Thứ tư 04/03/2026 01:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý tài sản bảo đảm theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và yêu cầu bảo đảm thực thi

Tóm tắt: Bài viết này phân tích về cơ chế xử lý tài sản bảo đảm theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và chỉ ra những vấn đề cần hoàn thiện nhằm thực thi hiệu quả các quy định của Bộ luật Dân sự về giao dịch bảo đảm.


Abstract: This paper analyzes the mechanism of handling secured assets according to the Civil Code of 2015 and points out issues to be completed in order to effectively implement provisions of the Civil Code on secured transactions.

1. Nhận diện về xử lý tài sản bảo đảm

Tài sản bảo đảm là đối tượng của giao dịch bảo đảm trong quan hệ dân sự đối với nghĩa vụ cần được bảo đảm. Ở nước ta hiện nay, khái niệm xử lý tài sản bảo đảm được quy định cụ thể ở một số văn bản pháp luật chuyên ngành. Theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008, xử lý tài sản bảo đảm là hoạt động khi cơ quan có thẩm quyền xử lý xong tài sản cầm cố, thế chấp thông qua hình thức bán đấu giá tài sản, sau khi trừ đi các chi phí thi hành án, số tiền còn lại sẽ được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm[1]. Còn theo khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật. Việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, mua bán nợ của tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam, thì xử lý tài sản bảo đảm là quyền của bên nhận bảo đảm được thực hiện khi: (i) Nợ đến hạn (nghĩa vụ đến hạn phải thực hiện) nhưng bên có nghĩa vụ không trả được nợ hay không thực hiện được nghĩa vụ và không đạt được thỏa thuận khác với bên nhận bảo đảm; (ii) Xử lý tài sản bảo đảm là hành vi thực hiện quyền theo hợp đồng bảo đảm.

Các hành vi khác để xử lý nợ do tổ chức tín dụng thực hiện như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, mua bán nợ là thực hiện quyền theo quy định của pháp luật mà không thuộc phạm vi xử lý tài sản bảo đảm, mặc dù, về mục đích thì xử lý tài sản bảo đảm hay các biện pháp khác đều nhằm thu hồi khoản nợ cho bên nhận bảo đảm. Tuy nhiên, khi bên nhận bảo đảm thực hiện quyền theo hợp đồng để xử lý tài sản bảo đảm thì trình tự, thủ tục phải tiến hành theo quy định của pháp luật. Tóm lại, xử lý tài sản bảo đảm là quyền theo hợp đồng, theo đó, bên có quyền (bên nhận bảo đảm) thực hiện các biện pháp đối với tài sản bảo đảm để thu hồi nợ (gốc và lãi nếu có).

2. Cơ chế xử lý tài sản bảo đảm trong Bộ luật Dân sự năm 2015

2.1. Về tài sản bảo đảm

Khoản 1 Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm”, trừ trường hợp cầm giữ tài sản và bảo lưu quyền sở hữu. Việc sử dụng từ “tài sản” của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã mở rộng phạm vi và bao quát các đối tượng có thể được sử dụng trong giao dịch dân sự như vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Quy định này làm gia tăng cơ hội tiếp cận vốn cho các bên trong các giao dịch dân sự nói chung và trong các giao dịch dân sự có bảo đảm nói riêng. Việc sử dụng thuật ngữ chung “tài sản” mà không liệt kê từng loại tài sản cho phép khai thác tối đa các loại tài sản vào biện pháp bảo đảm và đây là hướng đi cần thiết đối với Bộ luật Dân sự[2]. Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm. Đối với trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất thì bên bảo đảm phải có quyền sử dụng đất. Trong trường hợp bên bảo đảm dùng tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình vào các giao dịch dân sự để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản. Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được. Trong trường hợp này, pháp luật hiện hành không đòi hỏi việc sử dụng tài sản vào giao dịch bảo đảm phải mô tả tỉ mỉ, rõ ràng, cụ thể về tài sản bảo đảm mà chỉ yêu cầu tài sản đó phải “xác định được”.

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản bảo đảm có thể có giá trị lớn hơn, bằng hoặc có giá trị nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm[3]. Trường hợp tài sản bảo đảm có giá trị nhỏ hơn nghĩa vụ cần bảo đảm thì vẫn được pháp luật chấp nhận với thỏa thuận và đồng ý từ bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm. Quy định này được cho là góp phần thúc đẩy các giao dịch dân sự. Bởi vì, nếu trong trường hợp tài sản bảo đảm bằng hoặc lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm thì quyền lợi của người nhận bảo đảm sẽ được “chắc chắn hơn” và giao dịch được thực hiện một cách dễ dàng. Còn trong trường hợp tài sản bảo đảm nhỏ có giá trị hơn nghĩa vụ cần bảo đảm thì phần nghĩa vụ chỉ được bảo đảm một phần tương ứng với giá trị tài sản bảo đảm, phần nghĩa vụ còn lại không có bảo đảm. Tuy nhiên, bên nhận bảo đảm chấp nhận rủi ro, đồng ý với thỏa thuận của bên bảo đảm. Đây cũng là quy định mới thể hiện pháp luật dân sự mở rộng sự công nhận, tôn trọng tự do thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ dân sự.

2.2. Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm

Theo Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015 các trường hợp xử lý tài sản gồm: (i) Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; (ii) Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật; (iii) Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định. Các quy định này được kế thừa từ các quy định về xử lý tài sản bảo đảm trong Bộ luật Dân sự năm 1995 và năm 2005, đặc biệt là từ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm[4]. Nếu trong Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định việc xử lý tài sản xảy ra trong trường hợp các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định, thì tại Bộ luật Dân sự năm 2015 đã được nâng lên thành các bên thỏa thuận hoặc “luật” có quy định. Điều này phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và tương thích với nguyên tắc quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng[5].

2.3. Thông tin về xử lý tài sản bảo đảm

Thông báo về việc xử lý tài sản là rất quan trọng, nhưng phải đến Bộ luật Dân sự năm 2015 mới quy định nội dung này. Theo khoản 1 Điều 300 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác”. Như vậy, Bộ luật đã quy định rõ chủ thể phải thực hiện hoạt động thông báo việc xử lý tài sản bảo đảm là bên nhận bảo đảm. Còn bên nhận thông tin là bên bảo đảm. Trong trường hợp tài sản bảo đảm được sử dụng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, thì người nhận thông tin về việc xử lý tài sản bảo đảm còn là những bên nhận bảo đảm khác. Hình thức thông tin là thông báo bằng văn bản. Tuy nhiên, việc quy định chỉ liệt kê hai đối tượng nhận được thông tin xử lý tài sản là chưa hợp lý, bởi vì ngoài hai đối tượng là bên bảo đảm và bên cùng nhận bảo đảm khác thì những người có quyền và nghĩa vụ liên quan cũng cần biết thông tin tài sản được xử lý để thực hiện nghĩa vụ.

Khoản 1 Điều 300 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định, đối với tài sản bảo đảm có nguy cơ bị hư hỏng dẫn đến bị giảm sút giá trị hoặc mất toàn bộ giá trị thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý ngay, đồng thời phải thông báo cho bên bảo đảm và các bên nhận bảo đảm khác về việc xử lý tài sản đó. Trong trường hợp bên nhận bảo đảm không thông báo cho các đối tượng nêu trên về việc xử lý tài sản bảo đảm mà gây ra thiệt hại đối với tài sản bảo đảm thì phải bồi thường cho bên bảo đảm hoặc người cùng nhận bảo đảm khác.

2.4. Giao tài sản để xử lý khi phát sinh nghĩa vụ

Điều 301 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này. Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác”. Điều này có nghĩa là khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hoặc bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ thì người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản cho bên nhận bảo đảm để xử lý. Nhưng nếu người đang giữ tài sản không giao tài sản cho bên nhận bảo đảm xử lý thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tuy nhiên, quy định này lại “làm khó” cho bên nhận bảo đảm. Bởi vì, trên thực tiễn việc xử lý tài sản bảo đảm chỉ diễn ra thuận lợi khi bên nhận bảo đảm hoặc người đang cầm giữa tài sản bảo đảm tự nguyện giao tài sản bảo đảm. Trường hợp các bên bảo đảm hoặc người cầm giữ tài sản không tự nguyện giao tài sản bảo đảm để bên nhận bảo đảm xử lý thì họ sẽ không còn sự lựa chọn nào khác ngoài “yêu cầu Tòa án giải quyết” theo quy định của pháp luật. Như vậy, bên nhận bảo đảm sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện quyền đòi nợ của mình.

2.5. Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm

Trong xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm đều mong muốn tài sản được xử lý với giá cao nhất để bù trừ vào nghĩa vụ của bên bảo đảm. Tuy nhiên, không phải lúc nào mong muốn của bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm cũng giống nhau. Nhiều trường hợp bên nhận bảo đảm muốn xử lý nhanh tài sản bảo đảm nên xác định giá tài sản thấp. Ngược lại, bên bảo đảm lại mong muốn tài sản bảo đảm phải được xử lý với giá cao để bù trừ được nhiều nghĩa vụ mà họ phải thực hiện. Vì vậy, việc xác định phương thức xử lý tài sản bảo đảm để hài hòa lợi ích giữa các bên là rất quan trọng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015, có ba phương pháp để xử lý tài sản bảo đảm cơ bản mà các bên trong hợp đồng có thể thực hiện đó là:

(i) Bán tài sản bảo đảm (được thực hiện qua phương thức tự bán hoặc bán đấu giá):

- Bên nhận bảo đảm có quyền bán tài sản bảo đảm trong trường hợp hợp đồng cầm cố, thế chấp có nội dung thỏa thuận bên nhận bảo đảm có quyền bán tài sản bảo đảm. Đây là phương thức được sử dụng nhiều nhất trong thực tế xử lý tài sản bảo đảm. Trong các nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm, pháp luật hiện nay coi trọng sự thỏa thuận của các bên trong việc sử lý tài sản, đó là: (i) Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận của các bên, nếu không có thoả thuận thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật; (ii) Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận của bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm, nếu không có thoả thuận hoặc không thoả thuận được thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật6.

- Bán đấu giá chỉ áp dụng trong trường hợp bắt buộc theo quy định của pháp luật hoặc khi các bên không có thỏa thuận hay không thỏa thuận được về phương thức xử lý tài sản. Khoản 1 Điều 304 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Việc bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản”. Hiện nay, việc bán đấu giá tài sản bảo đảm phải được thực hiện thông qua một tổ chức bán đấu giá. Tổ chức bán đấu giá là một trung tâm dịch vụ công trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc là doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề dịch vụ bán đấu giá tài sản. Tổ chức bán đấu giá phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản bảo đảm. Đối với trường hợp khi các bên không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm, nhưng có thể xác định được giá cụ thể, rõ ràng trên thị trường thì người xử lý tài sản được bán theo giá thị trường mà không phải qua thủ tục bán đấu giá, đồng thời phải thông báo cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác (nếu có)[7].

(ii) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm: Theo quy định tại Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2015 có hai trường hợp bên nhận bảo đảm có thể nhận tài sản bảo đảm để thay thế việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm: (a) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm nếu có thỏa thuận khi xác lập giao dịch bảo đảm; (b) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ khi bên bảo đảm đồng ý bằng văn bản. Ngoài ra, bên bảo đảm có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên nhận bảo đảm.

Điểm khác biệt giữa phương thức bán tài sản bảo đảm với phương thức nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế việc thực hiện nghĩa vụ là trong trường hợp bán tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm có thể bán tài sản bảo đảm cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào. Ngược lại, trong trường hợp nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế việc thực hiện nghĩa vụ thì bên nhận tài sản chính là bên nhận bảo đảm.

Tuy nhiên, khoản 1 Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định phương thức xử lý tài sản trong trường hợp cầm cố, thế chấp mà không quy định về phương thức xử lý tài sản đối các biện pháp bảo đảm khác. Điều này xuất phát từ chỗ, cầm cố, thế chấp là hai biện pháp phát sinh quyền xử lý tài sản trong 09 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Còn các biện pháp bảo đảm khác nếu nghĩa vụ phát sinh thì tài sản sẽ thuộc về bên nhận bảo đảm (đặt cọc, ký cược, ký quỹ); hoặc không phát sinh tài sản bảo đảm (tín chấp, bảo lãnh); hoặc không có việc xử lý tài sản bảo đảm (bảo lưu quyền sở hữu, cầm giữ tài sản).

(iii) Bên nhận bảo đảm nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ đối với bên thứ ba.

2.6. Thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản bảo đảm và thứ tự ưu tiên thanh toán

Khoản 1 Điều 307 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp được thanh toán theo thứ tự ưu tiên theo thứ tự sau đây:

(i) Chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp.

(ii) Theo thỏa thuận của các bên. Các bên được nhận tiền thanh toán có thể thỏa thuận thứ tự được ưu tiên thanh toán. Trường hợp thế quyền trong giao dịch bảo đảm thì bên thế quyền chỉ được ưu tiên thanh toán trong phạm vi bảo đảm của bên mà mình thế quyền.

(iii) Nếu các biện pháp bảo đảm đều phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng.

(iv) Nếu có biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba và có biện pháp bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba được thanh toán trước.

(v) Nếu các biện pháp bảo đảm đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm. Ngoài ra, khoản 2 và khoản 3 Điều 308 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cụ thể việc xử lý các khoản thanh toán từ tài sản bảo đảm được xử lý[8].

Các quy định này được kế thừa từ Điều 338 (Thanh toán tiền bán tài sản cầm cố) và Điều 355 (Xử lý tài sản thế chấp) của Bộ luật Dân sự năm 2005.

3. Một số giải pháp nhằm thực thi hiệu quả các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về xử lý tài sản bảo đảm

Để các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về giao dịch bảo đảm nói chung và về xử lý tài sản nói riêng áp dụng minh bạch, thuận tiện, Chính phủ cần ban hành Nghị định về giao dịch bảo đảm mới, trong đó, về xử lý tài sản bảo đảm cần quy định theo hướng sau:

Thứ nhất, về tài sản bảo đảm, điểm c khoản 2 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định: “Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất”. Quy định này đã gây khó khăn đối với người có nhu cầu thế chấp chính tài sản hình thành trong tương lai không thực hiện được, vì trên thực tế đa số các tài sản hình thành trong tương lai đều gắn với quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó, việc không cho phép thế chấp tài sản hình thành trong tương lai là quyền sử dụng đất dẫn đến bên nhận thế chấp khó khăn trong việc xử lý phần giá trị quyền sử dụng đất này khi xử lý tài sản bảo đảm. Vì vậy, cần có quy định phân biệt đối với tài sản hình thành trong tương lai không gắn với quyền sử dụng đất và tài sản hình thành trong tương lai gắn với quyền sử dụng đất, cách thức xác lập đối kháng với người thứ ba khi thế chấp tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất hình thành trong tương lai mà không thế chấp quyền sử dụng đất.

Thứ hai, về thông tin xử lý tài sản bảo đảm, cần có quy định cụ thể về “thời gian hợp lý” được quy định tại Điều 300 Bộ luật Dân sự năm 2015. Thời gian cụ thể có thể được quy định trong một khung thời gian được phân loại theo các đối tượng dựa vào vị trí địa lý. Ngoài ra, Nghị định mới cũng cần có quy định chi tiết về đối tượng mà bên xử lý tài sản bảo đảm có nghĩa vụ phải thông báo thông tin bao gồm bên bảo đảm và các bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Bên cạnh đó, Nghị định cũng cần bổ sung chế tài áp dụng đối với bên xử lý tài sản bảo đảm không thực hiện nghĩa vụ thông báo.

Thứ ba, cần có quy định về chế tài xử phạt đối với hành vi không tự giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm trong trường hợp nghĩa vụ phát sinh khi có điều kiện thực hiện, tránh tình trạng bên bảo đảm cố tình chây ì, gây khó khăn cho bên nhận bảo đảm để kéo dài thời gian.

Tóm lại, các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về xử lý tài sản bảo đảm đã có nhiều điểm tiến bộ, phù hợp với cuộc sống hiện nay. Tuy nhiên để các quy định này phát huy hiệu lực và hiệu quả trong giao dịch dân sự, đòi hỏi Chính phủ, các Bộ có liên quan cần có văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành theo phương châm “cụ thể, minh bạch, dễ hiểu, dễ thực hiện, thuận tiện cho công tác thanh tra, kiểm tra”.

TS. Võ Đình Toàn

& Đinh Văn Linh

Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Khoản 3 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[2]. Lê Vũ Nam, Hoàn thiện quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 13 (7/2015) tr. 27.

[3]. Khoản 4 Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Gíá trị tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm”.

[4]. Theo quy định tại Điều 56 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP các trường hợp sử lý tài sản bảo đảm bao gồm: 1. Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; 2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; 3. Pháp luật quy định tài sản bảo đảm phải được xử lý để bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác; 4. Các trường hợp khác do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định.

[5]. Khoản 2 Điều 2 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về “Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự”.

[6]. Khoản 1 và khoản 2 Điều 58 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.

[7]. Điều 65 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.

[8]. Khoản 2 và khoản 3 Điều 308 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“2. Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được trả cho bên bảo đảm.

3. Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bổ sung tài sản bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ được bảo đảm phải thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: