Thứ ba 26/05/2026 13:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý tài sản thế chấp theo phương thức thỏa thuận

Bài viết phân tích quy định của pháp luật về các phương thức thỏa thuận xử lý tài sản thế chấp, nhận diện những nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong thỏa thuận xử lý tài sản thế chấp và đưa ra một số khuyến nghị.


1. Quy định của pháp luật về các phương thức thỏa thuận xử lý tài sản thế chấp

Theo quy định tại khoản 1 Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn một trong các phương thức sau đây để tiến hành xử lý tài sản thế chấp (TSTC): (i) Bán đấu giá tài sản; (ii) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản; (iii) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm; (iv) Phương thức khác. Trường hợp không có thỏa thuận về một trong các phương thức nêu trên thì TSTC được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác (khoản 2 Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015). Có thể thấy, việc thỏa thuận phương thức xử lý đối với TSTC được pháp luật tôn trọng và ưu tiên để các bên tự thực hiện, chỉ trong trường hợp các bên không có sự thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì TSTC mới bị xử lý theo phương thức luật định. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp các bên đều được quyền tự thỏa thuận hoặc nếu không có thỏa thuận thì TSTC sẽ được đem ra bán đấu giá. Trong một số trường hợp nhất định, việc xử lý TSTC phải tuân thủ đúng phương thức mà pháp luật đã ấn định, ví dụ như: Việc xử lý TSTC là dự án đầu tư xây dựng nhà ở được thực hiện bằng hình thức chuyển nhượng dự án (khoản 2 Điều 149 Luật Nhà ở năm 2014). Đây là một trong những trường hợp cụ thể mà khoản 2 Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định loại trừ.

Như vậy, về nguyên tắc, có hai phương thức xử lý TSTC đó là: Phương thức xử lý TSTC theo thỏa thuận và phương thức xử lý TSTC bắt buộc. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến những vấn đề có liên quan đến phương thức xử lý TSTC theo thỏa thuận.

“Bán đấu giá tài sản” vừa là phương thức tự do thỏa thuận, vừa là phương thức bắt buộc trong xử lý TSTC. Nếu có sự thỏa thuận thì bán đấu giá tài sản là một trong các phương thức các bên có thể lựa chọn để xử lý TSTC[1] nhưng nếu không có sự thỏa thuận thì bán đấu giá tài sản là phương thức được ấn định để xử lý TSTC[2] trừ trường hợp luật có quy định khác. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng: “Bán đấu giá chỉ áp dụng trong trường hợp bắt buộc theo quy định của pháp luật hoặc khi các bên không có thỏa thuận hay không thỏa thuận được về phương thức xử lý tài sản”[3].

“Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản bảo đảm” là phương thức mà bên nhận thế chấp tự mình có thể trực tiếp bán hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác bán TSTC nếu các bên có thỏa thuận. Thực tế cho thấy, trong các hợp đồng thế chấp, các bên đều thỏa thuận phương thức này để xử lý TSTC với nội dung như “bên nhận thế chấp trực tiếp bán hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác bán TSTC”[4]. Về thời điểm thỏa thuận bán TSTC thì pháp luật không quy định nhưng các bên có thể thỏa thuận khi giao kết hợp đồng thế chấp tài sản hoặc tại thời điểm xử lý TSTC.

“Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm” là phương thức có sự khác biệt so với hai phương thức nêu trên về cách thức xử lý TSTC. Theo đó, nếu phương thức bán đấu giá tài sản và phương thức bên nhận bảo đảm tự bán tài sản bảo đảm đều thực hiện bằng hình thức “bán” tài sản, chủ thể bán tài sản có thể là bên nhận thế chấp, bên thế chấp hoặc tổ chức, cá nhân khác thì phương thức nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được thực hiện thông qua hình thức “nhận” tài sản và chỉ bên nhận thế chấp là chủ thể duy nhất có quyền nhận chính TSTC theo một trong hai cách thức đó là: (i)“Gán nợ”, cách thức này không cần phải thanh toán nếu có sự chênh lệch về giá trị tại thời điểm xử lý; (ii) “Bán lại” TSTC cho bên nhận thế chấp, cách thức này phải có sự thanh toán giá trị chênh lệch giữa giá của TSTC và giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm[5]. Cần lưu ý rằng, phương thức này chỉ áp dụng khi bên thế chấp phải đồng thời là bên có nghĩa vụ mà không áp dụng trong trường hợp bên thế chấp sử dụng tài sản của mình để thế chấp bảo đảm nghĩa vụ cho bên thứ ba. Một số bài viết liên quan đã thể hiện ý kiến phản biện đối với quy định này, theo đó, có tác giả cho rằng, không có lý do gì mà lại hạn chế quyền của chủ nợ đối với tài sản bảo đảm là tài sản của bên thứ ba để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ[6]; một tác giả khác cũng có bình luận: Không biết vô tình hay hữu ý mà ở đây người làm luật chỉ cho phép các bên thỏa thuận sử dụng phương thức này nếu nghĩa vụ được bảo đảm ở đây chính là nghĩa vụ của bên bảo đảm[7]. Đây là một sự bất cập trong quy định của pháp luật mà Bộ luật Dân sự năm 2015 cần phải nghiên cứu sửa đổi.

“Phương thức khác” là một trong bốn phương thức thỏa thuận xử lý TSTC được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tại điểm d khoản 1 Điều 303 và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (Nghị định số 163/2006/NĐ-CP) quy định tại khoản 4 Điều 59. Liên quan đến quy định này, có quan điểm cho rằng, Điều 59 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã liệt kê các phương thức xử lý theo thỏa thuận nhưng lại chốt một câu “các phương thức khác do các bên thỏa thuận”, với cách thiết kế điều luật như vậy thì sự liệt kê không có ý nghĩa và tính khái quát cao[8]. Có thể thấy, “phương thức khác” là một quy định mở và điều luật cũng đã dự liệu được trường hợp các bên có thể thỏa thuận bất kỳ một phương thức nào ngoài các phương thức đã quy định liệt kê để tiến hành xử lý TSTC. Do đó, Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 59 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định “phương thức khác” là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn xử lý TSTC. Tuy nhiên, tác giả đồng tình với ý kiến trên dưới góc độ đã là Nghị định quy định chi tiết thì Điều 59 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP cần có những quy định cụ thể thay vì quy định lại gần như toàn bộ nội dung từ Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Nhận diện những nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong thỏa thuận xử lý tài sản thế chấp

Thực tiễn áp dụng “phương thức thỏa thuận khác” trong xử lý TSTC rất đa dạng với nhiều cách thức khác nhau. Vì vậy, nếu lựa chọn phương thức xử lý không phù hợp với tính chất, đặc điểm của TSTC cũng như khả năng, điều kiện của các bên thì hậu quả có thể phát sinh những rủi ro. Để làm rõ vấn đề này, tác giả nêu một vụ việc cụ thể làm cơ sở phân tích, đánh giá.

Tóm tắt vụ việc:

Ngày 27/5/2016, vợ chồng ông Hồ Lê V và bà Nguyễn Thị N cùng cư trú tại làng B, xã H, huyện Đ, tỉnh G thế chấp tài sản của mình là quyền sử dụng đất tọa lạc tại thôn D, xã K, huyện Đ có diện tích 5.240 m2 đất trồng cây lâu năm tại Ngân hàng TMCP A - Chi nhánh tỉnh G, đảm bảo vay vốn với số tiền là 200 triệu đồng. Vì ông V, bà N không có khả năng trả nợ vay nên các bên gồm Ngân hàng A, vợ chồng ông V, bà N và người mua TSTC là ông Trần Đình T lập văn bản thỏa thuận với nội dung: Ông V, bà N đồng ý chuyển nhượng cho ông T toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên với giá chuyển nhượng 250 triệu đồng; thanh toán theo hình thức ông T nộp cho Ngân hàng A số tiền 200 triệu đồng để trả nợ vay cho ông V, bà L, còn lại 50 triệu đồng thì ông T trả trực tiếp cho ông V, bà N ngay khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng.

Đến ngày 06/11/2019, sau khi tất toán khoản vay tại Ngân hàng A, tài sản được xóa đăng ký thế chấp. Ông V, bà N cùng ông T đến tổ chức hành nghề công chứng X yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tại đây, yêu cầu của các bên bị công chứng viên từ chối với lý do quyền sử dụng đất bị cấm thực hiện giao dịch bởi quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2019/QĐ-BPKCTT ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ; nguyên nhân dẫn đến tài sản bị cấm giao dịch là do ông V, bà N bị bà Lê Thị M khởi kiện đòi nợ trong vụ án “tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản”. Không mua được tài sản nên ông T khởi kiện ông V, bà N ra Tòa án nhân dân huyện Đ yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Từ tình huống nêu trên cho thấy, mặc dù thỏa thuận về việc xử lý TSTC giữa các bên không vi phạm pháp luật nhưng hậu quả khiến ông T lâm vào tình trạng “dở khóc dở cười”, đồng thời có nguy cơ bị mất tài sản. Dưới đây có thể là những nguyên nhân dẫn đến hậu quả của thỏa thuận trên.

Nhận diện nguyên nhân:

Thông qua hoạt động công chứng các hợp đồng, giao dịch về thỏa thuận xử lý TSTC, tác giả nhận thấy:

Thứ nhất, theo quan sát của tác giả, trước khi quyết định mua tài sản đang thế chấp tại ngân hàng thì bên mua tài sản (ông T trong vụ việc) thường tự mình tìm hiểu các thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản. Theo đó, thông qua các mối quan hệ của mình, bên mua tài sản có thể “nhờ” tổ chức, cá nhân có thẩm quyền kiểm tra xem tài sản có bị phong tỏa, kê biên để bảo đảm thi hành án hay không; một số trường hợp thận trọng hơn còn thăm dò nhiều ý kiến trước khi quyết định. Tuy nhiên, việc tự thu thập thông tin có thể không đầy đủ và chính xác, bên mua tài sản chưa nhận biết hết hậu quả pháp lý của thỏa thuận xử lý TSTC cũng như những thiệt hại mà họ có thể phải gánh chịu.

Thứ hai, trong một số trường hợp, bên mua tài sản có thể biết rõ quyền, lợi ích của mình khi giao kết thỏa thuận xử lý TSTC, nhưng vì họ có một niềm tin nhất định từ phía bên bán tài sản hoặc ngân hàng nên có tâm lý chủ quan. Trong thực tế, phần lớn thỏa thuận xử lý TSTC được xác lập thực hiện giữa các bên là những người có mối quan hệ quen biết nhau hoặc cũng có thể là quan hệ gia đình, họ hàng. Bên cạnh đó, cũng có những trường hợp tự chấp nhận rủi ro để thỏa thuận mua tài sản vì một số lý do như giá mua bán tài sản thấp hơn so với giá thị trường ở cùng thời điểm hoặc tài sản phù hợp với khả năng, nhu cầu của bên mua...

Thứ ba, trong quá trình các bên tham gia thỏa thuận xử lý TSTC, các chủ nợ khác của bên bán tài sản (bà M trong vụ việc) biết được thông tin, nên ngay sau khi tài sản được xóa đăng ký thế chấp, chủ nợ đã kịp thời thu thập thông tin, cung cấp tài liệu đề nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp phong tỏa hoặc tạm thời ngăn chặn việc thực hiện giao dịch đối với tài sản.

Thứ tư, trong vụ việc trên, với khả năng xử lý TSTC của mình, ngân hàng biết được rủi ro có thể xảy ra đối với bên mua tài sản, nhưng vì lợi ích của ngân hàng, cũng như không muốn mất đi cơ hội tốt để xử lý nợ vay, có thể ngân hàng đã để mặc cho rủi ro xảy ra đối với bên mua tài sản.

Thứ năm, có trường hợp, sau khi tài sản được xóa đăng ký thế chấp, bên bán tài sản thay đổi ý định, có hành vi cố tình trì hoãn, chây ì trong việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng, mua bán tài sản; thậm chí bỏ đi khỏi nơi cư trú để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ đối với bên mua tài sản.

3. Một số khuyến nghị

Với tư cách là một công chứng viên, tác giả đưa ra một số khuyến nghị như sau:

Một là, nếu có ý định mua tài sản đang thế chấp tại ngân hàng thì bên mua tài sản không nên thỏa thuận việc mua bán TSTC theo cách thức mà tác giả đã mô tả trong vụ việc. Bởi vì, các bên sẽ không giao kết được hợp đồng chuyển nhượng, mua bán tài sản nếu tài sản bị phong tỏa hoặc bị tạm dừng giao dịch bởi quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Thời điểm mà cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp nêu trên có thể xảy ra trong khoảng thời gian, ngay sau khi tài sản được xóa đăng ký thế chấp cho đến trước khi hợp đồng chuyển nhượng, mua bán tài sản được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.

Để đảm bảo an toàn pháp lý đối với thỏa thuận xử lý TSTC trong vụ việc nêu trên, tác giả khuyến khích các bên thỏa thuận theo cách thức: Bên có tài sản ủy quyền cho ngân hàng trực tiếp bán TSTC thông qua hợp đồng ủy quyền bán TSTC hoặc ngân hàng có văn bản đồng ý để bên có tài sản tự bán TSTC. Theo phương thức này, TSTC không bắt buộc phải xóa đăng ký thế chấp trước khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, mua bán tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 12 Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 06/6/2014 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm.

Hai là, nếu các bên có yêu cầu công chứng thỏa thuận xử lý TSTC theo phương thức mà tác giả đã mô tả trong vụ việc, thì với trách nhiệm của mình, công chứng viên phải giải thích cho các bên hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của các bên, hậu quả pháp lý của việc giao kết thỏa thuận xử lý TSTC để các bên cân nhắc trước khi quyết định. Mặt khác, công chứng viên tuyệt đối không hỗ trợ các bên trong việc xử lý TSTC theo cách thức soạn thảo trước hợp đồng chuyển nhượng, mua bán tài sản để bên bán và bên mua tài sản ký vào hợp đồng trước mặt công chứng viên (có thể gọi là ký chờ), tiếp theo các bên mới thực hiện thủ tục trả nợ vay, xóa đăng ký thế chấp tài sản và sau đó, công chứng viên mới công chứng hợp đồng mua bán, chuyển nhượng tài sản.

Ba là, với khả năng của mình, ngân hàng nên lựa chọn hình thức xử lý TSTC vừa phù hợp với đặc điểm, tính chất của TSTC, vừa đảm bảo hài hòa quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, không nên vì lợi ích của mình mà ngân hàng có thể làm ngơ hoặc đẩy rủi ro có thể phát sinh từ giao dịch về phía bên mua tài sản. Nếu trường hợp này xảy ra, có thể sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín cũng như niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng.

Phạm Huy Vũ
Trưởng Phòng Công chứng số 1 tỉnh Gia Lai


[1] Xem khoản 1 Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Xem khoản 2 Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Võ Đình Toàn & Đinh Văn Linh, Xử lý tài sản bảo đảm theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và yêu cầu bảo đảm thực thi”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số tháng 6 (315) năm 2018.

[4] Xem điểm c khoản 4 Điều 6 Mẫu hợp đồng thế chấp tài sản của Ngân hàng TMCP Sài gòn Thương tín hoặc điểm b khoản 5.03 Điều 5 Mẫu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.

[5] Xem Vũ Thị Hồng Yến, “Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành”, Sách chuyên khảo, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2019, tr. 91.

[6] Lê Thị Thu Thủy, “Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ - nhìn từ góc độ lý luận”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 18 năm 2018.

[7] Bùi Đức Giang, “Xử lý tài sản bảo đảm theo Bộ luật Dân sự 2015”, Tạp chí Ngân hàng, số 1 năm 2017.

[8] Đặng Công Tráng, Phùng Thùy Dương, Hồ Hữu Tuấn, “Pháp luật về xử lý tài sản đảm bảo bằng tiền vay là quyền sử dụng đất tại các Ngân hàng Thương mại: Thực trạng và một số khuyến nghị”, Tạp chí Công Thương, số 02 năm 2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: