Thứ năm 15/01/2026 06:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất

Tóm tắt: Bài viết nêu lên những vấn đề khi xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này.

Tóm tắt: Bài viết nêu lên những vấn đề khi xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này.

Abstract: This paper is aimed at explaining issues of handling mortgaged land use right without mortgage of land-attached assets, from that point, puts forward some solutions for completing legal provisions regarding this problem.

1. Trường hợp tài sản trên đất thuộc sở hữu của bên thế chấp

Khi tài sản trên đất cũng thuộc sở hữu của bên thế chấp, câu hỏi đặt ra là tài sản trên đất có thuộc tài sản thế chấp không? Trả lời câu hỏi này có hệ quả quan trọng: Nếu là tài sản thế chấp, người nhận thế chấp được quyền xử lý cả các tài sản trên đất và được ưu tiên thanh toán đối với khoản tiền thu được từ việc xử lý tài sản khi việc thế chấp có hiệu lực đối kháng với người thứ ba.

Theo khoản 1 Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2005, “trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp”. Quy định này được duy trì trong Bộ luật Dân sự năm 2015 với một số thay đổi tại khoản 1 Điều 318, theo đó, “trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Quyền sử dụng đất là bất động sản và tài sản trên đất là các “vật” nhưng vật này có là “vật phụ” hay không thì Bộ luật Dân sự chưa quy định rõ.

Trước đây, khoản 2 Điều 716 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trường hợp người sử dụng đất thế chấp quyền sử dụng đất thì nhà, công trình xây dựng khác, rừng trồng, vườn cây và các tài sản khác của người thế chấp gắn liền với đất chỉ thuộc tài sản thế chấp, nếu có thỏa thuận”. Với nội dung này, tài sản trên đất chỉ trở thành tài sản thế chấp khi “có thỏa thuận”. Điều luật trên không được giữ lại trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và thay vào đó là quy định tại khoản 3 Điều 318 với nội dung: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Quy định này theo hướng “tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp” mà không đòi hỏi là phải “có thỏa thuận”. Điều đó có nghĩa là “tài sản gắn liền với đất cũng là đối tượng của hợp đồng thế chấp”. Đây là quy định bất lợi cho các chủ nợ không nhận thế chấp quyền sử dụng đất và gây khó hiểu khi đối chiếu với quy định về xử lý tài sản được trình bày dưới đây.

Trong trường hợp các bên thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất mà không đề cập tới tài sản trên đất thì tài sản trên đất phải xử lý như thế nào? Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (Nghị định số 11/2012/NĐ-CP) xử lý theo hướng “trong trường hợp chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản gắn liền với đất được xử lý đồng thời với quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” (khoản 19 Điều 1). Quy định này cho phép xử lý đồng thời tài sản trên đất cùng với quyền sử dụng đất và có ý kiến cho rằng, quy định đã tháo gỡ được khó khăn đặt ra trong thực tế xử lý tài sản thế chấp, đặc biệt khi tại thời điểm thế chấp chưa có cơ sở hạ tầng trên đất. Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng theo hướng của Nghị định trên khi quy định tại khoản 1 Điều 325 rằng, “trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Thực tiễn các Tòa án cũng theo hướng xử lý tài sản trên đất cùng với quyền sử dụng đất. Tác giả hoàn toàn đồng ý với quan điểm này.

Khi xử lý quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, chúng ta sẽ thu được một khoản tiền tương đương với giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản trên đất (sau khi trừ chi phí xử lý). Khoản tiền của hai giá trị này được xử lý như thế nào? Trong thực tiễn có phương án xử lý là trả lại giá trị tài sản cho chủ sở hữu, điều này hoàn toàn hợp lý, tác giả thống nhất với phương án này. Như vậy, quan điểm này không coi tiền thu được từ tài sản trên đất là tiền thu được từ tài sản thế chấp nên phải trả lại cho chủ sở hữu. Điều đó cũng có nghĩa là, người nhận bảo đảm thế chấp quyền sử dụng đất chỉ được ưu tiên thanh toán đối với khoản tiền thể hiện giá trị quyền sử dụng đất. Hướng trên là thuyết phục, đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ khác. Để hiểu rõ hơn, chúng ta xem xét ví dụ: Ngân hàng 1 nhận thế chấp quyền sử dụng đất mà không đề cập tới tài sản trên đất và chủ sử dụng đất còn nợ Ngân hàng 2 một khoản tiền không có đảm bảo bằng quyền sử đụng đất. Với hướng nêu trên, Ngân hàng 1 được ưu tiên trên khoản tiền thu được từ xử lý quyền sử dụng đất nhưng không được ưu tiên đối với khoản tiền thu được từ xử lý tài sản trên đất. Đối với tiền thu được từ tài sản trên đất, Ngân hàng 1 và Ngân hàng 2 cùng được hưởng theo cơ chế nghĩa vụ không có bảo đảm[1].

Tuy nhiên, hướng giải quyết trên có được duy trì khi áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 hay không? Đây là một câu hỏi khó xuất phát từ sự tồn tại song song hai quy định tại khoản 3 Điều 318 và khoản 1 Điều 325, theo đó, “trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp, thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” và “trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Điều khoản thứ nhất coi tài sản trên đất là tài sản thế chấp mà không cần thỏa thuận và vì là tài sản thế chấp nên người nhận thế chấp được hưởng các đặc quyền đối với tài sản thế chấp. Với ví dụ trên, Ngân hàng 1 sẽ được ưu tiên không chỉ đối với khoản tiền thu được từ xử lý quyền sử dụng đất mà còn được ưu tiên cả đối với khoản tiền thu được từ xử lý tài sản trên đất. Còn điều khoản thứ hai chỉ cho xử ký tài sản trên đất cùng với quyền sử dụng đất mà không cho phép hiểu ai được ưu tiên hay không được ưu tiên đối với tiền thu được từ tài sản trên đất.

Chúng ta thấy, khoản 3 Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã khẳng định “tài sản gắn liền với đất cũng là tài sản thế chấp” nhưng tại sao khoản 1 Điều 325 Bộ luật này vẫn khẳng định “trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất”, tức là, điều khoản thứ nhất đã “nhập” tài sản trên đất thành “tài sản thế chấp” rồi nhưng tại sao điều khoản sau lại “tách” tài sản trên đất ra khỏi “quyền sử dụng đất”, đối tượng của hợp đồng thế chấp? Ở đây không có sự nhất quán trong quy định giữa các điều luật và có nhiều nguy cơ là người nhận thế chấp quyền sử dụng đất sẽ khai thác khoản 3 Điều 318 để đòi hỏi được ưu tiên cả đối với khoản tiền thu được từ xử lý tài sản trên đất và như vậy là trái với nguyên tắc bình đẳng được ghi nhận trong Hiến pháp và Bộ luật Dân sự.

Vì vậy, tác giả kiến nghị: Cần có văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng, trường hợp người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản trên đất nhưng chỉ thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ cho mình hoặc của người khác thì tài sản trên đất không đương nhiên thuộc tài sản thế chấp; khi xử lý quyền sử dụng đất thế chấp thì tài sản trên đất được xử lý cùng nhưng phải hoàn trả lại cho chủ sở hữu tài sản trên đất khoản tiền tương đương với giá trị tài sản trên đất.

2. Trường hợp người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản trên đất

Trường hợp người có quyền sử dụng đất và người có quyền sở hữu tài sản trên đất là hai người khác nhau khá phổ biến.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 320 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng như khoản 1 Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp, do đó, trong trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản trên đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất thế chấp, tài sản trên đất không đương nhiên thuộc tài sản thế chấp hay không thuộc đối tượng của hợp đồng thế chấp. Vì tài sản trên đất không thuộc bên thế chấp nên cũng không thể xử lý cùng với quyền sử dụng đất. Bộ luật Dân sự không có quy định cho phép xử lý tài sản trên đất cùng với quyền sử dụng đất trong trường hợp này và thực tiễn các Tòa án cũng không theo hướng cho phép xử lý tài sản trên đất cùng quyền sử dụng đất. Như vậy thì cách xử lý và quyền của người sở hữu tài sản trên đất được bảo vệ như thế nào?

Khoản 2 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, “trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Điều luật này cho phép chủ sở hữu tài sản trên đất được duy trì hoàn cảnh của mình (trừ thỏa thuận khác): Vẫn là chủ sở hữu tài sản trên đất và đối với quyền sử dụng đất thì vẫn “tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình”. Còn về quyền sử dụng đất, điều luật cho phép xử lý và nếu xử lý được thì người có quyền sử dụng đất mới nhận “quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất”. Điều luật không đề cập tới khoản tiền thu được từ việc xử lý quyền sử dụng đất nhưng đương nhiên bên nhận thế chấp được hưởng các quyền từ việc xử lý tài sản thế chấp vì đó là tiền thu được từ tài sản thế chấp.

Quy định trên của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã kế thừa tinh thần của khoản 19 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP (điều khoản sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 68 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP), quy định này đã bảo vệ quyền lợi tối ưu của chủ sở hữu (quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản trên đất). Trong thực tiễn xét xử hiện nay, từ khi áp dụng Nghị định số 11/2012/NĐ-CP và Bộ luật Dân sự năm 2015, có các quan điểm xử lý khác nhau của các Tòa án như tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu, tuyên phát mãi quyền sử dụng đất thế chấp và người sở hữu tài sản trên đất được tiếp tục sở hữu tài sản trên đất, cho xử lý tài sản trên đất cùng với quyền sử dụng đất.

Ví dụ 1: Bản án về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng X và bị đơn là bà A. Nội dung: Bà A đã ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất với Ngân hàng X để bảo đảm khoản vay cho bà B. Tuy nhiên, qua xác minh thực tế của Tòa án thì trên đất này có các công trình, nhà xưởng của Công ty Y (bên thuê đất của bà A). Việc bà A thế chấp quyền sử dụng đất thì Công ty Y hoàn toàn không biết. Các công trình xây dựng trên đất có trước khi bà A ký kết hợp đồng thế chấp. Tòa án cấp sơ thẩm thì tuyên hợp đồng vô hiệu với lý do: Trên diện tích đất thế chấp có công trình, nhà xưởng của Công ty Y; bà A thế chấp quyền sử dụng đất nhưng không xác minh tài sản trên đất đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người có tài sản trên đất; do đó, hợp đồng thế chấp vô hiệu do có đối tượng không thực hiện được. Tòa án cấp phúc thẩm đã sửa bản án sơ thẩm, tuyên hợp đồng thế chấp giữa bà A với Ngân hàng X là hợp pháp và áp dụng khoản 19 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP để xử lý quyền sử dụng đất mà bà A đã thế chấp cho Ngân hàng X và cho rằng quyền lợi của người có tài sản trên đất không bị ảnh hưởng. Tác giả đồng ý với quan điểm của cấp phúc thẩm mà không đồng ý với cách giải quyết của cấp sơ thẩm. Hiện nay, quan điểm giải quyết này cũng được một số Tòa án áp dụng khi giải quyết các vụ án có nội dung tương tự, tuy nhiên, cách thực hiện lại chưa phù hợp, không áp dụng quy định tại khoản 19 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP và khoản 2 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Vụ án 2: Ngân hàng H ký hợp đồng tín dụng cho ông T vay số tiền 1,5 tỷ đồng, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của bà D, trên đất thế chấp có nhà và cây trồng của bà P. Do ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng H khởi kiện yêu cầu ông T trả tiền nợ gốc và lãi theo quy định, nếu không có khả năng thanh toán thì yêu cầu phát mãi tài sản để thu hồi nợ. Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định bà D chỉ thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo cho khoản vay của ông T mà không thế chấp tài sản trên đất, nhưng khi xử lý quyền sử dụng đất thế chấp đồng thời phải xử lý tài sản trên đất thế chấp và hoàn trả giá trị tài sản trên đất cho bà P. Như vậy, mặc dù bà D có quyền sử dụng đất còn tài sản trên đất thuộc quyền sở hữu của bà P nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 68 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, khoản 19 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP để tuyên tài sản gắn liền với đất thế chấp được phát mãi cùng với quyền sử dụng đất và hoàn trả giá trị tài sản trên đất cho bà P. Theo quan điểm của Tòa án cấp phúc thẩm, mặc dù cách giải quyết của cấp sơ thẩm không đúng tinh thần của pháp luật nhưng dễ thi hành trên thực tế, bởi đặc tính tự nhiên vốn có của tài sản, do đó, đất và tài sản gắn liền với đất thường là một thể thống nhất về hiện trạng và tình trạng pháp lý nên nếu không có cơ chế xử lý đồng thời sẽ dẫn đến trường hợp khó khăn trong việc xử lý tài sản bảo đảm, đặc biệt là vấn đề bán (chuyển quyền sở hữu) tài sản thế chấp cho người mua. Tuy nhiên, điều này lại đi ngược với quy định về quyền định đoạt của chủ sở hữu quy định tại Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015 trong trường hợp người có tài sản trên đất không đồng ý phát mãi cùng với quyền sử dụng đất nhưng Tòa án vẫn tuyên cho phát mãi. Thực tiễn xét xử tại Quyết định giám đốc thẩm số 01/2017/KDTM-GDT ngày 01/3/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao[2] đã góp phần giải quyết khó khăn nêu trên, cụ thể, “trường hợp bên thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận bên nhận thế chấp được bán tài sản bảo đảm là quyền sử dụng diện tích đất mà trên đất có nhà thuộc sở hữu của người khác không phải là người sử dụng đất thì cần dành cho chủ sở hữu nhà đó được quyền ưu tiên nếu họ có nhu cầu mua (nhận chuyển nhượng)”. Quyết định giám đốc thẩm này được dự kiến đề xuất phát triển thành án lệ. Điều này đã giải quyết khó khăn khi xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, nhưng lại không nói rõ là quyền ưu tiên mua toàn bộ quyền sử dụng đất đã thế chấp hay chỉ là phần diện tích gắn với ngôi nhà thuộc sở hữu của người khác. Tác giả cho rằng, sẽ hợp lý hơn nếu dành cho người có tài sản trên đất quyền ưu tiên mua đối với quyền sử dụng đất gắn với tài sản trên đất của họ.

Từ đó, tác giả kiến nghị: (i) Nên ban hành hướng dẫn theo hướng áp dụng thống nhất khoản 2 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết trường hợp trên nhằm thống nhất xét xử và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên; (ii) Cần sớm có văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; cần dành cho chủ sở hữu tài sản trên đất được quyền ưu tiên nếu họ có nhu cầu nhận chuyển nhượng đối với phần diện tích đất gắn liền với tài sản trên đất”.

ThS. Lý VănToán

Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang

ThS. Võ Minh Triều

Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương



[1]. PGS.TS. Đỗ Văn Đại, Luật Nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt Nam, Bản án và bình luận bản án, tr. 120.

[2]. Tài liệu Hội thảo lấy ý kiến đối với các bản án, quyết định dự kiến đề xuất phát triển thành án lệ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: