Thứ sáu 20/02/2026 23:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác định cha, mẹ, con tại Tòa án trong trường hợp không có tranh chấp

Bài viết nghiên cứu một số bất cập về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về xác định cha, mẹ, con tại Tòa án trong trường hợp không có tranh chấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

1. Quy định pháp luật về xác định cha, mẹ, con tại Tòa án trong trường hợp không có tranh chấp

Trong hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới, thẩm quyền của Tòa án trong việc xác định quan hệ cha, mẹ, con là rất quan trọng. Tuy nhiên, thẩm quyền cụ thể của Tòa án trong vấn đề này có thể khác nhau tùy theo quốc gia và hệ thống pháp luật cụ thể mà quốc gia đó áp dụng.

Ở Việt Nam, việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp không có tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án, đây là một loại yêu cầu về hôn nhân và gia đình, được thực hiện theo thủ tục giải quyết việc dân sự. Trình tự, thủ tục xác định cha, mẹ, con tại Tòa án theo thủ tục giải quyết việc dân sự được quy định tại khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình”.

Đồng thời, theo khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong 03 trường hợp: Có tranh chấp; người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết; trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này. Cụ thể, Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp có yêu cầu về việc xác định cha, mẹ, con mà người có yêu cầu chết thì người thân thích của người này có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết”.

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, kết hợp các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, có thể hiểu, trường hợp xác định quan hệ cha, mẹ, con có tranh chấp là một loại tranh chấp về hôn nhân và gia đình được giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Trong khi đó, thủ tục giải quyết việc dân sự liên quan đến xác định cha, mẹ, con có thể hiểu là sẽ được áp dụng trong 02 trường hợp còn lại là không có tranh chấp và người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết, do đó, người thân thích của người yêu cầu sẽ thay người đó yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết. Cần lưu ý là, tranh chấp hay yêu cầu về xác định cha, mẹ, con bao gồm việc thừa nhận hoặc không thừa nhận quan hệ cha, mẹ, con.

Sở dĩ, việc xác định cha mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ đối với trường hợp không có tranh chấp vẫn được giao cho Tòa án giải quyết, vì việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này có tính chất phức tạp hơn so với thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con tại cơ quan hành chính (cơ quan đăng ký hộ tịch, Ủy ban nhân dân). Thủ tục đăng ký hộ tịch về nhận cha, mẹ, con do cơ quan đăng ký hộ tịch thực hiện là trường hợp xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch làm phát sinh quan hệ cha, mẹ, con[1], nếu người yêu cầu cung cấp đầy đủ giấy tờ theo thủ tục hộ tịch, bao gồm hai trường hợp: Khai sinh cho trẻ trên cơ sở nguyên tắc suy đoán cha mẹ cho con dựa trên sự kiện sinh đẻ; hoặc sự kiện nhận cha, mẹ, con dựa trên ý chí tự nguyện của các bên, nếu giữa các bên chưa có quan hệ pháp luật cha, mẹ, con đang hiện hữu. Trường hợp giữa các bên đã có quan hệ cha, mẹ, con hiện hữu và sau đó thay đổi về quan hệ này thì cơ quan hộ tịch chỉ có thẩm quyền ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền[2].

Trong khi đó việc xác định cha, mẹ, con khi một bên đã chết hoặc trường hợp một người nhận một người khác là con, nhưng theo quy định của pháp luật thì người con đó đang là con của người cha, mẹ hợp pháp khác (mặc dù người đang là cha mẹ đó đồng ý) thì người nhận cha, mẹ con cần xuất trình chứng cứ để chứng minh và cần phải thực hiện quy trình đánh giá để xem xét tính hợp pháp của chứng cứ và giá trị chứng minh của nó mới có cơ sở để xác định quan hệ huyết thống đó. Tòa án với vai trò là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền tư pháp[3], Tòa án sẽ làm sáng tỏ sự thật khách quan của sự việc đó là có hay không có, tồn tại hay không tồn tại các sự kiện, tình tiết mà các bên nêu ra làm cơ sở cho yêu cầu của mình trước Tòa án.

Để thực hiện điều này, Tòa án tiến hành một số hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ như lấy lời khai của đương sự, tiến hành giám định AND - xác định huyết thống bằng di truyền học... Những quy trình này chỉ được thực hiện bởi Tòa án, vì cơ quan đăng ký hộ tịch không có những chức năng trên. Mặt khác, cơ quan đăng ký hộ tịch không có quyền tước bỏ quyền đang làm cha, mẹ, con của một người rồi lại xác định một người khác là cha, mẹ, con cho dù tất cả các chủ thể có liên quan đều tự nguyện và không có tranh chấp[4]. Do vậy, pháp luật quy định Tòa án có quyền xác định cha, mẹ, con trong trường hợp không có tranh chấp và giải quyết theo thủ tục việc dân sự là hoàn toàn hợp lý.

2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về xác định cha, mẹ, con tại Tòa án trong trường hợp không có tranh chấp

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ ghi nhận về mặt thẩm quyền và căn cứ vào việc có hay không có tranh chấp để xác định thủ tục giải quyết là vụ hay việc, chứ không quy định rõ thế nào là có tranh chấp khi có yêu cầu về xác định cha, mẹ, con, dẫn đến thực tiễn áp dụng đôi khi Tòa án chưa thống nhất trong thụ lý giải quyết đối với các trường hợp có Tòa án thụ lý vụ án dân sự, có Tòa án lại thụ lý việc dân sự đối với những vụ việc tương tự nhau[5].

Bên cạnh đó, do chưa thống nhất khi xác định thế nào là có tranh chấp, tranh chấp về vấn đề gì, các bên trong quan hệ tranh chấp này là ai (chỉ giữa những người là cha, mẹ, con hay bất kỳ ai có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc xác định cha, mẹ, con - ví dụ như những người thừa kế…) dẫn đến có những trường hợp Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu xác định quan hệ cha, mẹ con theo thủ tục giải quyết việc dân sự do nhận định không có tranh chấp, do xem đây là một loại yêu cầu thuộc khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, nếu chiếu theo khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì yêu cầu xác định cha, mẹ, con trong trường hợp đó lại không thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Tình huống thứ nhất - Việc dân sự[6]: Năm 1993, bà Vũ Thị H (Vũ Thị Ngân H) và chồng là ông Vũ Văn Đ nhận chị Vũ Thị N làm con nuôi lúc chị N còn nhỏ, mặc dù nhận nuôi con nuôi nhưng khai sinh ghi con đẻ. Chị N chung nhà với ông Đ, bà H từ đó đến nay. Năm 2006, giữa bà H và chị N phát sinh mâu thuẫn, bà H không cho chị N chung nhà nữa. Bà H yêu cầu xác định chị N không phải là con đẻ của bà H. Tòa án nhân dân Thành phố V đã xác định đây là về yêu cầu: “Xác định một người không phải là con” để thụ lý giải quyết việc dân sự, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự. Trong vụ việc này, chị N và bà H đã làm xét nghiệm ADN, theo kết quả xét nghiệm ADN, bà H và N không cùng quan hệ huyết thống mẹ con; đồng thời chị N có bản tự khai và tại phiên họp giải quyết việc dân sự chị N cũng thừa nhận chị N không phải là con đẻ của bà H và đồng ý với yêu cầu của bà H đưa ra. Tòa án đã áp dụng khoản 2 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu xác định người đó không phải là con mình” để ra quyết định chấp nhận yêu cầu của bà H, theo đó tuyên bố chị N không phải là con của bà H.

Tình huống thứ hai - Vụ án dân sự[7]: Anh Phan Linh T và chị Nông Thị M quen nhau được khoảng một năm thì chị M có thai nên anh chị kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PT ngày 07/8/2017. Tháng 3/2018, chị M sinh con trai và đặt tên là Phan Thế H. Vợ chồng đăng ký khai sinh cho con tại Ủy ban nhân dân xã PT và được cấp giấy khai sinh. Trong quá trình nuôi dưỡng cháu H, anh T nhận thấy cháu không có điểm nào giống anh nên đã quyết định đưa cháu H đi giám định ADN. Theo phiếu kết quả phân tích ADN đã xác định, anh Phan Linh T và cháu Phan Thế H không có quan hệ huyết thống cha - con. Anh T khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định cháu Phan Thế H không phải là con ruột của anh. Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp xác định con cho cha” theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để thụ lý vụ án. Đồng thời, trên cơ sở chứng cứ anh T cung cấp cho Tòa án là phiếu kết quả phân tích ADN xác định anh T và cháu H không có quan hệ huyết thống, Tòa án áp dụng khoản 2 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình” để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T.

Nhận xét:

Thứ nhất, cả hai trường hợp việc dân sự và vụ án trên đều có điểm chung là con được khai sinh trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp của cha mẹ, nhưng cha/mẹ không thừa nhận con và đều có chứng cứ là kết quả giám định ADN theo đó khẳng định giữa cha/mẹ và con không có quan hệ huyết thống. Việc Tòa án giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu của đương sự về việc không công nhận quan hệ cha/mẹ và con là phù hợp. Tuy nhiên, trong cả hai vụ việc trên Tòa án đều áp dụng khoản 2 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là chưa đúng, bởi cần phải hiểu là, điều luật này để điều chỉnh việc không thừa nhận con trong trường hợp con ngoài giá thú khi người mẹ pháp lý và người cha pháp lý không có quan hệ hôn nhân hợp pháp nhưng vì lý do nào đó đã được khai sinh có cha mẹ đầy đủ. Trong hai vụ việc trên, chị N và cháu H đều được cha mẹ pháp lý khai sinh trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp của cha mẹ (cho dù việc khai sinh này có thể vi phạm pháp luật hộ tịch như trường hợp của bà H không có sự kiện sinh đẻ), thì việc không thừa nhận con trong trường hợp này phải áp dụng khoản 2 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định”.

Thứ hai, trong hai vụ việc nêu trên chỉ có một bên cha/mẹ pháp lý yêu cầu Tòa án xác định người con pháp lý không phải là con đẻ để chấm dứt quan hệ cha, mẹ, con; người yêu cầu đều cung cấp được chứng cứ là kết quả giám định AND của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền về việc không có quan hệ huyết thống, tuy nhiên ở trường hợp thứ nhất, Tòa án lại thụ lý việc dân sự, trong khi trường hợp thứ 2 được thụ lý vụ án dân sự để giải quyết. Theo nhóm tác giả, trường hợp này cần phải xác định là có tranh chấp và phải thụ lý vụ án để giải quyết như tình huống thứ hai là hợp lý, bởi vì chưa có sự thống nhất của cả hai bên, bên cha/mẹ từ chối con và người con bị từ chối, chỉ có một bên đưa ra yêu cầu thì chưa thể coi là có sự thỏa thuận của các đương sự để có thể có cơ sở cho Tòa án tiến hành thụ lý theo trình tự việc.

Thứ ba, xác định việc dân sự để thụ lý theo khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong hai tình huống trên cần thiết phải trên cơ sở có sự thống nhất của các bên (cha, mẹ, con) trong việc xác định này (phải có minh chứng để nộp cho Tòa án ngay thời điểm nộp đơn tại Tòa án) và đồng thời phải có kết luận của cơ quan chuyên môn giám định cho kết quả ADN tương ứng với sự thỏa thuận xác định cha, mẹ, con thì khi đó mới có thể có cơ sở cho Tòa án tiến hành thụ lý theo trình tự việc. Nếu chưa có sự thống nhất (trong trường hợp do một bên yêu cầu và không có tài liệu minh chứng có sự thừa nhận) hoặc có sự thống nhất hoặc kể cả các bên cùng yêu cầu nhưng chưa có kết luận giám định ADN thì không thể xem đây là trường hợp không có tranh chấp để thụ lý theo việc. Nói cách khác, Tòa án thụ lý theo trình tự giải quyết vụ án theo khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nếu các bên không có sự thống nhất về việc xác định cha, mẹ, con dù đã có kết luận giám định ADN của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền; hoặc trường hợp có sự thống nhất xác định cha, mẹ, con nhưng chưa có kết luận giám định ADN.

Như đã phân tích ở trên, việc xác định cha, mẹ, con có thể tiến hành giải quyết theo thủ tục vụ án hôn nhân và gia đình hoặc việc hôn nhân và gia đình tùy thuộc vào có tranh chấp hay không. Để tránh những trường hợp áp dụng không đúng thủ tục giải quyết về xác định cha, mẹ, con, thiết nghĩ, Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành văn bản hướng dẫn rõ khi nào thì việc xác định cha, mẹ, con thuộc thẩm quyền của Tòa án quy định tại khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bởi vì, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là luật chung về tố tụng, nhưng được ban hành sau Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 dẫn đến một số quy định của Luật này chưa được thống nhất về việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ xác định thuộc thẩm quyền của Tòa án nếu việc xác định cha, mẹ, con có tranh chấp hoặc có yêu cầu xác định cha, mẹ, con nhưng một bên đã chết. Ngoại trừ trường hợp nhận cha, mẹ, con tự nguyện, các bên còn sống tại thời điểm nhận cha, mẹ, con thuộc thẩm quyền của cơ quan đăng ký hộ tịch theo khoản 1 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong thực tiễn vẫn còn trường hợp từ chối quan hệ cha, mẹ, con mà các bên thỏa thuận được tại thời điểm yêu cầu, có minh chứng để nộp cho Tòa án ngay thời điểm nộp đơn tại Tòa án, có kết luận của cơ quan chuyên môn giám định cho kết quả ADN tương ứng với sự thỏa thuận xác định cha, mẹ, con. Trường hợp này không có tranh chấp và thuộc khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về: “Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình” nhưng lại không được đưa vào khoản 2 của Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, cần điều chỉnh khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để thống nhất với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bảo đảm tính logic và tính bao quát của phạm vi xác định cha, mẹ, con.

3. Đề xuất hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ, con tại Tòa án trong trường hợp không có tranh chấp

Hiện nay, việc xác định cha, mẹ, con tại Tòa án giải quyết theo thủ tục việc dân sự còn bất cập và hạn chế nên cần khắc phục để bảo đảm thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật. Vì vậy, nhóm tác giả đưa ra một số đề xuất cụ thể như sau:

Thứ nhất, Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành văn bản hướng dẫn việc xác định cha, mẹ, con trong những trường hợp cụ thể thuộc thẩm quyền của Tòa án quy định tại khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo hướng: Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục việc dân sự về xác định cha, mẹ, con khi không có tranh chấp và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể bao gồm các trường hợp: (i) Trường hợp người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết; (ii) Trường hợp có yêu cầu về việc xác định cha, mẹ, con mà người có yêu cầu chết; (iii) Trường hợp nhận cha, mẹ, con mà người được nhận là cha, mẹ, con còn sống nhưng người con đang có người cha, người mẹ hợp pháp khác (theo giấy khai sinh); (iv) Trường hợp từ chối quan hệ cha, mẹ, con mà các bên đều còn sống, tự nguyện, không có tranh chấp.

Thứ hai, hoàn thiện quy định pháp luật về thẩm quyền xác định cha, mẹ, con. Để bảo đảm sự việc được giải quyết đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục và thống nhất trong việc xác định thẩm quyền giải quyết, cần sửa đổi, bổ sung Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 theo hướng quy định bao quát hết các trường hợp xác định cha, mẹ, con giải quyết theo thủ tục vụ án dân sự hoặc việc dân sự. Như vậy mới bảo đảm sự thống nhất, phù hợp giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Cụ thể, khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần được sửa đổi, bổ sung như sau: “Tòa án có thẩm quyền giải quyết về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp cha, mẹ, con còn sống trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều luật này, hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này”.

TS. Hoàng Thị Hải Yến

ThS. Nguyễn Sơn Hải

Trường Đại học Luật, Đại học Huế

[1]. Điểm a, d khoản 1 Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2014.

[2]. Điểm b khoản 2 Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2014.

[3]. Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013.

[4]. Nguyễn Biên Thùy, Đặng Thanh Hoa, Thẩm quyền xác định cha, mẹ, con, https://tapchitoaan.vn/tham-quyen-xac-dinh-cha-me-con, truy cập ngày 17/5/2023.

[5]. Nguyễn Biên Thùy, Đặng Thanh Hoa, tlđd.

[6]. Quyết định số 141/2017/QĐST-DS ngày 19/07/2017 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh B về không công nhận một người là con đẻ, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta11315t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 22/5/2023.

[7]. Bản án số 74/2019/HNGĐ-ST ngày 17/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện TP về tranh chấp xác định con cho cha, https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-742019hngdst-ngay-17102019-ve-tranh-chap-xac-dinh-con-cho-cha-115930, truy cập ngày 22/5/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.
Mô hình bệnh viện - dưỡng lão tích hợp: Giải pháp chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Mô hình bệnh viện - dưỡng lão tích hợp: Giải pháp chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, nhu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện và mô hình dưỡng lão chuyên nghiệp ngày càng trở nên cấp thiết. Sự kết hợp giữa y học cổ truyền với phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi được xem là hướng đi chiến lược, phù hợp với định hướng lớn của Đảng, Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
Phát huy tinh thần, khí thế Đại hội XIV của Đảng, quyết tâm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Phát huy tinh thần, khí thế Đại hội XIV của Đảng, quyết tâm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là nền tảng vững chắc để đẩy mạnh công tác chuẩn bị và tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Trên cơ sở phân tích ý nghĩa, những điểm mới và yêu cầu đối với công tác bầu cử, làm rõ các nhiệm vụ trọng tâm về chuẩn bị nhân sự, công tác tuyên truyền, bảo đảm quyền của cử tri, cơ sở vật chất, hoạt động giám sát, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đồng chí Nguyễn Thị Thanh - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội khẳng định quyết tâm của Đảng ủy Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thành công cuộc bầu cử là hành động thiết thực để triển khai kịp thời khí thế, tinh thần chỉ đạo mạnh mẽ của Nghị quyết Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23/01/2026 của Bộ Chính trị.
Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.

Theo dõi chúng tôi trên: