Thứ sáu 23/10/2026 18:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật theo pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì những trường hợp đăng ký kết hôn mà vi phạm các điều kiện về đăng ký kết hôn được coi là kết hôn trái pháp luật và bị xử lý. Tuy nhiên, trên thực tế việc kết hôn trái pháp luật vẫn xảy ra ở nhiều nơi (đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số) với nhiều hình thức khác nhau như: Vi phạm về độ tuổi kết hôn, việc kết hôn vi phạm sự tự nguyện, kết hôn do bị mất năng lực hành vi dân sự; việc kết hôn thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn.


Trong bài viết, tác giả Nguyễn Thị Phương đã đi sâu phân tích khái niệm và căn cứ xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, từ đó, đưa ra hướng xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật (bao gồm: Hủy kết hôn trái pháp luật; công nhận quan hệ vợ chồng; giải quyết ly hôn) và nêu những bất cập, vướng mắc gặp phải khi xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.

1. Khái niệm và căn cứ xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

Khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP có đưa ra các hướng xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, cụ thể là: Hủy kết hôn trái pháp luật, công nhận quan hệ vợ chồng và ly hôn. Tuy nhiên, hai văn bản quy phạm pháp luật trên cũng như những văn bản pháp luật có liên quan lại không giải thích thế nào là xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Theo Từ điển tiếng Việt “xử lý” có nghĩa là “xem xét, giải quyết vụ phạm lỗi nào đó”[1]. Trong trường hợp này, việc kết hôn trái pháp luật là một việc xuất phát từ hành vi kết hôn trái pháp luật, có lỗi và cần phải xử lý. Xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật có nghĩa là khi có sự việc nam, nữ đăng ký kết hôn không đáp ứng được các điều kiện kết hôn và có yêu cầu, thì Tòa án phải xem xét và đề ra hướng giải quyết phù hợp.

Ph. Ăngghen đã từng nhận định: “Không ai bị buộc phải kết hôn, nhưng ai cũng bị buộc phải tuân theo luật hôn nhân một khi người đó kết hôn. Người kết hôn không sáng tạo ra hôn nhân, không phát minh ra hôn nhân, cũng như người bơi lội không sáng tạo, không phát minh ra thiên nhiên và những quy luật về nước, về trọng lực. Vì thế, hôn nhân không thể phục tùng sự tùy tiện của người kết hôn, mà trái lại sự tùy tiện của người kết hôn phải phục tùng bản chất hôn nhân”[2]. Do đó, việc kết hôn giữa nam và nữ buộc phải tuân theo quy định của pháp luật và nếu như có sự vi phạm, thì Tòa án xem xét giải quyết xử lý việc kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên, thực tế kết hôn trái pháp luật xảy ra ở khá nhiều nơi với nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là ở vùng dân tộc thiểu số, nhưng nếu sự vi phạm này không có ai lên tiếng thì cơ quan nhà nước không thể xử lý. Như vậy một trong những điều kiện tiên quyết để những trường hợp kết hôn trái pháp luật bị xử lý là phải có yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền ghi nhận tại Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo đó, Tòa án dựa vào các căn cứ sau để giải quyết:

Thứ nhất, vi phạm về độ tuổi kết hôn. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nam phải từ đủ hai mươi tuổi, còn nữ từ đủ mươi tám tuổi trở lên mới được đăng ký kết hôn. Việc nam nữ chưa phát triển đến độ chín muồi về thể chất cũng như tâm sinh lý thì việc kết hôn đó bị coi là trái pháp luật.

Thứ hai, việc kết hôn vi phạm sự tự nguyện. Điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau”. Việc kết hôn dựa trên sự tự nguyện là một trong những điều kiện để hôn nhân trở thành hợp pháp và được ghi nhận tại điểm b khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định”. Tuy nhiên, ý chí tự nguyện là thuộc chủ quan của mỗi người và người khác khó có thể suy đoán được. Thực tế, đây là một quy định còn gặp nhiều vướng mắc vì cơ quan hộ tịch khó có thể và thậm chí không thể xác định được sự vi phạm điều kiện tự nguyện.

Thứ ba, kết hôn do bị mất năng lực hành vi dân sự. Sở dĩ pháp luật không cho phép những người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn vì mục đích của hôn nhân chính là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, nếu những người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn sẽ không đảm bảo mục đích của hôn nhân.

Thứ tư, việc kết hôn thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể: Kết hôn giả tạo; cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

2. Hướng xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật

2.1. Hủy kết hôn trái pháp luật

Hủy kết hôn trái pháp luật hay còn gọi là biện pháp tiêu hôn, đến nay, chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra định nghĩa hủy kết hôn trái pháp luật. Từ điển tiếng Việt định nghĩa “hủy” là làm cho không tồn tại hoặc làm cho không còn giá trị nữa[3]. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của trường Đại học Luật Hà Nội: “Hủy việc kết hôn trái pháp luật được hiểu là biện pháp chế tài của Luật Hôn nhân và gia đình đối với trường hợp nam nữ kết hôn nhưng không tuân thủ đầy đủ các điều kiện được Luật Hôn nhân và gia đình quy định”[4]. Có thể hiểu, hủy kết hôn trái pháp luật là làm cho quan hệ hôn nhân phải chấm dứt không được tồn tại nữa. Việc hủy kết hôn trái pháp luật thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với những quan hệ hôn nhân sai trái. Bên cạnh việc chấm dứt quan hệ hôn nhân bằng biện pháp ly hôn, thì hủy kết hôn cũng là một trường hợp kết thúc một quan hệ hôn nhân.

Hiện nay, vấn đề hủy kết hôn được quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và được cụ thể hóa tại Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn xử lý việc kết hôn trái pháp luật. Cụ thể, Tòa án sẽ quyết định hủy kết hôn trong hai trường hợp:

Một là, nếu tại thời điểm Tòa án giải quyết mà các bên đăng ký kết hôn vẫn chưa đáp ứng được điều kiện kết hôn, cho dù hai bên có yêu cầu Tòa án công nhận là vợ chồng hợp pháp hay yêu cầu ly hôn, thì bất luận thế nào Tòa án cũng sẽ hủy kết hôn trái pháp luật.

Hai là, tại thời điểm giải quyết mà hai bên đã đủ điều kiện kết hôn, thì Tòa án sẽ hủy kết hôn khi một hoặc cả hai bên có yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật; hoặc một bên yêu cầu công nhận quan hệ vợ chồng hoặc yêu cầu ly hôn, còn bên kia không có yêu cầu. Như vậy, mọi rào cản về điều kiện kết hôn không còn nữa và việc kết hôn trái pháp luật có thể được Nhà nước thừa nhận, nhưng các bên không còn muốn duy trì hoặc một bên không có biểu hiện của sự muốn tiếp tục quan hệ hôn nhân, thì Tòa án sẽ hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Như vậy, hủy kết hôn trái pháp luật là một biện pháp chế tài được áp dụng đối với các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm các điều kiện kết hôn và pháp luật về hôn nhân và gia đình có thái độ phủ định quan hệ hôn nhân đó, buộc các chủ thể phải chấm dứt tình trạng sống chung với nhau như vợ chồng. Tuy nhiên, hủy kết hôn trái pháp luật để lại những hậu quả nhất định và các chủ thể phải gánh chịu tất cả những gì bất lợi đối với bản thân, con cái cũng như về tài sản. Với hướng xử lý hủy kết hôn trái pháp luật hiện nay, thiết nghĩ, cần phải xem xét kỹ rằng, có nên chỉ dựa vào ý chí mong muốn của hai người hay không, mà nên xem xét quy định thêm những tiêu chí khác nữa.

2.2. Công nhận quan hệ vợ chồng

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc công nhận là vợ chồng hợp pháp ngay cả khi việc kết hôn không đáp ứng được điều kiện kết hôn đã có quy định rõ ràng. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 11: “Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó”. Điều này cũng được hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP: “Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình thì Tòa án xử lý như sau: (a) Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân, thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên kết hôn có đủ điều kiện kết hôn”.

Như vậy, để được Tòa án thừa nhận là vợ chồng thì các bên phải đủ điều kiện kết hôn tại thời điểm Tòa án giải quyết, đồng thời, pháp luật đề cao sự công nhận của cả đôi bên, chỉ cần một bên không đồng ý thì coi như quan hệ hôn nhân đó không được Tòa án thừa nhận. Tòa án không xem xét đến quá trình chung sống của các bên trong quá trình kể từ lúc đăng ký kết hôn cho tới lúc giải quyết liệu điều đó có thỏa đáng không? Bởi nguyên nhân dẫn đến cho quan hệ hôn nhân bị hủy có thể xuất phát từ một bên. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho đôi bên, đặc biệt cho phụ nữ và trẻ em, thiết nghĩ, Tòa án cần phải xem xét dưới nhiều góc độ để có cái nhìn toàn diện, từ đó có quyết định thấu tình đạt lý.

2.3. Giải quyết ly hôn

Bên cạnh hướng xử lý hủy bỏ hoặc công nhận là vợ chồng hợp pháp, thì pháp luật hôn nhân còn có quy định cho các bên tiến hành ly hôn. Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ ghi nhận hai hướng xử lý hủy và công nhận. Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thêm hướng xử lý ly hôn. Cụ thể, điểm c khoản 2 Điều 4 của Thông tư này quy định: “Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình thì Tòa án xử lý như sau: ... c) Trường hợp hai bên cùng yêu cầu Tòa án cho ly hôn hoặc có một bên yêu cầu ly hôn, còn bên kia yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, thì Tòa án giải quyết cho ly hôn...”.

Khi đủ điều kiện kết hôn và cả hai bên hoặc một bên mong muốn ly hôn, thì Tòa án sẽ giải quyết ly hôn cho họ. Thực ra, nếu Tòa án giải quyết ly hôn cho các bên cũng đồng nghĩa với việc Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân của các bên là hợp pháp. Bởi theo pháp luật hôn nhân và gia đình, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Ly hôn chỉ dành cho những quan hệ hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

3. Bất cập, vướng mắc gặp phải khi xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

3.1. Về giải quyết công nhận quan hệ vợ chồng

Pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành xem xét công nhận quan hệ vợ chồng ngay cả khi đăng ký kết hôn trái pháp luật dựa vào điều kiện kết hôn đã thỏa mãn tại thời điểm Tòa án giải quyết và được sự công nhận của cả hai bên. Khác với các quy định trước đây, pháp luật hiện hành không căn cứ vào quá trình chung sống của các bên như thế nào mà xem xét công nhận nếu đã đủ điều kiện đăng ký kết hôn và phải có sự đồng ý của cả hai bên. Cụ thể điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP: “Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình thì Tòa án xử lý như sau: a) Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân, thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên kết hôn có đủ điều kiện kết hôn”. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nếu một bên (vợ hoặc chồng) đã chết, họ không thể bày tỏ ý chí của mình được hoặc trường hợp bên còn lại không muốn công nhận quan hệ vợ chồng để được kết hôn với người khác, thì Tòa án sẽ xử lý thế nào? Xin đơn cử ví dụ:

Năm 2017, TAND huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình thụ lý đơn yêu cầu với nội dung như sau: anh Nguyễn Đức T sinh năm 1964 (chết năm 2017) và chị Nguyễn Thị T có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện M, tỉnh Hà Tây năm 1985. Ngày 21/4/2008, anh T nộp đơn xin ly hôn với chị T và TAND huyện M, tỉnh Hà Tây xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh và chị T. Tuy nhiên, trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp giữa anh T và chị T, thì anh T đã làm thủ tục đăng ký kết hôn với chị H tại UBND xã K cụ thể vào năm 1996. Căn cứ vào Luật Hôn nhân và gia đình, việc anh T kết hôn với chị H trong khi đang tồn tại hôn nhân hợp pháp giữa anh T và chị T là kết hôn trái pháp luật. Chị Nguyễn Thị H cũng thừa nhận việc kết hôn của mình là trái pháp luật, nhưng chị có đề nghị Tòa án căn cứ vào khoản 2, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP để công nhận hôn nhân giữa chị và anh T từ năm 2008 (thời điểm anh T và chị T ly hôn). Tuy nhiên, Tòa án xét thấy, chỉ có mình chị H có yêu cầu công nhận (vì hiện nay anh T đã chết) và không thỏa mãn yếu tố “hai bên kết hôn cùng yêu cầu”. Do đó, Tòa án không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu công nhận quan hệ vợ chồng và ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật[5].

Rõ ràng, việc hủy kết hôn trong tình huống này không mang lại ý nghĩa gì cả, trong khi cuộc sống giữa anh T và chị H không có biểu hiện bất hòa hay mâu thuẫn trong suốt quãng thời gian họ chung sống với nhau. Và hơn nữa, yếu tố trái pháp luật nay cũng không còn nữa, anh T và chị T đã ly hôn từ năm 2008. Tuy nhiên, muốn được công nhận là vợ chồng hợp pháp, thì pháp luật đòi hỏi phải có sự đồng ý của cả hai bên, nhưng hiện tại anh T đã không còn và điều đó có nghĩa anh T không thể nào thể hiện được ý chí của mình được. Theo quan điểm của tác giả với những trường hợp này, Tòa án nên thừa nhận quan hệ hôn nhân của chị H và anh T là vợ chồng hợp pháp kể từ thời điểm anh T và chị T ly hôn. Thiết nghĩ, nên tạo cơ chế giải quyết linh hoạt, mềm dẻo cho Tòa án Việt Nam cân nhắc việc công nhận quan hệ vợ chồng khi đăng ký kết hôn trái pháp luật.

3.2. Khi Tòa án dựa vào yêu cầu của một bên để xử lý

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn xử lý việc kết hôn trái pháp luật dựa vào yêu cầu của các bên trong việc kết hôn, song việc căn cứ vào yêu cầu của chủ thể kết hôn trái pháp luật sẽ gặp một số bất cập. Xin đơn cử ví dụ: Chị Linh và anh Bình yêu nhau và có đăng ký kết hôn. Sau khi sinh con, anh Bình thường xuyên vắng nhà không có lý do. Chị Linh nghi ngờ thì bị anh chồng mắng chửi và đánh đập, sau đó anh Bình đã bế con trai bỏ đi. Đi tìm con, chị Linh vô cùng bàng hoàng phát hiện ra trước khi kết hôn với mình, anh Bình đã có vợ là Ngọc. Chị Linh đã nộp đơn xin hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị và anh Bình[6]. Việc hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Bình và chị Linh là đúng với quy định của pháp luật. Xét ở khía cạnh nào đó, để bị hủy kết hôn trái pháp luật lỗi thuộc về anh Bình do anh Bình đã lừa dối chị Linh và chị Linh hoàn toàn không biết anh đã từng kết hôn. Tình huống mà tác giả phân tích đang đề cập đến yếu tố lỗi và trách nhiệm của người có lỗi. Hiện nay, pháp luật hôn nhân và gia đình chưa có điều khoản nào quy định trách nhiệm của người có lỗi làm cho quan hệ hôn nhân trở nên bất hợp pháp và bị hủy. Đồng thời, việc xử lý việc kết hôn trái pháp luật hiện nay cũng không xem xét tới yếu tố lỗi của các bên.

Để xử lý việc kết hôn trái pháp luật như hiện nay, bên cạnh việc Tòa án căn cứ vào đơn yêu cầu của các bên đăng ký kết hôn trái pháp luật và các điều kiện kết hôn trái pháp luật thì cần phải xem xét thêm yếu tố lỗi của họ. Cụ thể ở đây là lỗi để việc kết hôn đáng lẽ hợp pháp nhưng trở thành trái pháp luật và bị hủy. Đặc biệt đối với những trường hợp một bên yêu cầu công nhận, một bên lại yêu cầu hủy nhưng xét thấy họ đã đủ điều kiện kết hôn và mục đích của người yêu cầu hủy kết hôn là để được đăng ký kết hôn với người khác thì Tòa án phải cân nhắc để giải quyết. Hay nói cách khác, Tòa án dựa vào lỗi để xem xét công nhận quan hệ hôn nhân có nguy cơ bị hủy bỏ để từ đó có cơ sở xử lý việc kết hôn trái pháp luật về sau.

ThS. Nguyễn Thị Phương

Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh





[1]. http://tratu.coviet.vn/hoc-tieng-anh/tu-dien/lac-viet/all/x%E1%BB%AD+l%C3%BD.html, truy cập ngày 8/6/2020.

[2]. C.Mác - Ph.Ăngghen (1978), Bản dự luật về ly hôn, tập 1, Nxb. Sự thật Hà Nội, tr.128.

[3]. https://www.rung.vn/dict/vn_vn/Hu%E1%BB%B7, truy cập ngày 09/6/2020.

[4]. Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

[5]. Quyết định số 01/2017/HNGĐ-ST ngày 29/8/2017 về “V/v hủy kết hôn trái pháp luật” của TAND huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.

[6]. Phan Thân, “Vợ chồng lách luật để kết hôn với nhiều người cùng lúc”, https://vnexpress.net/doi-song/vo-chong-lach-luat-de-ket-hon-voi-nhieu-nguoi-cung-luc-3751149.html, truy cập ngày 09/6/2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: