Thứ sáu 29/05/2026 23:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp - Một số vấn đề đặt ra khi sửa đổi, bổ sung Nghị định số 99/2013/NĐ-CP

Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005. Theo đó, nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ về xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp (Nghị định số 99/2013/NĐ-CP). Quá trình tổ chức thực hiện Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Xử lý vi phạm hành chính đã có nhiều quy định được sửa đổi, bổ sung. Do vậy, ngày 30/12/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 126/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 99/2013/NĐ-CP (Nghị định số 126/2021/NĐ-CP).

Ngày 16/6/2022, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ đã được thông qua tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2023 với một số quy định sửa đổi, bổ sung liên quan trực tiếp, đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung các nội dung tương ứng tại Nghị định số 99/2013/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 126/2021/NĐ-CP. Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đang được giao nghiên cứu xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 99/2013/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 126/2021/NĐ-CP (Dự thảo) và lấy ý kiến các bộ, ngành, đơn vị liên quan trước khi gửi Bộ Tư pháp thẩm định theo quy định. Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy một số nội dung quy định tại Dự thảo vẫn còn điểm bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn và Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Hải quan, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cụ thể:

Thứ nhất, việc bỏ quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi quá cảnh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu.

Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 2 Dự thảo thì bãi bỏ cụm từ “kể cả quá cảnh” tại điểm a khoản 1 Điều 10, điểm a khoản 1 Điều 11, điểm a khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 13, điểm a khoản 1 Điều 14; bãi bỏ cụm từ “quá cảnh” tại khoản 4 Điều 15. Theo đó, Dự thảo bỏ việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi quá cảnh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Tác giả cho rằng, việc bỏ quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi quá cảnh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là không phù hợp với cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, cụ thể:

Tại mục c khoản 5 Điều 18.76 Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) yêu cầu: Thực thi kiểm soát hải quan đối với hàng hóa quá cảnh bị nghi ngờ xâm phạm khi vận chuyển từ cơ quan hải quan này đến cơ quan hải quan khác trên lãnh thổ của bên mà từ đó hàng hóa được xuất đi; yêu cầu mỗi bên phải nỗ lực trừ bỏ hoạt động thương mại quốc tế về hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc hàng sao chép lậu quyền tác giả. Theo điểm f khoản 4 Điều 18.83 về điều khoản bảo lưu thì: Điều 18.76.5(c) (Các yêu cầu đặc biệt liên quan tới các biện pháp tại biên giới), đối với hành động mặc nhiên các biện pháp tại biên giới đối với hàng quá cảnh, là hai năm. Theo quy định này, Hiệp định yêu cầu Việt Nam quy định thẩm quyền chủ động tiến hành các biện pháp tại biên giới của cơ quan hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, tập kết để xuất khẩu hoặc nhập khẩu bị nghi ngờ là giả mạo nhãn hiệu hoặc sao lậu quyền tác giả và từ ngày 14/01/2021, Việt Nam phải nghiêm túc thực hiện quy định về kiểm soát hàng hóa quá cảnh để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Mặt khác, theo kết quả thống kê toàn ngành tính từ năm 2017 đến năm 2022, đã bắt giữ, xử lý 290 vụ vi phạm liên quan đến sở hữu trí tuệ và hàng giả, trị giá tang vật trên 816 tỷ đồng, trong đó có 70% số vụ việc cơ quan hải quan phát hiện, bắt giữ từ các vụ việc vi phạm trong hoạt động quá cảnh hàng hóa từ Việt Nam đi Campuchia và Lào. Riêng năm 2020, khi thực hiện kiểm tra theo chuyên đề đối với 132 container hàng hóa quá cảnh, cơ quan hải quan đã phát hiện có 91/132 container vi phạm (tỷ lệ 75,8%), trong đó có 35/91 container chứa hàng giả của các nhãn hiệu nổi tiếng (tỷ lệ 38,5%), 56/91 container hàng hóa không khai báo, sai khai báo (tỷ lệ 61,5%), chủ yếu là các mặt hàng liên quan đến quần áo, giày dép, túi xách, ví, mỹ phẩm...

Hiện nay, tình trạng hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đang “tràn ngập” trên thị trường nên nếu không có chế tài xử lý đối với hành vi quá cảnh thì tình trạng lợi dụng loại hình quá cảnh đi Campuchia, Lào sau đó thẩm lậu quay trở lại Việt Nam là rất lớn, không bảo đảm thực thi cam kết của Việt Nam, gây phản ứng của chủ sở hữu quyền và gây khó khăn cho quá trình bắt giữ, xử lý của cơ quan hải quan. Vì vậy, tác giả cho rằng, cần giữ nguyên quy định như hiện hành để bảo đảm thực thi cam kết tại Hiệp định CPTPP, phòng ngừa rủi ro từ hoạt động quá cảnh hàng hóa, tránh các đối tượng lợi dụng Việt Nam trở thành nơi “trung chuyển hàng hóa giả mạo nhãn hiệu”.

Thứ hai, xử lý hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, hàng giả mạo là hàng hóa xuất khẩu.

Điều 18.76.5(b) Hiệp định CPTPP yêu cầu áp dụng các biện pháp tại biên giới đối với hàng xuất khẩu và cho phép Việt Nam bảo lưu 03 năm (ngày 14/01/2022).

Tại Điều 12.58 Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) về phạm vi của các biện pháp kiểm soát biên giới yêu cầu mỗi bên phải ban hành hoặc duy trì các thủ tục cho phép chủ thể quyền có thể nộp đơn yêu cầu cơ quan hải quan đình chỉ việc nhập khẩu và xuất khẩu hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; cơ quan hải quan phải, phù hợp với thủ tục quốc gia, dừng thông quan hàng hóa nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Theo quy định của Luật Hải quan hiện hành (Điều 74, Điều 75, Điều 76) cũng như Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành (Điều 199, Điều 200, Điều 216, Điều 217, Điều 218) thì đều có quy định cho phép cơ quan hải quan được quyền áp dụng các biện pháp kiểm soát biên giới theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa xuất khẩu. Tuy nhiên, qua rà soát tại Nghị định số 99/2013/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 126/2021/NĐ-CP cho thấy, chưa có chế tài xử lý hành chính đối với hành vi xuất khẩu hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và Dự thảo lần này cũng không quy định xử lý vi phạm đối với hành vi xuất khẩu hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Điều này gây khó khăn cho công tác xử lý vi phạm đối với cơ quan hải quan. Vì vậy, tác giả cho rằng, Ban soạn thảo cần nghiên cứu bổ sung quy định xử lý đối với hành vi xuất khẩu hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Thứ ba, quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 15 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 126/2021/NĐ-CP thì cơ quan hải quan có thẩm quyền xử phạt hành vi vi phạm quy định tại các điều 6, 9, 10, 11, 12, 13 và 14 của Nghị định này trong hoạt động “quá cảnh, nhập khẩu”. Như vậy, cơ quan hải quan chỉ có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động quá cảnh, nhập khẩu hàng hóa. Đối với các hoạt động khác như vận chuyển, xuất khẩu,... cơ quan hải quan không có thẩm quyền xử phạt mà phải chuyển cho cơ quan khác có thẩm quyền. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 7, Điều 88, Điều 89 Luật Hải quan hiện hành, cơ quan hải quan là cơ quan chủ trì đấu tranh phòng, chống và xử lý các vi phạm phát sinh liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh. Điều này gây khó khăn trong hoạt động xử lý vi phạm của cơ quan hải quan. Do đó, tác giả cho rằng, Ban soạn thảo cần nghiên cứu bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho cơ quan hải quan về hành vi vận chuyển, xuất khẩu hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Thứ tư, việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 17 Điều 11 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 126/2021/NĐ-CP và khoản 13 Điều 12 Nghị định này là chưa thống nhất.

Theo đó, đối với hành vi buôn bán, vận chuyển quá cảnh hành hóa xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu... tại khoản 17 Điều 11 chỉ yêu cầu người vi phạm buộc loại bỏ yếu tố vi phạm và tiêu hủy yếu tố vi phạm đối với hành vi vi phạm, trong khi đó, hành vi buôn bán, vận chuyển quá cảnh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu... lại buộc tiêu hủy hoặc tái xuất. Do đó, trong cùng một vụ việc có hàng hóa xâm phạm quyền và hàng hóa giả mạo nhãn hiệu mà hai loại hàng hóa này đều có thể loại bỏ yếu tố vi phạm nhưng đối với hàng hóa xâm phạm quyền thì pháp luật hiện hành cho phép nhập khẩu, còn hàng hóa giả mạo nhãn hiệu pháp luật yêu cầu buộc tái xuất. Điều này, gây khó khăn cho công tác xử lý vi phạm của cơ quan hải quan.

Do đó, tác giả cho rằng, Ban soạn thảo cần nghiên cứu việc quy định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thống nhất đối với hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và hàng hóa giả mạo nhãn hiệu trong trường hợp hàng hóa có thể loại bỏ được yếu tố vi phạm.

NCS. Phạm Văn Bằng

Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan

Ảnh: internet

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: