Chủ nhật 13/09/2026 12:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng án lệ trong thông luật Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết phân tích một số vấn đề cơ bản về quy trình xây dựng án lệ trong thông luật Hoa Kỳ và chỉ ra bài học kinh nghiệm để hoàn thiện quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam.

Tóm tắt: Bài viết phân tích một số vấn đề cơ bản về quy trình xây dựng án lệ trong thông luật Hoa Kỳ và chỉ ra bài học kinh nghiệm để hoàn thiện quy trình xây dựng án lệ ở Việt Nam.

Abstract: The article analyzes some major issues with regard to the setting up process of case law in the USA common law and points out experience for completing the process of setting up case law in Vietnam.

1. Quy trình xây dựng án lệ ở Hoa Kỳ

Pháp luật Hoa Kỳ được xây dựng dựa trên nền tảng pháp luật Anh, vì vậy, án lệ Hoa Kỳ cũng mang những đặc trưng cơ bản của án lệ Anh, như việc thừa nhận án lệ là một nguồn luật chính thống bên cạnh luật thành văn. Tuy nhiên, sau khi giành được độc lập vào năm 1776, Liên bang Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quyết định phát triển pháp luật theo một khuynh hướng mới để phù hợp với chế độ chính trị, hoàn cảnh xã hội của một quốc gia Liên bang đa dân tộc, đa tôn giáo, trong đó khuynh hướng xây dựng án lệ dù có những điểm chung trong quy trình xây dựng, phát triển, song cũng có những đặc trưng cơ bản riêng, cụ thể:

(i) Bản chất án lệ của Hoa Kỳ linh hoạt, mềm dẻo hơn án lệ của Anh (ở Hoa Kỳ gồm có 02 loại án lệ, án lệ ràng buộc và án lệ thuyết phục, trong đó án lệ thuyết phục cũng chiếm một khối lượng khá lớn; án lệ Hoa Kỳ được tất cả các Tòa án trích dẫn thường xuyên, nhưng trong các bản án cũng dành chỗ cho quan điểm của các thẩm phán về chính sách chung, đặc biệt những vụ việc mà Tòa án coi là quan trọng; trong án lệ các thẩm phán Hoa Kỳ đề cập nhiều hơn tới hệ quả thực tiễn của một phán quyết phù hợp với nhu cầu chính sách hơn hay là sự kiên định của người thẩm phán trong việc xem xét vụ việc hiện tại).

(ii) Ở Anh, án lệ không chỉ được ban hành để giải thích luật thành văn, mà còn có vai trò trong sáng tạo ra một số quy phạm thành văn, ví dụ những lĩnh vực như: Hợp đồng, bồi thường trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, cũng như hành vi phạm tội nghiêm trọng như giết người và hành hung tập thể là sản phẩm của cơ quan tư pháp chứ không phải là cơ quan lập pháp[1]. Còn ở Hoa Kỳ, án lệ được tạo ra bởi hoạt động giải thích luật thành văn, vì vậy, án lệ giải thích ở Hoa Kỳ có giá trị ràng buộc cao.

Tuy có điểm khác biệt về bản chất án lệ giữa các quốc gia trong hệ thống thông luật, song hầu hết các quốc gia đều có điểm chung trong quy trình xây dựng án lệ:

Thứ nhất, Tòa án có thẩm quyền ban hành án lệ xem xét các bản án của Tòa án cấp dưới, đáp ứng các tiêu chí lựa chọn, đề xuất, phát triển án lệ

Ở Hoa Kỳ có hai hệ thống Tòa án: Tòa án liên bang và Tòa án tiểu bang. Việc lựa chọn đề xuất các bản án để phát triển án lệ ở Hoa Kỳ thuộc về Tòa án liên bang, mà cao nhất trong hệ thống là Tòa án tối cao liên bang. Tất cả các Tòa án liên bang và tiểu bang đều bị ràng buộc bởi quyết định của Tòa án tối cao Hoa Kỳ, lẽ dĩ nhiên là thẩm quyền xét xử của Tòa án tối cao Hoa Kỳ và các Toà án liên bang chỉ mở rộng tới các vấn đề về luật liên bang.

Các Tòa án tiểu bang là nơi lưu trữ thông luật rất lớn. Mặt dù một số bang hiện nay chú trọng nhiều hơn tới luật thành văn và quá trình pháp điển hóa song tất cả các bang đều kế thừa thông luật từ nước Anh và hầu hết các quyết định tại Tòa án tiểu bang đều chiểu theo án lệ. Tất cả các bang đã lập nên một khối lượng khổng lồ án lệ bao gồm tất cả nội dung quan trọng trong thẩm quyền xét xử của họ. Việc này có tác động đáng kể tới công việc của các thẩm phán, công tác thực hành luật, quản lý thông tin pháp luật và cách ứng xử của người dân với pháp luật. Bởi luật liên bang là tối cao trong những lĩnh vực mà nó chi phối nên các Tòa án tiểu bang phải bảo đảm rằng luật tiểu bang phải theo đúng luật liên bang. Vì mục đích này, Tòa án tiểu bang nhìn chung được trao quyền đưa ra quyết định về những vấn đề liên quan tới luật liên bang, nhất là Luật Hiến pháp. Để làm được như vậy, các Tòa án tiểu bang thường tôn trọng quyết định của Tòa án phúc thẩm liên bang và Tòa xét xử nằm trong bang của mình, mặc dù về mặt kỹ thuật, Tòa án tiểu bang chỉ phải tuân theo các quyết định của Tòa án tối cao Hoa Kỳ. Quyết định của Tòa án tiểu bang về luật liên bang có thể được kháng cáo lên Tòa án liên bang[2]. Như vậy, việc đề xuất phát triển án lệ ở Hoa Kỳ không bao gồm phán quyết của Tòa án tiểu bang, nhưng phán quyết của Tòa án cấp này có thể được viện dẫn, tham khảo học hỏi lẫn nhau ở các bang thành viên.

Thứ hai, công bố rộng rãi án lệ trên phương tiện thông tin đại chúng

Ở nhiều nước trên thế giới, việc công bố bản án được thực hiện thường xuyên, liên tục, rộng rãi bằng nhiều phương tiện thông tin đại chúng, kể cả trên hệ thống Internet. Đối với các nước theo hệ thống luật chung Anh - Mỹ (Common Law), những bản án mẫu được tuyển chọn, đăng tải trong các báo cáo tổng hợp án lệ (Law Report) và trở thành án lệ (Case Law) là nguồn của pháp luật. Ví dụ: ở Anh, quy trình một bản án được coi là án lệ sau khi được thẩm phán tuyên có hiệu lực cho đến khi được chính thức xuất bản vào những tuyển tập án lệ chính thức trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Đầu tiên, bản án khi được thẩm phán tuyên sẽ được các báo đưa tin (Báo The Times thường đưa tin khoảng 10% các bản án của Tòa án hàng ngày). Tiếp đó, trước khi bản án được xuất bản trong những tuyển tập án lệ chuyên biệt (Specialiesd Law Reports), một số tạp chí chuyên ngành sẽ đăng tải ngắn gọn nội dung vụ việc đã xử lý trong các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Luật sư tư vấn (The Solicitors), Tạp chí Luật mới (The New Law Journal), sau đó toàn văn sẽ được xuất bản ở một trong hai hoặc cả hai tuyển tập án lệ mang tên “All England Law Reports” và “Weekly Law Reports”. Cuối cùng, bản án có giá trị chính thức sẽ được xuất bản vào hàng loạt tuyển tập án lệ chính thức của nước Anh - Law Reports. Quá trình để một bản án ghi nhận vào trong tuyển tập án lệ chính thức Law Reports thường mất 09 tháng kể từ khi vụ việc đó được xử xong[3].

Riêng ở Hoa Kỳ, khi xét xử các hành vi vi phạm pháp luật và các tranh chấp nảy sinh, các Tòa án cần phải diễn giải luật bằng các bản án trước đó của Tòa án cùng cấp hoặc Tòa án cấp cao hơn. Đây được gọi là nguyên tắc theo quyết định trước hay đơn giản gọi là án lệ, tiền lệ pháp. Tòa án tối cao liên bang công bố các quyết định của Tòa án tối cao thông qua website chính thức (http://www.supremecourt.gov). Các quyết định của Tòa án tối cao liên bang có thể được tìm thấy trong các báo cáo pháp luật của Hoa Kỳ.

Thứ ba, ghi chép án lệ vào tập san

Ở các quốc gia theo truyền thống pháp luật thông luật, việc ghi chép án lệ được trình bày theo các tuyển tập và theo từng lĩnh vực: Ví dụ ở Anh, hàng năm tổng kết công tác xét xử, thượng nghị viện lựa chọn và xuất bản các án lệ thành các tuyển tập theo từng lĩnh vực (được ghi chép trong Law Reports, All England Law Reports, Weekly Law Reports.)

Tại Hoa Kỳ, tập hợp các án lệ được in trong tuyển tập “Trình bày về pháp luật” (Restatement of the Law) của một hiệp hội tư nhân có tên là Viện Luật Hoa Kỳ (American Law Institute).

Thứ tư, về bãi bỏ án lệ

Trong hệ thống Common Law, các án lệ được coi là luật và nó cũng có thể bị bãi bỏ, điều này làm cho thông luật trở nên mềm dẻo và thích nghi được với sự thay đổi của các điều kiện xã hội. Theo lý thuyết, án lệ trong hệ thống Common Law sẽ không tự nhiên mất đi hiệu lực của nó cho đến khi nó bị bãi bỏ. Có hai cách để án lệ có thể bị bãi bỏ: (i) Án lệ có thể bị bãi bỏ bởi chính Tòa án đã tạo ra nó hoặc Tòa án cấp trên; (ii) Án lệ có thể bị bãi bỏ bởi một luật do cơ quan lập pháp thông qua.

Trong cách thức án lệ bị bãi bỏ bởi Tòa án, chúng ta cần phân biệt việc án lệ bị bãi bỏ với việc một bản án, quyết định bị Tòa án cấp trên thay đổi về nội dung trong quá trình tố tụng khi quyết định của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo và xét xử tại Tòa án cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm có thẩm quyền xét lại và thay đổi bản án của Tòa án cấp dưới. Tuy nhiên, hệ quả của việc sửa chữa các nội dung quyết định bị phúc thẩm hoàn toàn khác với việc một án lệ bị bãi bỏ. Vì án lệ là luật nên việc một án lệ bị bãi bỏ có thể dẫn đến hệ quả thay đổi về pháp luật. Vì vậy, thực tiễn về bãi bỏ những án lệ đã lỗi thời, lạc hậu, trái pháp luật trong hệ thống Common Law luôn gắn với việc những án lệ mới được thiết lập để làm cho pháp luật phù hợp hơn với sự thay đổi của đời sống xã hội.

Một nghiên cứu dựa trên các phán quyết của Tòa án tối cao Hoa Kỳ trong 46 năm (từ năm 1960 đến năm 2005) đã chỉ ra ít nhất 74 lần Tòa án này bác bỏ các án lệ của chính nó. Thực tiễn này cho thấy, Tòa án tối cao Hoa Kỳ không ngần ngại thay đổi, sửa chữa những sai lầm qua rất nhiều các án lệ đã bị bãi bỏ. Những ví dụ sau đây sẽ cho thấy Tòa án này bãi bỏ các án lệ như thế nào. Trong đó, nhiều vụ án, phải đợi một thời gian rất dài để Tòa án tối cao Hoa Kỳ tuyên bố từ bỏ sai lầm của họ trong các án lệ:

Ví dụ: Trong án lệ vụ Brown v. Board of Education (1954), Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã bãi bỏ án lệ đã được thiết lập trong vụ Plessy v. Ferguson (1896). Theo án lệ trong vụ án Plessy v. Ferguson (1896), Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa người da trắng và người da đen (cho phép các công ty vận tải đường sắt cung cấp các dịch vụ theo hình thức phân biệt toa tàu dành cho người da trắng khác với toa tàu dành cho người da đen). Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã cho rằng sự phân biệt này không vi phạm Hiến pháp Hoa Kỳ (liên quan đến Tu chính án lần thứ XIV về bình đẳng quyền công dân). Từ án lệ của vụ Plessy v. Ferguson (1896) đã tạo ra một học thuyết về phân biệt đối xử ở trong xã hội Mỹ có tên gọi “phân chia nhưng bình đẳng” (separate but aqual). Quan điểm sai trái này đã chính thức bị bãi bỏ bởi án lệ của vụ án Brown v. Board of Education (1954), Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã phân tích và tuyên bố rằng, bất cứ có sự phân biệt đối xử nào giữa người da trắng và da đen ở nơi công cộng như việc phân chia phòng học hay phương tiện giao thông công cộng… đều là vi phạm Hiến pháp. Những luật nào có sự thừa nhận sự phân biệt “phân chia nhưng bình đẳng” đều được coi là vi phạm Hiến pháp và nó phải bị bãi bỏ. Rõ ràng, trong ví dụ trên đây cho thấy, khi các điều kiện xã hội như quan điểm về bình quyền, quan điểm chính trị, xã hội thay đổi sẽ làm cho các án lệ sai trái có thể bị bãi bỏ[4].

2. Một số bài học kinh nghiệm

Một là, về lựa chọn, đề xuất, phát triển án lệ

Theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ về cơ quan có thẩm quyền ban hành án lệ, thì có án lệ của Tòa án tối cao Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, án lệ Tòa án liên bang, ngoài ra việc đề xuất phát triển án lệ ở Hoa Kỳ không bao gồm phán quyết của Tòa án tiểu bang, nhưng phán quyết của Tòa án cấp này có thể được viện dẫn, tham khảo học hỏi lẫn nhau ở các bang thành viên, hoặc những phán quyết này cũng có thể trở thành án lệ trong phạm vi áp dụng ở Tòa án các tiểu bang, những án lệ này được gọi là án lệ thuyết phục và không có giá trị bắt buộc.

Để đảm bảo tính thực tiễn trong quy định pháp luật hiện hành về rà soát, phát hiện bản án, quyết định để đề xuất phát triển án lệ, Việt Nam nên thực thi quy định này theo hướng mở rộng xem xét lựa chọn các bản án của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ, trong đó, phán quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện cũng có thể được đề xuất phát triển án lệ, tuy nhiên, thực tiễn các án lệ Việt Nam hiện hành đều từ phán quyết của Tòa án nhân dân tối cao.

Hai là, về thời gian trong quy trình lựa chọn, công bố áp dụng án lệ

Pháp luật Việt Nam quy định quy trình lựa chọn, công bố án lệ quá chặt chẽ. Thời gian ngắn nhất tính từ thời điểm ban hành bản án, quyết định gốc đến khi án lệ có hiệu lực là hơn 02 năm. Điều này làm cho án lệ Việt Nam hiện nay quá khiêm tốn, không đáp ứng được yêu cầu là nguồn bổ sung cho pháp luật thành văn. Với hạn chế này, tham khảo kinh nghiệm của Hoa Kỳ trong quy định về thời gian ban hành án lệ linh hoạt, không quá chặt chẽ về thủ tục. Ở Hoa Kỳ, Tòa án có thẩm quyền ban hành án lệ xem xét các bản án của Tòa án cấp dưới, đáp ứng các tiêu chí lựa chọn, đề xuất, phát triển án lệ. Như vậy, Hoa Kỳ không đặt nặng về thời gian từ khâu đề xuất đến thông qua án lệ; quy định tại Hoa Kỳ có tính linh hoạt, mềm dẻo, hướng tới hệ quả thực tiễn của một án lệ mà không chú trọng về thủ tục hình thức. Vì vậy, nguồn án lệ Hoa Kỳ đáp ứng rất tốt thực tiễn điều chỉnh quan hệ xã hội bên cạnh luật thành văn. Đây là một kinh nghiệm hữu ích cho pháp luật Việt Nam trong thời gian tới.

Ba là, kinh nghiệm Hoa Kỳ trong công bố án lệ

Án lệ tại các nước thông luật nói chung và án lệ tại Hoa Kỳ nói riêng dù phương thức công bố có thể khác nhau, tuy nhiên đều có chung một hình thức công bố công khai trên các phương tiện truyền thông. Ví dụ, ở Anh đã thành lập Ủy ban xuất bản báo cáo pháp luật với chức năng ghi chép một cách chi tiết các tình tiết của vụ án và quan điểm của thẩm phán cũng như phán quyết sau cùng của Tòa án. Một số phán quyết sẽ được cơ quan có thẩm quyền cân nhắc lựa chọn để trở thành án lệ và sau đó xuất bản trong các báo cáo pháp luật (Law Reports). Ở Hoa Kỳ, người dân có thể truy cập vào cơ sở dữ liệu điện tử của các Tòa án hoặc những dịch vụ tư nhân như Findlaw, Westlaw để tra cứu các án lệ; hoặc ở Ấn Độ là Indian Supreme Court Law Reporter (ISCLR), All India Reporter (AIR) hay Supreme Court Cases (SCC)[5]. Ở Australia, các tập san án lệ gồm Commonwealth Law Reports (CLR), Australia Law Report (ALR) và Australian Law Journal Reports (ALJR). Những tuyển tập này được công khai trên nhiều phương tiện để toàn dân dễ dàng tham khảo. Quy định này mang lại nhiều hiệu quả trong việc áp dụng án lệ trên thực tiễn, đặc biệt công khai án lệ giúp phát huy hiệu quả tính thực tiễn của án lệ.

Án lệ ở các nước thông luật sau khi được công bố, không phải trải qua một thời gian chờ đợi về tính hiệu lực mà các Tòa án cấp dưới có thể vận dụng ngay để giải quyết các vụ việc có tình tiết giống hay tương tự án lệ đã xuất bản. Quy định này nhằm đáp ứng nhanh chóng kịp thời những quan hệ xã hội mới, những vụ việc mới không có trong luật nhưng lại được hướng dẫn tại án lệ.

Bốn là, về hủy bỏ, thay thế án lệ

Ở Việt Nam hiện nay, chỉ có Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được thực hiện chức năng hủy bỏ, thay thế án lệ, quy định này sẽ mang lại tính cứng nhắc cho thực tiễn án lệ, bởi nếu thời gian tới khi các phán quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thể được thông qua án lệ, trong quá trình áp dụng án lệ nếu phát hiện những án lệ không còn phù hợp với thực tiễn cũng phải theo quy trình đề xuất Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét hủy bỏ, thay thế án lệ. Quy định này cũng sẽ dẫn tới hệ quả thụ động của các cấp Tòa án khác, không phát huy hết năng lực thực tiễn trong việc nghiên cứu, vận dụng loại nguồn án lệ. Với những hạn chế này, nếu tham khảo quy định về hủy bỏ, thay thế án lệ trong thông luật Hoa Kỳ sẽ mang lại hiệu quả cao cho quy định án lệ Việt Nam. Ở Hoa Kỳ, án lệ có thể bị bãi bỏ bởi chính Tòa án đã tạo ra nó hoặc một Tòa án cấp cao hơn Tòa án đã tạo ra án lệ. Như vậy, thẩm quyền hủy bỏ án lệ ở Hoa Kỳ rộng hơn, các Tòa án có thẩm quyền tạo ra án lệ cũng có thể linh hoạt trong việc hủy bỏ án lệ đó.

ThS. Trần Thị Diệu Hương

Đại học Luật thuộc Đại học Huế





[1]. Tham khảo: Giáo trình luật so sánh - Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, tr. 259.

[2]. Tham khảo thêm: Sebastiaan Pompe (2013), “Tóm tắt báo cáo nghiên cứu về áp dụng tiền lệ án ở Indonesia, Hà Lan, Nga và Hoa Kỳ” - Chương trình đối tác tư pháp Việt Nam.

[3]. Tham khảo tại: Đặng Thị Hồng Tuyến, Bùi Thị Minh Trang, Một số vấn đề án lệ ở Anh, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về án lệ, Đại học Luật Hà Nội, 2017, tr. 223.

[4]. Tham khảo: Hoàng Mạnh Hùng (2013), Án lệ trong hệ thống các nguồn pháp luật, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr. 53, 54.

[5]. Tham khảo: Hoàng Thư, Án lệ ở các nước - Bài 2: Trí tuệ thẩm phán thành luật, http://plo.vn/plo/an-le-o-cac-nuoc-bai-2-tri-tue-tham-phan-thanh-luat-351109.html, ngày 17/1/2013 - 05:00.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: