Chủ nhật 25/10/2026 22:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất

Tóm tắt: Bài viết nêu lên những vấn đề khi xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này.

Tóm tắt: Bài viết nêu lên những vấn đề khi xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này.

Abstract: This paper is aimed at explaining issues of handling mortgaged land use right without mortgage of land-attached assets, from that point, puts forward some solutions for completing legal provisions regarding this problem.

1. Trường hợp tài sản trên đất thuộc sở hữu của bên thế chấp

Khi tài sản trên đất cũng thuộc sở hữu của bên thế chấp, câu hỏi đặt ra là tài sản trên đất có thuộc tài sản thế chấp không? Trả lời câu hỏi này có hệ quả quan trọng: Nếu là tài sản thế chấp, người nhận thế chấp được quyền xử lý cả các tài sản trên đất và được ưu tiên thanh toán đối với khoản tiền thu được từ việc xử lý tài sản khi việc thế chấp có hiệu lực đối kháng với người thứ ba.

Theo khoản 1 Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2005, “trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp”. Quy định này được duy trì trong Bộ luật Dân sự năm 2015 với một số thay đổi tại khoản 1 Điều 318, theo đó, “trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Quyền sử dụng đất là bất động sản và tài sản trên đất là các “vật” nhưng vật này có là “vật phụ” hay không thì Bộ luật Dân sự chưa quy định rõ.

Trước đây, khoản 2 Điều 716 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trường hợp người sử dụng đất thế chấp quyền sử dụng đất thì nhà, công trình xây dựng khác, rừng trồng, vườn cây và các tài sản khác của người thế chấp gắn liền với đất chỉ thuộc tài sản thế chấp, nếu có thỏa thuận”. Với nội dung này, tài sản trên đất chỉ trở thành tài sản thế chấp khi “có thỏa thuận”. Điều luật trên không được giữ lại trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và thay vào đó là quy định tại khoản 3 Điều 318 với nội dung: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Quy định này theo hướng “tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp” mà không đòi hỏi là phải “có thỏa thuận”. Điều đó có nghĩa là “tài sản gắn liền với đất cũng là đối tượng của hợp đồng thế chấp”. Đây là quy định bất lợi cho các chủ nợ không nhận thế chấp quyền sử dụng đất và gây khó hiểu khi đối chiếu với quy định về xử lý tài sản được trình bày dưới đây.

Trong trường hợp các bên thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất mà không đề cập tới tài sản trên đất thì tài sản trên đất phải xử lý như thế nào? Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (Nghị định số 11/2012/NĐ-CP) xử lý theo hướng “trong trường hợp chỉ thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản gắn liền với đất được xử lý đồng thời với quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” (khoản 19 Điều 1). Quy định này cho phép xử lý đồng thời tài sản trên đất cùng với quyền sử dụng đất và có ý kiến cho rằng, quy định đã tháo gỡ được khó khăn đặt ra trong thực tế xử lý tài sản thế chấp, đặc biệt khi tại thời điểm thế chấp chưa có cơ sở hạ tầng trên đất. Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng theo hướng của Nghị định trên khi quy định tại khoản 1 Điều 325 rằng, “trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Thực tiễn các Tòa án cũng theo hướng xử lý tài sản trên đất cùng với quyền sử dụng đất. Tác giả hoàn toàn đồng ý với quan điểm này.

Khi xử lý quyền sử dụng đất và tài sản trên đất, chúng ta sẽ thu được một khoản tiền tương đương với giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản trên đất (sau khi trừ chi phí xử lý). Khoản tiền của hai giá trị này được xử lý như thế nào? Trong thực tiễn có phương án xử lý là trả lại giá trị tài sản cho chủ sở hữu, điều này hoàn toàn hợp lý, tác giả thống nhất với phương án này. Như vậy, quan điểm này không coi tiền thu được từ tài sản trên đất là tiền thu được từ tài sản thế chấp nên phải trả lại cho chủ sở hữu. Điều đó cũng có nghĩa là, người nhận bảo đảm thế chấp quyền sử dụng đất chỉ được ưu tiên thanh toán đối với khoản tiền thể hiện giá trị quyền sử dụng đất. Hướng trên là thuyết phục, đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ khác. Để hiểu rõ hơn, chúng ta xem xét ví dụ: Ngân hàng 1 nhận thế chấp quyền sử dụng đất mà không đề cập tới tài sản trên đất và chủ sử dụng đất còn nợ Ngân hàng 2 một khoản tiền không có đảm bảo bằng quyền sử đụng đất. Với hướng nêu trên, Ngân hàng 1 được ưu tiên trên khoản tiền thu được từ xử lý quyền sử dụng đất nhưng không được ưu tiên đối với khoản tiền thu được từ xử lý tài sản trên đất. Đối với tiền thu được từ tài sản trên đất, Ngân hàng 1 và Ngân hàng 2 cùng được hưởng theo cơ chế nghĩa vụ không có bảo đảm[1].

Tuy nhiên, hướng giải quyết trên có được duy trì khi áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 hay không? Đây là một câu hỏi khó xuất phát từ sự tồn tại song song hai quy định tại khoản 3 Điều 318 và khoản 1 Điều 325, theo đó, “trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp, thì tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” và “trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Điều khoản thứ nhất coi tài sản trên đất là tài sản thế chấp mà không cần thỏa thuận và vì là tài sản thế chấp nên người nhận thế chấp được hưởng các đặc quyền đối với tài sản thế chấp. Với ví dụ trên, Ngân hàng 1 sẽ được ưu tiên không chỉ đối với khoản tiền thu được từ xử lý quyền sử dụng đất mà còn được ưu tiên cả đối với khoản tiền thu được từ xử lý tài sản trên đất. Còn điều khoản thứ hai chỉ cho xử ký tài sản trên đất cùng với quyền sử dụng đất mà không cho phép hiểu ai được ưu tiên hay không được ưu tiên đối với tiền thu được từ tài sản trên đất.

Chúng ta thấy, khoản 3 Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã khẳng định “tài sản gắn liền với đất cũng là tài sản thế chấp” nhưng tại sao khoản 1 Điều 325 Bộ luật này vẫn khẳng định “trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất”, tức là, điều khoản thứ nhất đã “nhập” tài sản trên đất thành “tài sản thế chấp” rồi nhưng tại sao điều khoản sau lại “tách” tài sản trên đất ra khỏi “quyền sử dụng đất”, đối tượng của hợp đồng thế chấp? Ở đây không có sự nhất quán trong quy định giữa các điều luật và có nhiều nguy cơ là người nhận thế chấp quyền sử dụng đất sẽ khai thác khoản 3 Điều 318 để đòi hỏi được ưu tiên cả đối với khoản tiền thu được từ xử lý tài sản trên đất và như vậy là trái với nguyên tắc bình đẳng được ghi nhận trong Hiến pháp và Bộ luật Dân sự.

Vì vậy, tác giả kiến nghị: Cần có văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng, trường hợp người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản trên đất nhưng chỉ thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ cho mình hoặc của người khác thì tài sản trên đất không đương nhiên thuộc tài sản thế chấp; khi xử lý quyền sử dụng đất thế chấp thì tài sản trên đất được xử lý cùng nhưng phải hoàn trả lại cho chủ sở hữu tài sản trên đất khoản tiền tương đương với giá trị tài sản trên đất.

2. Trường hợp người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản trên đất

Trường hợp người có quyền sử dụng đất và người có quyền sở hữu tài sản trên đất là hai người khác nhau khá phổ biến.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 320 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng như khoản 1 Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp, do đó, trong trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản trên đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất thế chấp, tài sản trên đất không đương nhiên thuộc tài sản thế chấp hay không thuộc đối tượng của hợp đồng thế chấp. Vì tài sản trên đất không thuộc bên thế chấp nên cũng không thể xử lý cùng với quyền sử dụng đất. Bộ luật Dân sự không có quy định cho phép xử lý tài sản trên đất cùng với quyền sử dụng đất trong trường hợp này và thực tiễn các Tòa án cũng không theo hướng cho phép xử lý tài sản trên đất cùng quyền sử dụng đất. Như vậy thì cách xử lý và quyền của người sở hữu tài sản trên đất được bảo vệ như thế nào?

Khoản 2 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, “trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Điều luật này cho phép chủ sở hữu tài sản trên đất được duy trì hoàn cảnh của mình (trừ thỏa thuận khác): Vẫn là chủ sở hữu tài sản trên đất và đối với quyền sử dụng đất thì vẫn “tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình”. Còn về quyền sử dụng đất, điều luật cho phép xử lý và nếu xử lý được thì người có quyền sử dụng đất mới nhận “quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất”. Điều luật không đề cập tới khoản tiền thu được từ việc xử lý quyền sử dụng đất nhưng đương nhiên bên nhận thế chấp được hưởng các quyền từ việc xử lý tài sản thế chấp vì đó là tiền thu được từ tài sản thế chấp.

Quy định trên của Bộ luật Dân sự năm 2015 đã kế thừa tinh thần của khoản 19 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP (điều khoản sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 68 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP), quy định này đã bảo vệ quyền lợi tối ưu của chủ sở hữu (quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản trên đất). Trong thực tiễn xét xử hiện nay, từ khi áp dụng Nghị định số 11/2012/NĐ-CP và Bộ luật Dân sự năm 2015, có các quan điểm xử lý khác nhau của các Tòa án như tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu, tuyên phát mãi quyền sử dụng đất thế chấp và người sở hữu tài sản trên đất được tiếp tục sở hữu tài sản trên đất, cho xử lý tài sản trên đất cùng với quyền sử dụng đất.

Ví dụ 1: Bản án về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng X và bị đơn là bà A. Nội dung: Bà A đã ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất với Ngân hàng X để bảo đảm khoản vay cho bà B. Tuy nhiên, qua xác minh thực tế của Tòa án thì trên đất này có các công trình, nhà xưởng của Công ty Y (bên thuê đất của bà A). Việc bà A thế chấp quyền sử dụng đất thì Công ty Y hoàn toàn không biết. Các công trình xây dựng trên đất có trước khi bà A ký kết hợp đồng thế chấp. Tòa án cấp sơ thẩm thì tuyên hợp đồng vô hiệu với lý do: Trên diện tích đất thế chấp có công trình, nhà xưởng của Công ty Y; bà A thế chấp quyền sử dụng đất nhưng không xác minh tài sản trên đất đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người có tài sản trên đất; do đó, hợp đồng thế chấp vô hiệu do có đối tượng không thực hiện được. Tòa án cấp phúc thẩm đã sửa bản án sơ thẩm, tuyên hợp đồng thế chấp giữa bà A với Ngân hàng X là hợp pháp và áp dụng khoản 19 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP để xử lý quyền sử dụng đất mà bà A đã thế chấp cho Ngân hàng X và cho rằng quyền lợi của người có tài sản trên đất không bị ảnh hưởng. Tác giả đồng ý với quan điểm của cấp phúc thẩm mà không đồng ý với cách giải quyết của cấp sơ thẩm. Hiện nay, quan điểm giải quyết này cũng được một số Tòa án áp dụng khi giải quyết các vụ án có nội dung tương tự, tuy nhiên, cách thực hiện lại chưa phù hợp, không áp dụng quy định tại khoản 19 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP và khoản 2 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Vụ án 2: Ngân hàng H ký hợp đồng tín dụng cho ông T vay số tiền 1,5 tỷ đồng, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của bà D, trên đất thế chấp có nhà và cây trồng của bà P. Do ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng H khởi kiện yêu cầu ông T trả tiền nợ gốc và lãi theo quy định, nếu không có khả năng thanh toán thì yêu cầu phát mãi tài sản để thu hồi nợ. Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định bà D chỉ thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo cho khoản vay của ông T mà không thế chấp tài sản trên đất, nhưng khi xử lý quyền sử dụng đất thế chấp đồng thời phải xử lý tài sản trên đất thế chấp và hoàn trả giá trị tài sản trên đất cho bà P. Như vậy, mặc dù bà D có quyền sử dụng đất còn tài sản trên đất thuộc quyền sở hữu của bà P nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 68 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, khoản 19 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP để tuyên tài sản gắn liền với đất thế chấp được phát mãi cùng với quyền sử dụng đất và hoàn trả giá trị tài sản trên đất cho bà P. Theo quan điểm của Tòa án cấp phúc thẩm, mặc dù cách giải quyết của cấp sơ thẩm không đúng tinh thần của pháp luật nhưng dễ thi hành trên thực tế, bởi đặc tính tự nhiên vốn có của tài sản, do đó, đất và tài sản gắn liền với đất thường là một thể thống nhất về hiện trạng và tình trạng pháp lý nên nếu không có cơ chế xử lý đồng thời sẽ dẫn đến trường hợp khó khăn trong việc xử lý tài sản bảo đảm, đặc biệt là vấn đề bán (chuyển quyền sở hữu) tài sản thế chấp cho người mua. Tuy nhiên, điều này lại đi ngược với quy định về quyền định đoạt của chủ sở hữu quy định tại Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015 trong trường hợp người có tài sản trên đất không đồng ý phát mãi cùng với quyền sử dụng đất nhưng Tòa án vẫn tuyên cho phát mãi. Thực tiễn xét xử tại Quyết định giám đốc thẩm số 01/2017/KDTM-GDT ngày 01/3/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao[2] đã góp phần giải quyết khó khăn nêu trên, cụ thể, “trường hợp bên thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận bên nhận thế chấp được bán tài sản bảo đảm là quyền sử dụng diện tích đất mà trên đất có nhà thuộc sở hữu của người khác không phải là người sử dụng đất thì cần dành cho chủ sở hữu nhà đó được quyền ưu tiên nếu họ có nhu cầu mua (nhận chuyển nhượng)”. Quyết định giám đốc thẩm này được dự kiến đề xuất phát triển thành án lệ. Điều này đã giải quyết khó khăn khi xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, nhưng lại không nói rõ là quyền ưu tiên mua toàn bộ quyền sử dụng đất đã thế chấp hay chỉ là phần diện tích gắn với ngôi nhà thuộc sở hữu của người khác. Tác giả cho rằng, sẽ hợp lý hơn nếu dành cho người có tài sản trên đất quyền ưu tiên mua đối với quyền sử dụng đất gắn với tài sản trên đất của họ.

Từ đó, tác giả kiến nghị: (i) Nên ban hành hướng dẫn theo hướng áp dụng thống nhất khoản 2 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết trường hợp trên nhằm thống nhất xét xử và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên; (ii) Cần sớm có văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; cần dành cho chủ sở hữu tài sản trên đất được quyền ưu tiên nếu họ có nhu cầu nhận chuyển nhượng đối với phần diện tích đất gắn liền với tài sản trên đất”.

ThS. Lý VănToán

Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang

ThS. Võ Minh Triều

Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương



[1]. PGS.TS. Đỗ Văn Đại, Luật Nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt Nam, Bản án và bình luận bản án, tr. 120.

[2]. Tài liệu Hội thảo lấy ý kiến đối với các bản án, quyết định dự kiến đề xuất phát triển thành án lệ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: