Thứ năm 11/12/2025 03:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý tài sản bảo đảm theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và yêu cầu bảo đảm thực thi

Tóm tắt: Bài viết này phân tích về cơ chế xử lý tài sản bảo đảm theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và chỉ ra những vấn đề cần hoàn thiện nhằm thực thi hiệu quả các quy định của Bộ luật Dân sự về giao dịch bảo đảm.


Abstract: This paper analyzes the mechanism of handling secured assets according to the Civil Code of 2015 and points out issues to be completed in order to effectively implement provisions of the Civil Code on secured transactions.

1. Nhận diện về xử lý tài sản bảo đảm

Tài sản bảo đảm là đối tượng của giao dịch bảo đảm trong quan hệ dân sự đối với nghĩa vụ cần được bảo đảm. Ở nước ta hiện nay, khái niệm xử lý tài sản bảo đảm được quy định cụ thể ở một số văn bản pháp luật chuyên ngành. Theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008, xử lý tài sản bảo đảm là hoạt động khi cơ quan có thẩm quyền xử lý xong tài sản cầm cố, thế chấp thông qua hình thức bán đấu giá tài sản, sau khi trừ đi các chi phí thi hành án, số tiền còn lại sẽ được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm[1]. Còn theo khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật. Việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, mua bán nợ của tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam, thì xử lý tài sản bảo đảm là quyền của bên nhận bảo đảm được thực hiện khi: (i) Nợ đến hạn (nghĩa vụ đến hạn phải thực hiện) nhưng bên có nghĩa vụ không trả được nợ hay không thực hiện được nghĩa vụ và không đạt được thỏa thuận khác với bên nhận bảo đảm; (ii) Xử lý tài sản bảo đảm là hành vi thực hiện quyền theo hợp đồng bảo đảm.

Các hành vi khác để xử lý nợ do tổ chức tín dụng thực hiện như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, mua bán nợ là thực hiện quyền theo quy định của pháp luật mà không thuộc phạm vi xử lý tài sản bảo đảm, mặc dù, về mục đích thì xử lý tài sản bảo đảm hay các biện pháp khác đều nhằm thu hồi khoản nợ cho bên nhận bảo đảm. Tuy nhiên, khi bên nhận bảo đảm thực hiện quyền theo hợp đồng để xử lý tài sản bảo đảm thì trình tự, thủ tục phải tiến hành theo quy định của pháp luật. Tóm lại, xử lý tài sản bảo đảm là quyền theo hợp đồng, theo đó, bên có quyền (bên nhận bảo đảm) thực hiện các biện pháp đối với tài sản bảo đảm để thu hồi nợ (gốc và lãi nếu có).

2. Cơ chế xử lý tài sản bảo đảm trong Bộ luật Dân sự năm 2015

2.1. Về tài sản bảo đảm

Khoản 1 Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm”, trừ trường hợp cầm giữ tài sản và bảo lưu quyền sở hữu. Việc sử dụng từ “tài sản” của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã mở rộng phạm vi và bao quát các đối tượng có thể được sử dụng trong giao dịch dân sự như vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Quy định này làm gia tăng cơ hội tiếp cận vốn cho các bên trong các giao dịch dân sự nói chung và trong các giao dịch dân sự có bảo đảm nói riêng. Việc sử dụng thuật ngữ chung “tài sản” mà không liệt kê từng loại tài sản cho phép khai thác tối đa các loại tài sản vào biện pháp bảo đảm và đây là hướng đi cần thiết đối với Bộ luật Dân sự[2]. Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm. Đối với trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất thì bên bảo đảm phải có quyền sử dụng đất. Trong trường hợp bên bảo đảm dùng tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình vào các giao dịch dân sự để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản. Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được. Trong trường hợp này, pháp luật hiện hành không đòi hỏi việc sử dụng tài sản vào giao dịch bảo đảm phải mô tả tỉ mỉ, rõ ràng, cụ thể về tài sản bảo đảm mà chỉ yêu cầu tài sản đó phải “xác định được”.

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản bảo đảm có thể có giá trị lớn hơn, bằng hoặc có giá trị nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm[3]. Trường hợp tài sản bảo đảm có giá trị nhỏ hơn nghĩa vụ cần bảo đảm thì vẫn được pháp luật chấp nhận với thỏa thuận và đồng ý từ bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm. Quy định này được cho là góp phần thúc đẩy các giao dịch dân sự. Bởi vì, nếu trong trường hợp tài sản bảo đảm bằng hoặc lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm thì quyền lợi của người nhận bảo đảm sẽ được “chắc chắn hơn” và giao dịch được thực hiện một cách dễ dàng. Còn trong trường hợp tài sản bảo đảm nhỏ có giá trị hơn nghĩa vụ cần bảo đảm thì phần nghĩa vụ chỉ được bảo đảm một phần tương ứng với giá trị tài sản bảo đảm, phần nghĩa vụ còn lại không có bảo đảm. Tuy nhiên, bên nhận bảo đảm chấp nhận rủi ro, đồng ý với thỏa thuận của bên bảo đảm. Đây cũng là quy định mới thể hiện pháp luật dân sự mở rộng sự công nhận, tôn trọng tự do thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ dân sự.

2.2. Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm

Theo Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015 các trường hợp xử lý tài sản gồm: (i) Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; (ii) Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật; (iii) Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định. Các quy định này được kế thừa từ các quy định về xử lý tài sản bảo đảm trong Bộ luật Dân sự năm 1995 và năm 2005, đặc biệt là từ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm[4]. Nếu trong Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định việc xử lý tài sản xảy ra trong trường hợp các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định, thì tại Bộ luật Dân sự năm 2015 đã được nâng lên thành các bên thỏa thuận hoặc “luật” có quy định. Điều này phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và tương thích với nguyên tắc quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng[5].

2.3. Thông tin về xử lý tài sản bảo đảm

Thông báo về việc xử lý tài sản là rất quan trọng, nhưng phải đến Bộ luật Dân sự năm 2015 mới quy định nội dung này. Theo khoản 1 Điều 300 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác”. Như vậy, Bộ luật đã quy định rõ chủ thể phải thực hiện hoạt động thông báo việc xử lý tài sản bảo đảm là bên nhận bảo đảm. Còn bên nhận thông tin là bên bảo đảm. Trong trường hợp tài sản bảo đảm được sử dụng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, thì người nhận thông tin về việc xử lý tài sản bảo đảm còn là những bên nhận bảo đảm khác. Hình thức thông tin là thông báo bằng văn bản. Tuy nhiên, việc quy định chỉ liệt kê hai đối tượng nhận được thông tin xử lý tài sản là chưa hợp lý, bởi vì ngoài hai đối tượng là bên bảo đảm và bên cùng nhận bảo đảm khác thì những người có quyền và nghĩa vụ liên quan cũng cần biết thông tin tài sản được xử lý để thực hiện nghĩa vụ.

Khoản 1 Điều 300 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định, đối với tài sản bảo đảm có nguy cơ bị hư hỏng dẫn đến bị giảm sút giá trị hoặc mất toàn bộ giá trị thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý ngay, đồng thời phải thông báo cho bên bảo đảm và các bên nhận bảo đảm khác về việc xử lý tài sản đó. Trong trường hợp bên nhận bảo đảm không thông báo cho các đối tượng nêu trên về việc xử lý tài sản bảo đảm mà gây ra thiệt hại đối với tài sản bảo đảm thì phải bồi thường cho bên bảo đảm hoặc người cùng nhận bảo đảm khác.

2.4. Giao tài sản để xử lý khi phát sinh nghĩa vụ

Điều 301 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này. Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác”. Điều này có nghĩa là khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hoặc bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ thì người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản cho bên nhận bảo đảm để xử lý. Nhưng nếu người đang giữ tài sản không giao tài sản cho bên nhận bảo đảm xử lý thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tuy nhiên, quy định này lại “làm khó” cho bên nhận bảo đảm. Bởi vì, trên thực tiễn việc xử lý tài sản bảo đảm chỉ diễn ra thuận lợi khi bên nhận bảo đảm hoặc người đang cầm giữa tài sản bảo đảm tự nguyện giao tài sản bảo đảm. Trường hợp các bên bảo đảm hoặc người cầm giữ tài sản không tự nguyện giao tài sản bảo đảm để bên nhận bảo đảm xử lý thì họ sẽ không còn sự lựa chọn nào khác ngoài “yêu cầu Tòa án giải quyết” theo quy định của pháp luật. Như vậy, bên nhận bảo đảm sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện quyền đòi nợ của mình.

2.5. Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm

Trong xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm đều mong muốn tài sản được xử lý với giá cao nhất để bù trừ vào nghĩa vụ của bên bảo đảm. Tuy nhiên, không phải lúc nào mong muốn của bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm cũng giống nhau. Nhiều trường hợp bên nhận bảo đảm muốn xử lý nhanh tài sản bảo đảm nên xác định giá tài sản thấp. Ngược lại, bên bảo đảm lại mong muốn tài sản bảo đảm phải được xử lý với giá cao để bù trừ được nhiều nghĩa vụ mà họ phải thực hiện. Vì vậy, việc xác định phương thức xử lý tài sản bảo đảm để hài hòa lợi ích giữa các bên là rất quan trọng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015, có ba phương pháp để xử lý tài sản bảo đảm cơ bản mà các bên trong hợp đồng có thể thực hiện đó là:

(i) Bán tài sản bảo đảm (được thực hiện qua phương thức tự bán hoặc bán đấu giá):

- Bên nhận bảo đảm có quyền bán tài sản bảo đảm trong trường hợp hợp đồng cầm cố, thế chấp có nội dung thỏa thuận bên nhận bảo đảm có quyền bán tài sản bảo đảm. Đây là phương thức được sử dụng nhiều nhất trong thực tế xử lý tài sản bảo đảm. Trong các nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm, pháp luật hiện nay coi trọng sự thỏa thuận của các bên trong việc sử lý tài sản, đó là: (i) Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận của các bên, nếu không có thoả thuận thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật; (ii) Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận của bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm, nếu không có thoả thuận hoặc không thoả thuận được thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật6.

- Bán đấu giá chỉ áp dụng trong trường hợp bắt buộc theo quy định của pháp luật hoặc khi các bên không có thỏa thuận hay không thỏa thuận được về phương thức xử lý tài sản. Khoản 1 Điều 304 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Việc bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản”. Hiện nay, việc bán đấu giá tài sản bảo đảm phải được thực hiện thông qua một tổ chức bán đấu giá. Tổ chức bán đấu giá là một trung tâm dịch vụ công trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc là doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề dịch vụ bán đấu giá tài sản. Tổ chức bán đấu giá phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản bảo đảm. Đối với trường hợp khi các bên không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm, nhưng có thể xác định được giá cụ thể, rõ ràng trên thị trường thì người xử lý tài sản được bán theo giá thị trường mà không phải qua thủ tục bán đấu giá, đồng thời phải thông báo cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác (nếu có)[7].

(ii) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm: Theo quy định tại Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2015 có hai trường hợp bên nhận bảo đảm có thể nhận tài sản bảo đảm để thay thế việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm: (a) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm nếu có thỏa thuận khi xác lập giao dịch bảo đảm; (b) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ khi bên bảo đảm đồng ý bằng văn bản. Ngoài ra, bên bảo đảm có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên nhận bảo đảm.

Điểm khác biệt giữa phương thức bán tài sản bảo đảm với phương thức nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế việc thực hiện nghĩa vụ là trong trường hợp bán tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm có thể bán tài sản bảo đảm cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào. Ngược lại, trong trường hợp nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế việc thực hiện nghĩa vụ thì bên nhận tài sản chính là bên nhận bảo đảm.

Tuy nhiên, khoản 1 Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định phương thức xử lý tài sản trong trường hợp cầm cố, thế chấp mà không quy định về phương thức xử lý tài sản đối các biện pháp bảo đảm khác. Điều này xuất phát từ chỗ, cầm cố, thế chấp là hai biện pháp phát sinh quyền xử lý tài sản trong 09 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Còn các biện pháp bảo đảm khác nếu nghĩa vụ phát sinh thì tài sản sẽ thuộc về bên nhận bảo đảm (đặt cọc, ký cược, ký quỹ); hoặc không phát sinh tài sản bảo đảm (tín chấp, bảo lãnh); hoặc không có việc xử lý tài sản bảo đảm (bảo lưu quyền sở hữu, cầm giữ tài sản).

(iii) Bên nhận bảo đảm nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ đối với bên thứ ba.

2.6. Thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản bảo đảm và thứ tự ưu tiên thanh toán

Khoản 1 Điều 307 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp được thanh toán theo thứ tự ưu tiên theo thứ tự sau đây:

(i) Chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp.

(ii) Theo thỏa thuận của các bên. Các bên được nhận tiền thanh toán có thể thỏa thuận thứ tự được ưu tiên thanh toán. Trường hợp thế quyền trong giao dịch bảo đảm thì bên thế quyền chỉ được ưu tiên thanh toán trong phạm vi bảo đảm của bên mà mình thế quyền.

(iii) Nếu các biện pháp bảo đảm đều phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng.

(iv) Nếu có biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba và có biện pháp bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba được thanh toán trước.

(v) Nếu các biện pháp bảo đảm đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm. Ngoài ra, khoản 2 và khoản 3 Điều 308 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cụ thể việc xử lý các khoản thanh toán từ tài sản bảo đảm được xử lý[8].

Các quy định này được kế thừa từ Điều 338 (Thanh toán tiền bán tài sản cầm cố) và Điều 355 (Xử lý tài sản thế chấp) của Bộ luật Dân sự năm 2005.

3. Một số giải pháp nhằm thực thi hiệu quả các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về xử lý tài sản bảo đảm

Để các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về giao dịch bảo đảm nói chung và về xử lý tài sản nói riêng áp dụng minh bạch, thuận tiện, Chính phủ cần ban hành Nghị định về giao dịch bảo đảm mới, trong đó, về xử lý tài sản bảo đảm cần quy định theo hướng sau:

Thứ nhất, về tài sản bảo đảm, điểm c khoản 2 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định: “Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất”. Quy định này đã gây khó khăn đối với người có nhu cầu thế chấp chính tài sản hình thành trong tương lai không thực hiện được, vì trên thực tế đa số các tài sản hình thành trong tương lai đều gắn với quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó, việc không cho phép thế chấp tài sản hình thành trong tương lai là quyền sử dụng đất dẫn đến bên nhận thế chấp khó khăn trong việc xử lý phần giá trị quyền sử dụng đất này khi xử lý tài sản bảo đảm. Vì vậy, cần có quy định phân biệt đối với tài sản hình thành trong tương lai không gắn với quyền sử dụng đất và tài sản hình thành trong tương lai gắn với quyền sử dụng đất, cách thức xác lập đối kháng với người thứ ba khi thế chấp tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất hình thành trong tương lai mà không thế chấp quyền sử dụng đất.

Thứ hai, về thông tin xử lý tài sản bảo đảm, cần có quy định cụ thể về “thời gian hợp lý” được quy định tại Điều 300 Bộ luật Dân sự năm 2015. Thời gian cụ thể có thể được quy định trong một khung thời gian được phân loại theo các đối tượng dựa vào vị trí địa lý. Ngoài ra, Nghị định mới cũng cần có quy định chi tiết về đối tượng mà bên xử lý tài sản bảo đảm có nghĩa vụ phải thông báo thông tin bao gồm bên bảo đảm và các bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Bên cạnh đó, Nghị định cũng cần bổ sung chế tài áp dụng đối với bên xử lý tài sản bảo đảm không thực hiện nghĩa vụ thông báo.

Thứ ba, cần có quy định về chế tài xử phạt đối với hành vi không tự giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm trong trường hợp nghĩa vụ phát sinh khi có điều kiện thực hiện, tránh tình trạng bên bảo đảm cố tình chây ì, gây khó khăn cho bên nhận bảo đảm để kéo dài thời gian.

Tóm lại, các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về xử lý tài sản bảo đảm đã có nhiều điểm tiến bộ, phù hợp với cuộc sống hiện nay. Tuy nhiên để các quy định này phát huy hiệu lực và hiệu quả trong giao dịch dân sự, đòi hỏi Chính phủ, các Bộ có liên quan cần có văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành theo phương châm “cụ thể, minh bạch, dễ hiểu, dễ thực hiện, thuận tiện cho công tác thanh tra, kiểm tra”.

TS. Võ Đình Toàn

& Đinh Văn Linh

Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Khoản 3 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[2]. Lê Vũ Nam, Hoàn thiện quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 13 (7/2015) tr. 27.

[3]. Khoản 4 Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Gíá trị tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm”.

[4]. Theo quy định tại Điều 56 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP các trường hợp sử lý tài sản bảo đảm bao gồm: 1. Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; 2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; 3. Pháp luật quy định tài sản bảo đảm phải được xử lý để bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác; 4. Các trường hợp khác do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định.

[5]. Khoản 2 Điều 2 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về “Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự”.

[6]. Khoản 1 và khoản 2 Điều 58 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.

[7]. Điều 65 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.

[8]. Khoản 2 và khoản 3 Điều 308 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“2. Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được trả cho bên bảo đảm.

3. Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bổ sung tài sản bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ được bảo đảm phải thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: