Thứ hai 14/09/2026 18:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2021 - 2026

Năm 2020 là năm cuối kết thúc triển khai Chương trình 585, tuy nhiên, qua đánh giá kết quả thực hiện Chương trình 585 trong thời gian qua cho thấy, việc nghiên cứu, đề xuất và xây dựng Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thực hiện sau năm 2020 là rất cần thiết, nhằm tiếp tục thể chế hóa các chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, nhất là DNNVV, thực hiện hiệu quả chủ trương Chính phủ đồng hành cùng doanh nghiệp, đồng thời, tiếp tục khẳng định dấu ấn của Ngành Tư pháp trong hoạt động hỗ trợ pháp lý cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Qua bài viết, tác giả Trần Minh Sơn và Trần Thị Thu Hà đã lý giải về sự cần thiết xây dựng Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành mới và nhu cầu hỗ trợ pháp lý liên cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn sau năm 2020 (giai đoạn 2021 - 2020).


Thời gian qua, Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2015 - 2020 (Chương trình 585) đã đạt được những thành công nhất định, đã triển khai đồng bộ các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên cả nước, tạo chuyển biến căn bản về nhận thức pháp lý, ý thức pháp luật và thói quen tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp; tạo lập các điều kiện cần thiết phục vụ hoạt động thực thi pháp luật để giúp doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả; góp phần phòng chống rủi ro pháp lý và tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; nâng cao công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp.

1. Sự cần thiết xây dựng Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành mới

Năm 2020 là năm cuối kết thúc triển khai Chương trình 585, tuy nhiên, qua đánh giá kết quả thực hiện Chương trình 585 trong thời gian qua cho thấy, việc nghiên cứu, đề xuất và xây dựng Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành mới cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thực hiện sau năm 2020 là rất cần thiết vì các lý do như sau:

Thứ nhất, hiện nay, nhu cầu về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ngày càng cao. Một trong những mục tiêu cơ bản của Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành là xác lập, tăng cường và nâng cao tri thức pháp luật cho các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có điều kiện và khả năng tự giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mục tiêu này chỉ có thể đạt được thông qua việc tiến hành một cách đồng bộ, có hệ thống và liên tục các giải pháp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 585/QĐ-TTg ngày 05/5/2010 phê duyệt Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp giai đoạn năm 2010 - 2014.

Bên cạnh đó, cụ thể hóa tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã ghi nhận 01 điều khoản về hỗ trợ pháp lý cho DNNVV (khoản 3 Điều 14); Chính phủ đã ban hành Nghị định số 55/2019/NĐ-CP ngày 24/6/2019 về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (thay thế Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp). Ngoài ra, Chính phủ cũng đang chuẩn bị đề xuất sửa đổi một loạt các đạo luật mới liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Phá sản... Trong bối cảnh như vậy, việc tiếp tục thực hiện Chương trình 585 là tạo điều kiện, cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các DNNVV Việt Nam có được sự hỗ trợ về mặt pháp lý từ phía Nhà nước.

Thứ hai, việc tiếp tục thực hiện Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành sau năm 2020 hoặc xây dựng một Chương trình mới nhằm phát huy được vai trò định hướng, phối hợp cùng các Chương trình Hỗ trợ pháp lý của các bộ, ngành, địa phương tạo thành sức mạnh tổng hợp trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc. Trên cơ sở Nghị định số 66/2008/NĐ-CP và Chương trình 585, tính đến hết năm 2018, hầu hết các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã ban hành kế hoạch triển khai công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi quản lý nhà nước của bộ, ngành, địa phương mình. Nghị định số 55/2019/NĐ-CP mới được ban hành, thay thế Nghị định số 66/2008/NĐ-CP nhưng đã nhận được nhiều sự quan tâm của các bộ, ngành và địa phương khi triển khai thực hiện. Các hoạt động này đã phát huy tác dụng, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao kiến thức pháp lý và thói quen sử dụng pháp luật trong sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, sẽ hiệu quả hơn nếu các Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành của các bộ, ngành, địa phương được thực hiện có sự phối hợp với nhau, đặc biệt là với Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành cho DNNVV.

Thứ ba, bên cạnh những kết quả đã đạt được trong việc hỗ trợ pháp lý cho DNNVV, Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành vẫn còn không ít hạn chế. Một số hoạt động chưa thực hiện xong. Một số công việc đã hoàn thành nhưng chưa tạo được kết quả bền vững. Vì vậy, cần tiếp tục thực hiện Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành để các bộ, ngành có điều kiện thực hiện đầy đủ, có hiệu quả mục đích, nhiệm vụ mà Quốc hội đã đề ra trong Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017.

Từ những lý do trên cho thấy, việc tổng kết 10 năm công tác hỗ trợ pháp lý của Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành, cần đánh giá và triển khai các thủ tục báo cáo, xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục thực hiện Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho DNNVV sau năm 2020 là rất cần thiết, nhằm góp phần hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong giai đoạn hội nhập và phát triển như hiện nay. Ngoài ra, cần nghiên cứu đổi mới xây dựng chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp: Tiếp cận từ mô hình quản lý theo kết quả và hướng tới nâng cao sự hài lòng của doanh nghiệp đối với hoạt động của cơ quan nhà nước.

Mô hình quản lý theo kết quả đã được áp dụng ở nhiều địa phương và trong xu hướng hiện nay đều gắn với các chỉ số đo lường chất lượng quản trị địa phương, thích ứng với các địa phương như: PCI, PAPI, ICT Index, SIPAS[1] và các nhóm Chỉ số theo Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020.

Những khó khăn và kiến nghị của doanh nghiệp có thể được khắc phục và thực hiện nếu áp dụng mô hình quản lý theo kết quả, xác định các hình thức hỗ trợ với khung đầu ra và kết quả (kèm theo đó là các chỉ tiêu, chỉ số đo lường) cũng như bố trí nguồn lực tương ứng. Vì vậy, cần xây dựng khung đầu ra và kết quả cho Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành và nâng cao năng lực xây dựng kế hoạch hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ở cấp địa phương gắn với xác định và đầu ra và kết quả cụ thể. Trên cơ sở xác định đầu ra, kết quả, định mức kinh phí phù hợp tiến hành đấu thầu lựa chọn các cơ quan, tổ chức đủ điều kiện cung cấp dịch vụ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

2. Nhu cầu hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn sau năm 2020 (giai đoạn 2021 - 2026)

DNNVV là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trong nền kinh tế (trong số hơn 624.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động hiện nay thì 97,7% DNNVV, nhiều doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ[2]). Loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng, nhất là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo… Cụ thể, về lao động, hàng năm tạo thêm trên nửa triệu lao động mới; sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP… Số tiền thuế và phí mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân đã nộp cho Nhà nước đã tăng 18,4 lần sau 10 năm. Sự đóng góp đã hỗ trợ lớn cho việc chi tiêu vào các công tác xã hội và các chương trình phát triển khác. Do vậy, đã tạo ra 40% cơ hội cho người dân tham gia đầu tư có hiệu quả nhất trong việc huy động các khoản tiền đang phân tán, nằm trong dân cư, để hình thành các khoản vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động của cộng đồng DNNVV còn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục, trong đó có năng lực tiếp cận với các chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế trong kinh doanh. Việc tiếp cận hạn chế này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Phần khách quan do nội tại nền kinh tế nước ta như cải cách hành chính diễn ra còn chậm, chính sách kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, đôi khi gây mất lòng tin cho doanh nghiệp..., tuy nhiên, phần lớn là do (chủ quan) các DNNVV chưa thực sự tìm hiểu các chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế để nâng cao năng lực của chính mình trong kinh doanh. Đây là vấn đề rất đáng lưu tâm, đòi hỏi cả Nhà nước và doanh nghiệp phải có những giải pháp nhằm thay đổi tăng cường năng lực tiếp cận với các thông tin, chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế trong kinh doanh cho doanh nghiệp. Để từng bước phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam khi gia nhập tổ chức WTO, thời gian qua, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các chính sách pháp luật tạo hành lang pháp lý thông thoáng, thuận lợi để cộng đồng DNNVV hoạt động.

Có thể khẳng định hoạt động của cộng đồng DNNVV đã đạt được những kết quả vô cùng quan trọng, nhưng cũng phải đối mặt với những khó khăn thách thức đã và đang nảy sinh trong tình hình mới. Với mục tiêu phát triển 1,5 triệu doanh nghiệp năm 2025[3] (trong đó, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực DNNVV chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc; đầu tư của khu vực này chiếm khoảng 35% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; đóng góp 40% GDP; 30% tổng thu ngân sách nhà nước; tạo thêm 3,5 - 4 triệu việc làm mới). Đây là một nhiệm vụ lớn, đòi hỏi phải có sự chung tay, chung sức của cả hệ thống chính trị, của các bộ, ngành và địa phương. Trong đó, cơ chế hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp phát triển (bên cạnh các cơ chế hỗ trợ tài chính, đất đai, thuế…), vì vậy, trong thời gian tới, nhu cầu hỗ trợ pháp lý cho DNNVV cần tập trung vào các nội dung sau:

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động. Việc đóng góp ý kiến, hoàn thiện pháp luật để ban hành các văn bản, chính sách liên quan đến doanh nghiệp phải được thực hiện theo hướng tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp hoạt động (như trong lĩnh vực đấu thầu, đất đai, thuế, đầu tư, phá sản...).

Thứ hai, tăng cường năng lực tiếp cận thông tin chính sách pháp luật cho doanh nghiệp, nhất là DNNVV. Việc nâng cấp trang thông tin điện tử về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, hiện nay chúng ta chưa có một chuyên trang riêng biệt về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Thời gian qua, các chính sách hỗ trợ cho DNNVV được ban hành rất nhiều, từ Chính phủ đến các bộ, ngành, địa phương, về các lĩnh vực như: Trợ giúp về thuế cho DNNVV, hỗ trợ công nghiệp phụ trợ cho DNNVV, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, chính sách khoa học công nghệ đối với doanh nghiệp,... tuy nhiên, các văn bản này đang nằm tản mạn tại các bộ, ngành, địa phương và thực tế thì các DNNVV Việt Nam rất khó tiếp cận. Vì vậy, đề nghị nâng cấp chuyên trang về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp của Bộ Tư pháp và liên kết đến các trang thông tin của các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp, để cung cấp thông tin một cách có hệ thống các văn bản chính sách pháp luật đến được với doanh nghiệp.

Thứ ba, tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp. Thực tiễn trong những năm qua, nhiều doanh nghiệp hội viên và các hiệp hội địa phương phản ánh những khó khăn trong quá trình thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, do không có nguồn lực, đội ngũ cán bộ không có kỹ năng, không được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, vì vậy, trong nội dung bồi dưỡng tăng cường cho cán bộ thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, đề nghị ngoài việc tập trung đào tạo bồi dưỡng kiến thức pháp luật kinh doanh cho chủ sở hữu, người quản lý doanh nghiệp, cần dành nhiều thời lượng cho chương trình bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp này. Đặc biệt là bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ ở các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; xây dựng các chương trình bồi dưỡng pháp luật bằng video clip nhằm đẩy mạnh hiệu quả và phát huy mạnh mẽ hơn việc tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật.

Thứ tư, về xây dựng mạng lưới tư vấn hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Trong thời gian tới, cần phối hợp với các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp, nhất là Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam để xây dựng mạng lưới tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp theo Nghị định số 55/2019/NĐ-CP. Thông qua các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp để hướng dẫn các hội địa phương làm tốt vai trò đầu mối khi triển khai mạng lưới tư vấn pháp luật tại các địa phương được lựa chọn.

Xây dựng Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp để thực hiện sau năm 2020 (giai đoạn 2021 - 2026) là rất cần thiết, nhằm tiếp tục thể chế hóa các chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, nhất là DNNVV, thực hiện hiệu quả chủ trương của Chính phủ đồng hành cùng doanh nghiệp, đồng thời, tiếp tục khẳng định dấu ấn của Ngành Tư pháp trong hoạt động hỗ trợ pháp lý cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

ThS. Trần Minh Sơn

Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp

TS. Trần Thị Thu Hà

Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh



[1]. PCI: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; PAPI: Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh; ICT Index: Chỉ số công nghệ thông tin và truyền thông; SIPAS: Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính.

[2]. Báo cáo số 150/BC-TCTK ngày 27/9/2019 của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[3]. Theo Quyết định số 1362/QĐ-TTg ngày 11/10/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch phát triển bền vững doanh nghiệp khu vực tư nhân đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: