khoán, đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán có tổ chức; chi phí cho nghĩa vụ công bố thông tin (lập website và thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin qua website, thiết lập hệ thống và thực hiện công bố thông tin qua hệ thống công bố thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, bố trí người ủy quyền thực hiện công bố thông tin…); nghĩa vụ quản trị công ty; chi phí kiểm toán bắt buộc theo quy định của Luật Chứng khoán…

Hai là, việc quy định mức vốn của công ty đại chúng quá nhỏ sẽ dẫn đến tình trạng nhiều công ty đăng ký công ty đại chúng nhưng sau một thời gian lại nộp hồ sơ đăng ký hủy tư cách công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán do không đáp ứng tiêu chuẩn là công ty đại chúng, gây khó khăn trong công tác quản lý, theo dõi việc thực hiện các nghĩa vụ của công ty đó.

Ba là, khi niêm yết, giao dịch trên thị trường chứng khoán, các công ty đại chúng có vốn điều lệ tối thiểu nhỏ thường có số lượng cổ phiếu đang lưu hành ít, dẫn đến cổ phiếu giao dịch trên hệ thống của Sở Giao dịch chứng khoán có mức thanh khoản rất thấp hoặc thường là đối tượng để các chủ thể vi phạm pháp luật thực hiện việc kiểm soát các giao dịch mua bán chứng khoán, thao túng, làm giá chứng khoán.

3. Phương án lựa chọn

Quy định mức vốn điều lệ 30 tỷ đồng cho công ty đại chúng được lựa chọn trên cơ sở các phương án sau đây:

- Phương án quy định nâng điều kiện về mức vốn điều lệ tối thiểu khi tổ chức phát hành chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng từ 30 tỷ đồng trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán (so với Luật Chứng khoán năm 2006 là từ 10 tỷ đồng trở lên); quy định một trong các tiêu chí để trở thành công ty đại chúng là “có vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên và có tối thiểu 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn nắm giữ” (quy định của Luật Chứng khoán năm 2006 là “công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên”).

- Phương án quy định nâng vốn điều lệ của công ty đại chúng lên mức tối thiểu là 30 tỷ đồng. Lý do lựa chọn phương án:

Thứ nhất, việc nâng điều kiện về vốn đối với công ty đại chúng trên cơ sở cân đối phù hợp với thông lệ quốc tế, đặc biệt là một số nước có nền kinh tế đang phát triển trong khu vực (như Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Malaysia).

Thứ hai, để thúc đẩy việc chào bán chứng khoán ra công chúng gắn với niêm yết, đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán, Luật Chứng khoán năm 2019 quy định doanh nghiệp khi chào bán chứng khoán ra công chúng, trở thành công ty đại chúng phải đồng thời đưa cổ phiếu vào niêm yết, giao dịch trên Sở Giao dịch chứng khoán. Luật này quy định mức vốn điều lệ tối thiểu là 30 tỷ đồng phù hợp với điều kiện niêm yết tối thiểu của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội hiện nay.

Thứ ba, mức vốn điều lệ tối thiểu là 30 tỷ đồng sẽ không gây xáo trộn lớn trên thị trường chứng khoán. Cụ thể là, nếu chọn phương án vốn điều lệ từ 30 tỷ đồng trở lên thì số doanh nghiệp bị ảnh hưởng chỉ là 18,3%, thấp hơn so với tỷ lệ 30,9% khi chọn mức vốn điều lệ từ 50 tỷ đồng trở lên.

4. Kết quả ban đầu của việc sử dụng pháp luật về vốn điều lệ khi chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng

Một là, việc xác định lộ trình tăng vốn điều lệ cho các công ty chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng đã đạt được mục tiêu mong muốn. Ngày 26/11/2019, Quốc hội thông qua Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2021. Quãng thời gian của năm 2020 vừa qua là bước đệm cho thị trường chứng khoán có tổ chức có lượng hàng hóa chất lượng tốt. Để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các công ty đại chúng trong quá trình áp dụng chính sách mới của Luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, tại điều khoản chuyển tiếp (khoản 4, khoản 5 Điều 135) Luật Chứng khoán năm 2019 quy định:

“4. Công ty đại chúng có cổ phiếu đã niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà vẫn đáp ứng điều kiện theo quy định của Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 62/2010/QH12 và các văn bản quy định chi tiết thi hành thì không bị hủy tư cách công ty đại chúng, không bị hủy niêm yết, đăng ký giao dịch, trừ trường hợp Đại hội đồng cổ đông có quyết định khác.

5. Công ty đại chúng có cổ phiếu chưa niêm yết hoặc chưa đăng ký giao dịch trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không đáp ứng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32 của Luật này thì bị hủy tư cách công ty đại chúng”.

Bên cạnh đề xuất về việc không áp dụng “hồi tố” cho các công ty đại chúng hiện hữu, cũng cần nói thêm rằng, ngay trong điều khoản chuyển tiếp cũng đã tạo khoảng thời gian cần thiết cho các tổ chức chưa đủ tiêu chuẩn về vốn điều lệ lựa chọn phương án vốn điều lệ phù hợp nhất cho chính doanh nghiệp.

Hai là, một câu hỏi khác có thể đặt ra khi nâng mức vốn điều lệ đó là sẽ phải giải quyết thế nào đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn nhưng muốn tiếp cận vốn thông qua thị trường chứng khoán? Câu hỏi này có thể được giải quyết thông qua việc xây dựng mô hình thị trường chứng khoán “dưới chuẩn” (chuẩn theo điều kiện công ty đại chúng sửa đổi) theo chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp. Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán có thể có quy định riêng về vấn đề này.

Ba là, thực tiễn chứng minh mức vốn điều lệ để chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng là phù hợp với xu hướng xác định mức vốn cần thiết ngày càng tăng, đáp ứng với yêu cầu bảo đảm năng lực tài chính của các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh thương mại.

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2020 - năm bản lề để thực hiện điều kiện về vốn điều lệ theo Luật Chứng khoán năm 2019, “trong 11 tháng đầu năm 2020, cả nước có 124.252 doanh nghiệp thành lập mới... Vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong 11 tháng đầu năm 2020 đạt 15,1 tỷ đồng, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm 2019. Điều này cho thấy quy mô của doanh nghiệp gia nhập thị trường tiếp tục có xu hướng tăng lên”[12]. Sang năm 2021, thời điểm Luật Chứng khoán năm 2019 chính thức có hiệu lực, các doanh nghiệp mới thành lập có quy mô vốn ban đầu gần chạm ngưỡng có thể chào bán lần đầu ra công chúng (IPO) và vượt ngưỡng là rất tích cực. “Số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng ở cả 05 quy mô vốn. Trong đó, doanh nghiệp thành lập mới tập trung chủ yếu ở quy mô vốn từ 0 - 10 tỷ đồng với 39.147 doanh nghiệp (chiếm 88,6%, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2020). Số doanh nghiệp đăng ký thành lập ở quy mô từ 10 - 20 tỷ đồng là 2.416 doanh nghiệp (chiếm 5,5%, tăng 24,0% so với cùng kỳ năm 2020); ở quy mô vốn từ 20 - 50 tỷ đồng là 1.337 doanh nghiệp (chiếm 3%, tăng 31,0% so với cùng kỳ năm 2020); từ 50 - 100 tỷ đồng là 622 doanh nghiệp (chiếm 1,4%, tăng 43,0% so với cùng kỳ năm 2020) và ở quy mô trên 100 tỷ đồng là 644 doanh nghiệp (chiếm 1,5%, tăng 52,2% so với cùng kỳ năm 2020)”[13]. Những thông số này cho thấy, các doanh nghiệp thành lập mới cũng sẵn sàng cho khả năng mở rộng vốn cho mình thông qua hoạt động chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng, chưa tính tới những doanh nghiệp có đủ tiềm năng hiện hữu.

Như vậy, những lập luận trên lý giải vì sao Luật Chứng khoán năm 2019 lựa chọn phương án tiêu chuẩn về mức vốn điều lệ của công ty đại chúng là từ 30 tỷ đồng trở lên, vừa bảo đảm phù hợp với sự phát triển của kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay nói chung và sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng.

PGS.TS. Phạm Thị Giang Thu
Đại học Luật Hà Nội
TS. Nguyễn Ngọc Lương
Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh



[1]. Phát biểu của TS. Vũ Bằng - Nguyên Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tại Hội thảo góp ý kiến đối với Dự thảo Luật Chứng khoán sửa đổi, Hà Nội, ngày 07/11/2018

[2]. Đây chính là ý kiến xuyên suốt của Ban soạn thảo Dự thảo Luật Chứng khoán sửa đổi.

[3]. Theo số liệu tại sách “Doanh nghiệp Việt Nam, 15 năm đầu thế kỷ (2000 - 2014)” của Tổng cục Thống kê, xuất bản năm 2017.

[4]. Theo số liệu tại Trang thông tin điện tử của Tổng cục Thống kê

[5]. Tác giả đưa số liệu quy đổi ra đồng Việt Nam chỉ mang tính tương đối vì còn tùy thuộc vào tỷ giá hối đoái từng thời điểm.

[6]. Nguồn: Điều 16 Law of the People’s Republic of China on Securities, 27/10/2005.

[7]. Nguồn: Securities and Exchange Act of Thailand, B.E. 2535, Public Limited Companies Act BE 2535 (1992) (As Amended).

[8]. Nguồn: Điều 21 Securities and Exchange Act of the Taiwan.

[9]. Nguồn: REPUBLIC OF THE PHILIPPINES, Securities Regulation Code R.A.8799, 9/10/2006.

[10]. Nguồn: Securities and Exchange republic of Korea, Act No. 972.

[11]. Nguồn: Luật Chứng khoán Hoa kỳ năm 1933.

[12]. Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo tình hình đăng ký doanh nghiệp tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2021, tr. 3, ngày 28/4/2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: