Thứ ba 17/03/2026 07:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý đối với bị can, bị cáo truy nã vướng mắc bất cập và hướng hoàn thiện

Chúng ta đã biết, tình trạng bị can, bị cáo sau khi phạm tội tìm mọi cách trốn tránh việc xử lý của pháp luật đã gây khó khăn rất nhiều cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; không những vậy việc người phạm tội bỏ trốn trong nhiều trường hợp họ còn gây ra nhiều hậu quả xấu khác cho xã hội. Vì thế, hoạt động truy nã bị can, bị cáo nhằm phát hiện truy tìm, bắt giữ họ để các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý theo pháp luật nhằm trừng trị, cải tạo, giáo dục ngăn ngừa hạn chế đến mức thấp nhất hệ quả xấu mà họ có thể tiếp tục gây ra cho xã hội.

Tuy nhiên, hiện nay trong thực tiễn hoạt động truy tố và xét xử xảy ra một bất cập mà giữa hai cơ quan Viện kiểm sát và Tòa án đang có những cách hiểu và áp dụng khác nhau trong một số trường hợp liên quan đến việc tính thời hiệu cho các bị can đang bị truy nã mà họ ra đầu thú hoặc bị bắt giữ. Hệ quả của việc hiểu và áp dụng khác nhau này liên quan đến hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra trước đó trong việc thực hiện các hoạt động tố tụng về truy nã bị can, bị cáo. Những vướng mắc và nhận thức không thống nhất giữa Viện kiểm sát với Tòa án và giữa Tòa án sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đó là cách hiểu về tính có căn cứ, có hiệu lực của hoạt động truy nã bị can để từ đó xác định việc có hay không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị can trong các trường hợp bị can, bị cáo bị truy nã ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.


Trước đây, tại Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1999 quy định về việc truy nã bị can: (i) Khi bị can trốn hoặc không biết bị can đang ở đâu thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã bị can; (ii) Quyết định truy nã bị can phải ngày giờ tháng năm địa điểm ra quyết định truy nã; họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, tuổi, nơi cư trú của bị can, đặc điểm để nhận dạng bị can, dán ảnh kèm theo (nếu có) tội phạm mà bị can đã bị khởi tố; (iii) Quyết định truy nã bị can được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người phát hiện, bắt người bị truy nã.

Hiện nay, tại Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về cơ bản vẫn giữ nguyên các quy định trên và có quy định bổ sung Quyết định truy nã bị can được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và sau khi bắt được bị can theo quyết định truy nã thì Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã phải ra quyết định đình nã. Quyết định đình nã được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo công khai.

Như vậy, việc thực hiện hoạt động tố tụng về truy nã bị can được bắt đầu từ sau khi một người thực hiện hành vi phạm tội và bỏ trốn hoặc sau khi thực hiện hành vi phạm tội dù không bỏ trốn nhưng cơ quan điều tra không biết người đó đang ở đâu và cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can. Để biết được một người sau khi phạm tội họ bỏ trốn hoặc không biết họ đang ở đâu thì bắt buộc cơ quan điều tra phải tiến hành các hoạt động điều tra, lập các biên bản về hoạt động tố tụng, tiến hành xác minh để kết luận việc người thực hiện hành vi phạm tội họ đã bỏ trốn hoặc không biết họ đang ở đâu. Đây là một hoạt động bắt buộc còn việc tiến hành các hoạt động điều tra như thế nào để có căn cứ chứng minh là họ đã bỏ trốn thì nhất thiết phải theo một quy định về trình tự bắt buộc, phải có tính pháp lý để ra quyết định truy nã đối với bị can. Chúng tôi xin minh chứng bằng ví dụ thực tế sau đây để chúng ta hình dung:

Thực hiện kế hoạch công tác tuần tra việc tham gia giao thông trên tuyến Quốc lộ 5 thuộc địa phận tỉnh HD. Tối ngày 22/5/2007 các đồng chí trong Đội cảnh sát giao thông Công an tỉnh HD đã phát hiện 05 thanh niên tổ chức đua xe trái phép, sau khi chúng thực hiện hành vi đua xe, tổ công tác đã bắt giữ và yêu cầu các đối tượng đưa xe về trụ sở cơ quan Công an tỉnh HD để làm việc, nhưng đã bị đối tượng chống đối quyết liệt và sau đó bọn chúng lên xe bỏ chạy. Hậu quả: Nhiều đồng chí trong tổ công tác bị xây sát, tổ công tác không hoàn thành nhiệm vụ. Ngày hôm sau theo cung cấp thông tin của quần chúng nhân dân về các đối tượng đua xe trái phép tối 22/5/2007 Công an tỉnh HD đã bắt giữ các đối tượng trên. Hành vi của 05 thanh niên đã bị khởi tố vụ án và khởi tố bị can về các tội “Đua xe trái phép[1]” và “Chống người thi hành công vụ”[2]. Các bị can không bị bắt tạm giam mà bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Nguyễn Văn A và Trần Văn B là 02 bị can trong vụ án đã bỏ trốn. Ngày 30/5/2007, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã đối với hai bị can trên. Đến ngày 05/6/2007, Cơ quan điều tra tiếp tục xuống làm việc với địa phương và gặp gia đình hai bị can này vẫn xác định hai bị can trên không có mặt ở gia đình, địa phương xác định hai bị can này đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã lập biên bản xác minh và niêm yết quyết định truy nã hai bị can tại Ủy ban nhân dân xã nơi hai bị can cư trú.

Ngày 14/01/2008 ba trong số các bị can trên đã bị Tòa án xét xử và tuyên phạt hình phạt tù về tội “Đua xe trái phép” và tội “Chống người thi hành công vụ”. Ngày 29/10/2015, hai bị can Nguyễn Văn A và Trần Văn B đã ra đầu thú. Ngày 29/10/2015 Cơ quan điều tra đã ra quyết định phục hồi điều tra đề nghị truy tố đối với hai bị can này.

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về việc xác định tính có căn cứ của quyết định truy nã và có hay không áp dụng thời hiệu đối với hai bị can Nguyễn Văn A và Trần Văn B.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Cả hai bị can trong vụ án này đã có hành vi phạm tội cùng với các bị cáo khác. Ba trong số năm bị cáo đã bị Tòa án xét xử và kết án, hai bị can bỏ trốn đã bị cơ quan điều tra ra quyết định truy nã. Tuy nhiên, theo quy định về truy nã bị can thì cả hai bị can đều không biết mình có lệnh truy nã; cơ quan điều tra không gửi quyết định truy nã cho chính quyền địa phương; không thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người phát hiện bắt giữ người bị truy nã. Thời gian từ khi các bị can phạm tội ngày 22/5/2007 đến ngày 22/5/2012 là 05 năm. Đến ngày 29/10/2015 các bị can mới ra đầu thú. Đối chiếu với quy định tại Điều 23 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) với hai bị can này đã hết. Do vậy, sau khi các bị can đầu thú thì cơ quan điều tra phải ra quyết định đình chỉ điều tra đối với hai bị can này theo quy định tại khoản 5 Điều 107 và khoản 2 Điều 165 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

Quan điểm thứ hai và cũng là quan điểm của chúng tôi cho rằng: Cả hai trường hợp trên đều không được tính thời hiệu để xem xét TNHS, bởi lẽ:

Cả hai bị can đều là người đã thực hiện hành vi phạm tội với 03 bị cáo đã bị xét xử. Việc các bị can có hay không biết mình có lệnh truy nã không phải là căn cứ để có hay không tính thời hiệu truy cứu TNHS đối với họ theo quy định tại Điều 23 Bộ luật Hình sự năm 1999. Việc truy nã bị can hay không truy nã bị can là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng mà cụ thể là Cơ quan điều tra. Để ra quyết định truy nã cơ quan điều tra phải tiến hành các hoạt động điều tra. Còn có hay không tính thời hiệu truy cứu TNHS thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 23 Bộ luật Hình sự năm 1999, cụ thể là:

Thời hiệu truy cứu TNHS[3] được tính như sau: (i) Năm năm đối với các tội ít nghiêm trọng; mười năm đối với các tội nghiêm trọng; (ii) Mười lăm năm đối các với tội rất nghiêm trọng; (iii) Hai mươi năm đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định trên người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù, thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại từ ngày phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ.

Như vậy, đối chiếu với quy định của điều luật này thì trong vụ án trên sau khi phạm tội hai bị can đã bỏ trốn khỏi địa phương, đi đâu, làm gì chính quyền địa phương và gia đình đều không rõ. Bản thân các bị cáo ý thức được sau khi phạm tội bỏ trốn là vi phạm pháp luật. Cho nên, muốn hưởng sự khoan hồng của pháp luật thì các bị can đã ra đầu thú. Tuy Cơ quan điều tra không gửi Quyết định truy nã cho chính quyền địa phương, nhưng trước khi ra quyết định truy nã Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định hai bị can sau khi phạm tội đã bỏ trốn. Đồng thời với việc xác minh Cơ quan điều tra cũng đã niêm yết quyết định truy nã tại chính quyền địa phương. Như vậy, việc niêm yết quyết định truy nã tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, đây cũng là một hình thức chuyển giao quyết định truy nã bị can cho chính quyền địa phương. Cho nên trong trường hợp này được coi là quyết định truy nã đã được gửi cho chính quyền địa phương.

Còn việc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, theo chúng tôi luật chỉ quy định quyết định truy nã được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người phát hiện, bắt, giữ đối tượng truy nã. Do pháp luật không quy định cụ thể việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nào, thông báo trong phạm vi rộng hay hẹp, thông báo toàn cầu, toàn quốc, khu vực hay nội tỉnh nơi bị can cư trú... Do vậy, việc niêm yết quyết định truy nã tại Ủy ban nhân dân xã cũng là một hình thức thông báo công khai thông tin về đối tượng truy nã; ngoài ra bằng các biện pháp nghiệp vụ cơ quan điều tra có thể theo dõi, nắm bắt các đối tượng đang có lệnh truy nã để mọi người bắt giữ. Cho nên, trong trường hợp này hai bị can Nguyễn Văn A và Trần Văn B không được hưởng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 23 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Một nội dung nữa đó là Bộ luật Tố tụng hình sự các năm 1988, 2003 và 2015 chỉ quy định việc truy nã bị can chứ không có điều luật nào quy định việc truy nã bị cáo. Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định căn cứ truy nã bị can gồm 02 căn cứ là bị can trốn hoặc không biết bị can đang ở đâu, quy định những thủ tục cần phải có trong việc truy nã bị can và hình thức thông báo quyết định truy nã bị can. Như vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ điều chỉnh đối tượng bị truy nã là bị can trong giai đoạn điều tra hoặc trong giai đoạn truy tố. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 169 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm b khoản 1 Điều 247 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát cũng có quyền tạm đình chỉ khi không biết bị can đang ở đâu và yêu cầu cơ quan điều tra ra lệnh truy nã bị can. Trong trường hợp này, cơ quan điều tra áp dụng Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 để truy nã bị can là đúng luật khi có một trong hai căn cứ trên để yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can.

Còn đối với bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử, Điều 187 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: Nếu bị cáo trốn tránh thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị cáo và điểm b khoản 1 Điều 281 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi không biết rõ bị can, bị cáo đang ở đâu mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử; trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can, bị cáo trước khi tạm đình chỉ vụ án. Tuy nhiên, cả Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đều chưa có điều luật quy định về việc cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị cáo phải được tiến hành như thế nào. Với quy định này thì khi Toà án tạm đình chỉ vụ án do bị cáo trốn vẫn thuộc thẩm quyền trách nhiệm thụ lý giải quyết của Toà án, Toà án không trả hồ sơ cho Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử chỉ có văn bản yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị cáo. Điều đó có nghĩa là bị cáo vẫn là tư cách bị cáo mà không trở lại thành bị can để áp dụng theo Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 để thực hiện việc truy nã bị can. Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã ghi là truy nã bị can chứ không ghi truy nã bị cáo trong trường hợp này.

Trên thực tiễn, nếu Hội đồng xét xử yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị cáo thì thường cơ quan điều tra áp dụng tương tự như trường hợp truy nã bị can, coi Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về truy nã bị can là chuẩn mực pháp lý để truy nã bị cáo với lý do tương tự. Khi truy nã bị cáo, cơ quan điều tra ghi căn cứ trong quyết định truy nã là Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 như đã phân tích ở trên. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không quy định áp dụng tương tự trong trường hợp truy nã bị cáo, vì vậy khi cơ quan điều tra nhận được yêu cầu truy nã của Hội đồng xét xử đối với bị cáo bỏ trốn thì cơ quan điều tra không thể căn cứ vào Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 để truy nã bị cáo được, vì Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chỉ điều chỉnh việc truy nã bị can mà thôi. Giả sử cơ quan điều tra không căn cứ vào Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 mà căn cứ vào đoạn 3 khoản 1 Điều 187 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 để truy nã bị cáo thì cũng không đúng. Bởi vì, đoạn 3 khoản 1 Điều 187 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chỉ nói về lý do của việc Hội đồng xét xử yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị cáo. Trong khi đó việc truy nã bị cáo ngoài việc xác định căn cứ truy nã còn phải quy định trình tự, thủ tục, nội dung của việc truy nã, để thể hiện tính đặc thù của việc truy nã bị cáo. Những yêu cầu đó không có điều luật nào quy định. Nếu việc truy nã bị cáo được tiến hành giống như việc truy nã bị can thì Điều 187 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 cần phải dẫn chiếu Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 để làm căn cứ cho việc áp dụng tương tự Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 trong việc truy nã bị cáo và lúc đó cơ quan điều tra có căn cứ ghi trong quyết định truy nã theo yêu cầu của Hội đồng xét xử là truy nã bị cáo.

Để giải quyết bất cập này, ngày 07/01/1995 Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên ngành số 03/TTLN hướng dẫn thực hiện một số quy định về truy tố bị can, bị cáo trong giai đoạn truy tố và xét xử, theo đó, việc truy nã bị cáo được tiến hành theo quy định của ngày 07/01/1995 về truy nã bị can. Tuy nhiên, hiện nay Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 lại vẫn không quy định việc truy nã bị cáo mặc dù đã có Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09/10/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự về truy nã bị can, bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Từ những vướng mắc trên, chúng tôi đề xuất và kiến nghị một số nội dung về việc xác định tính hợp pháp, tính có căn cứ của quyết định truy nã đối với các trường hợp bị can đã thực hiện hành vi phạm tội đang bỏ trốn hoặc không biết ở đâu đang bị truy nã, nếu họ ra đầu thú hoặc bị bắt giữ thì sẽ giải quyết như sau:

Một là, đối với các trường hợp bị can phạm tội ở thời điểm chưa có Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành về truy nã, nếu nay họ ra đầu thú hoặc bị bắt giữ thì chỉ cần xác định họ đã thực hiện hành vi phạm tội, có bỏ trốn và có quyết định truy nã;

Hai là, đối với các trường hợp bị can phạm tội sau khi có Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và năm 2003 bị truy nã, nếu nay họ ra đầu thú hoặc bị bắt giữ thì phải có đầy đủ các thủ tục quy định về truy nã bị can quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự (Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003);

Ba là, Thông tư liên tịch 03/1995 không áp dụng trong giai đoạn khởi tố điều tra mà chỉ áp dụng truy nã bị can trong giai đoạn truy tố và xét xử;

Bốn là, trong mọi trường hợp truy nã sau thời điểm Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 có hiệu lực thì đều phải thông báo quyết định truy nã trên các phương tiện thông tin đại chúng (ít nhất là trên hai phương tiện thông tin đại chúng);

Năm là, các quy định về truy nã bị can, bị cáo quy định tại Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09/10/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và luật thi hành án hình sự về truy nã không áp dụng cho các trường hợp truy nã trước khi có thông tư này.

Sáu là, các trường hợp truy nã bị cáo thực hiện theo các quy định về truy nã bị can như Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Hiện nay, trong cả nước có hàng ngàn bị can đang trốn tránh ngoài vòng pháp luật. Vì vậy, để giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng quá trình giải quyết đối với các nội dung còn vướng mắc bất cập trong việc truy nã bị can và xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự liên quan tính có căn cứ, tính hiệu lực của các hoạt động truy nã bị can của cơ quan điều tra trước đó cũng như việc truy nã bị cáo quy định còn bất cập trong hai Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và 2015. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền cần nhanh chóng hướng dẫn kịp thời khẩn trương vì hiện nay các Tòa án và Viện kiểm sát các cấp vẫn đang hàng ngày phải giải quyết các vụ án có liên quan đến các quy định về truy nã quy định trong hai Bộ luật tố tụng hình sự này.

Vũ Thành Long

Tòa án quân sự Trung ương


[1] Điều 207 Bộ luật Hình sự năm 1999

[2] Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999

[3] Tại điều 23 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung ngày 19/06/2009

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.

Theo dõi chúng tôi trên: