Chủ nhật 15/03/2026 08:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ý nghĩa của hoạt động thi hành án dân sự trong đời sống xã hội

Khi bàn về vai trò, ý nghĩa của hoạt động thi hành án dân sự (THADS), nguyên Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải cho rằng: “Thi hành án dân sự là công việc có nhiều khó khăn, phức tạp nhưng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì kỷ cương phép nước. Việc thi hành án tác động trực tiếp đến các lợi ích vật chất và tinh thần của người phải thi hành án và người được thi hành án, đến danh dự, uy tín của người này và gia đình họ”.

1. Ý nghĩa của hoạt động thi hành án dân sự trong đời sống xã hội

Cùng quan điểm như vậy, Giáo sư James F Harrigan, chuyên gia tư vấn pháp lý cho cơ quan thi hành án San Francisco, California, Hoa Kỳ cho rằng: “Việc thi hành các bản án của quốc gia là yếu tố quan trọng nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Tất cả các hệ thống pháp luật đều dựa vào các Tòa án để giải thích pháp luật bằng cách áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp liên quan đến cá nhân, tổ chức và nhà nước. Việc thực hiện các quyết định đã xem xét của Tòa án đạt được bằng nỗ lực pháp luật và sự tham gia của các bên tranh chấp chỉ được công nhận trong việc thi hành các bản án của Tòa án được đưa ra để giải quyết các tranh chấp. Việc thi hành đó, tiếp theo quá trình, là một phần không kém quan trọng. Nếu bản án không được thi hành, có nghĩa pháp luật mà bản án căn cứ vào không có ý nghĩa trên thực tế. Vì lý do đó, có một khái niệm riêng giữa hệ thống luật chung và Luật Dân sự khác là bản án phải được coi là chung thẩm, có giá trị ràng buộc, và có thể thi hành ngay sau khi ban hành, và việc thi hành án là quyền ưu tiên cao nhất của một hệ thống pháp luật”[2].

Có thể khái quát ý nghĩa của hoạt động THADS qua mấy điểm sau:

Một là, đảm bảo hiệu lực thi hành của bản án, quyết định về mặt thực tế

Để đảm bảo tốt nhất quyền lợi cho các đương sự cũng như đảm bảo hiệu lực thi hành của bản án, quyết định, cơ quan thi hành án phải áp dụng các biện pháp thi hành án để tổ chức thi hành các phán quyết này. Việc áp dụng các biện pháp THADS của cơ quan thi hành án là để đảm bảo: “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” theo đúng quy định tại Điều 106 Hiến pháp năm 2013.

Với tính chất đặc thù của THADS là hoạt động liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân khác nhau trong xã hội và thường liên quan đến quyền sở hữu tài sản của công dân, vì vậy, THADS dễ dẫn đến xâm phạm quyền con người, quyền công dân, do đó cần phải có cơ chế giám sát, kiểm tra đối với hoạt động THADS. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hiện nay có rất nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện việc kiểm tra, giám sát, như: Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, Ban chỉ đạo thi hành án..., bên cạnh đó là quyền kiểm sát của Viện kiểm sát, điều này đảm bảo cho hoạt động thi hành án được thực hiện có hiệu quả, đúng pháp luật, song cần có quy định phù hợp hơn, hạn chế sự can thiệp không có căn cứ pháp luật vào hoạt động thi hành án của chấp hành viên.

Hai là, thi hành án dân sự là công cụ quan trọng để bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án được xác định trong bản án, quyết định

Pháp luật THADS quy định và bảo vệ quyền được tự nguyện, quyền được thỏa thuận trong thi hành án cho các đương sự, bởi thực chất của việc THADS là việc tổ chức và thực thi các phán quyết có nguồn gốc về pháp luật nội dung là luật tư[3]. Trong mọi giai đoạn của quá trình thi hành án, đương sự đều có quyền thỏa thuận, định đoạt các vấn đề liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong bản án, quyết định. Đây là một quyền quan trọng của đương sự trong THADS. “Vấn đề dân sự, thương sự cốt ở hai bên, đó là nguyên tắc xuyên suốt, chỉ yêu cầu Nhà nước can thiệp khi họ không thể tự giải quyết. Việc tự giải quyết không chỉ làm giảm gánh nặng của cơ quan thi hành án, mà còn làm tăng tình đoàn kết giữa hai bên. Nhất là truyền thống của Việt Nam khuyến khích hòa giải ở bất kỳ giai đoạn nào. Do đó, theo chúng tôi nghĩ cần giữ nguyên tắc để các bên thi hành án tự nguyện thi hành, khi bên phải thi hành cố tình không thực hiện, bên được thi hành án có yêu cầu thì cơ quan thi hành án mới vào cuộc”[4].

Không giống như nhiều nước trên thế giới quy định Tòa án là cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thi hành án, ở Việt Nam, thẩm quyền này được giao cho cơ quan THADS. Mặc dù thẩm quyền ra quyết định và tổ chức thi hành án khác nhau, tuy nhiên, điểm chung trong pháp luật các nước, đó là đảm bảo kiểm soát việc sử dụng biện pháp chế tài trong THADS - chỉ Nhà nước mới có quyền thực hiện cưỡng chế thi hành án. Nhà nước giao cho cơ quan THADS, chấp hành viên thực hiện. Mọi cá nhân, tổ chức khác không được phép sử dụng quyền lực để buộc người khác thực hiện nghĩa vụ của họ nếu pháp luật không cho phép.

Khi bàn về cưỡng chế thi hành án, Giáo sư Claude Brenner, trường Đại học Panthéon - Assas cho rằng: “Trong một nhà nước pháp quyền, cơ quan quyền lực nhà nước là cơ quan duy nhất có thẩm quyền thực hiện cưỡng chế thi hành án. Do đó, cưỡng chế thi hành án chỉ liên quan đến các cơ quan quyền lực nhà nước. Khi tiến hành cưỡng chế thi hành, cơ quan quyền lực nhà nước cần có sự hỗ trợ của quyền lực công. Các cá nhân không thể thao túng hoạt động này, cũng như không thể làm sai lệch việc tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật. Bởi đây là hoạt động dựa trên cơ sở quyền lực”[5].

Ba là, góp phần nâng cao chất lượng của bản án, quyết định

Thông qua kết quả thi hành án, công tác xét xử được củng cố, bản án, quyết định được đảm bảo thi hành trong thực tế, đồng thời thông qua việc áp dụng các biện pháp thi hành án, nếu có sai sót trong bản án, quyết định được thi hành, cơ quan thi hành án sẽ có những kiến nghị thích hợp, giúp cho cơ quan ra bản án, quyết định có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm trong việc áp dụng pháp luật, nhằm nâng cao chất lượng của bản án, quyết định.

Bốn là, nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân

Việc tự nguyện thi hành án, đặc biệt là những trường hợp đương sự thỏa thuận được với nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định, sẽ tác động tích cực đến quyền lợi của các bên đương sự: Bên được thi hành án sớm khôi phục lại quyền lợi của mình; bên phải thi hành án có thể giảm được một phần nghĩa vụ theo bản án, quyết định, giảm được các thiệt hại so với trường hợp cơ quan thi hành án tổ chức thi hành, như giảm các chi phí cưỡng chế thi hành án, lãi suất chậm thi hành án. Với những ý nghĩa như vậy, sẽ thúc đẩy các đương sự ý thức tự nguyện trong việc thi hành án, cũng như thái độ, ý thức khi thỏa thuận với nhau trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong bản án, quyết định, đồng thời nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân.

2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự

Thứ nhất, nâng cao chất lượng bản án, quyết định

Có thể khẳng định hoạt động THADS xuất phát và gắn liền với hoạt động xét xử của Tòa án. Xét xử và thi hành án là hai mặt của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Xét xử là tiền đề của thi hành án, không có xét xử thì không có thi hành án. Ngược lại, thi hành án tiếp nối với xét xử làm cho bản án, quyết định có hiệu lực trên thực tế nên có tác dụng củng cố kết quả xét xử. Do vậy, một bản án, quyết định được tuyên đầy đủ, rõ ràng, chính xác, phù hợp thực tế, là cơ sở để đảm bảo hiệu quả của hoạt động THADS, ngược lại, nếu tuyên không chính xác, không đầy đủ, rõ ràng hoặc không phù hợp tình hình thực tế, sẽ gây khó khăn rất lớn cho hoạt động THADS, nhiều trường hợp bế tắc, không thi hành được. Vì vậy, cần phải: (i) Nâng cao năng lực, trình độ cho cán bộ thẩm phán, rèn luyện ý thức trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, thường xuyên mở lớp đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức các cuộc họp rút kinh nghiệm, khen thưởng, xử lý kỷ luật kịp thời; (ii) Xử lý trách nhiệm của thẩm phán trong việc ra bản án, quyết định nhưng bị sửa, bị hủy, chậm chuyển giao hoặc chậm giải thích bản án, quyết định.

Thứ hai, sửa đổi Luật Thi hành án dân sự theo hướng bảo vệ triệt để quyền lợi cho người được thi hành án

Theo chúng tôi, nên bỏ quy định về biện pháp tự nguyện thi hành án, không nên quy định tự nguyện thi hành án là một biện pháp bắt buộc trong THADS, đây cần được xem quyền của người phải thi hành án, họ có thể thỏa thuận với bên được thi hành án để tự thực hiện nghĩa vụ của mình, Nhà nước không cần can thiệp vào việc này. Khi người được thi hành án yêu cầu cơ quan nhà nước tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án cần nhanh chóng triển khai áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án, việc quy định biện pháp tự nguyện thi hành án trong trường hợp này không cần thiết, kéo dài việc thi hành án. Bởi lẽ, trong quá trình theo đuổi vụ tranh chấp, nhiều trường hợp bên phải thi hành án đã biết được kết quả có thể của vụ kiện, đặc biệt sau khi đã có bản án, quyết định, nghĩa vụ thi hành án của họ đã được xác định rõ, thông thường từ khi bản án, quyết định có hiệu lực đến khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án là khoảng thời gian dài, nhưng người phải thi hành án vẫn không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình, vì vậy, Luật Thi hành án dân sự hiện hành quy định thời hạn 10 ngày để bên phải thi hành án tự nguyện thực hiện nghĩa vụ sau khi có quyết định thi hành án là không cần thiết. Thực tiễn về THADS cho thấy người phải thi hành án thường có xu hướng tìm mọi cách để tẩu tán, che dấu tài sản, trốn tránh việc thi hành án, do vậy, việc quy định khoảng thời gian tự nguyện thi hành án như hiện nay vô hình trung tạo điều kiện cho người phải thi hành án tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thi hành án.

Thứ ba, cần sớm xây dựng và ban hành pháp luật về đăng ký tài sản

Một trong những khó khăn, làm giảm hiệu lực, hiệu quả THADS là do không xác định được tài sản của bên phải thi hành án. Để khắc phục tình trạng này, cần sớm xây dựng và ban hành Luật về đăng ký tài sản theo hướng tất cả tài sản là bất động sản và các động sản phải đăng ký quyền sở hữu phải được quản lý thống nhất bởi một cơ quan chủ quản. Với những tài sản có giá trị lớn phải có đầy đủ hồ sơ, lý lịch. Như vậy sẽ đảm bảo: (i) Tạo điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể tìm hiểu về nguồn gốc của những tài sản này trước khi quyết định thực hiện giao dịch; (ii) Tạo điều kiện thuận lợi trong việc xác minh tài sản của người phải thi hành án, để thực hiện các biện pháp nghiệp vụ trong thi hành án; (iii) Là cơ sở để xây dựng Luật Thi hành án dân sự theo đúng bản chất của hoạt động này - hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi cho chủ thể có quyền và phù hợp với thông lệ chung của những nước có hệ thống pháp luật thi hành án hiệu quả trên thế giới: Người được thi hành án sẽ chủ động thúc đẩy quá trình thi hành án và phải có trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án[6].

Pháp luật THADS của Việt Nam trước đây đã xây dựng theo hướng này, tuy nhiên khi áp dụng lại không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam, vì pháp luật về đăng ký tài sản của Việt Nam chưa hoàn thiện, gây nhiều khó khăn cho người được thi hành án khi chứng minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Vì vậy, quy định này đã được sửa đổi lại thành quyền của người được thi hành án cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án, song đây chỉ là giải pháp tạm thời. Khi hệ thống pháp luật về đăng ký tài sản hoàn thiện, khó khăn này cơ bản sẽ được khắc phục, hơn nữa, về thực chất của những tranh chấp trong lĩnh vực dân sự, thì người được thi hành án là người có quan hệ bạn bè, đối tác làm ăn, thế chấp, vay mượn... với người phải thi hành án và cũng là người tham gia trong quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, nên họ là người nắm rõ các thông tin về tài sản, nhân thân của người phải thi hành án, vì vậy, khi sửa đổi toàn diện Luật Thi hành án dân sự, việc giao cho người được thi hành án tự xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án là phù hợp với bản chất của hoạt động THADS và thông lệ quốc tế.

Thứ tư, nâng cao vai trò của luật sư trong hoạt động thi hành án dân sự

Hiện nay, nước ta có trên 11.000 luật sư đã và đang tham gia tích cực, hiệu quả vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của Nhà nước và các tổ chức kinh tế - xã hội, góp phần bảo vệ công lý, xây dựng nền tư pháp dân chủ và pháp quyền, phục vụ nhân dân, doanh nghiệp[7]. Luật sư là những người am hiểu pháp luật, thường có kinh nghiệm trong việc ký kết hợp đồng, giải quyết tranh chấp cũng như THADS, vì vậy, sự tham gia của luật sư vào giai đoạn thi hành án có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thi hành án. Do đó, cần nâng cao vai trò của luật sư trong THADS. Cụ thể: Bên cạnh quy định của Luật Luật sư về nhiệm vụ, quyền hạn cũng như trách nhiệm của luật sư, khi sửa đổi toàn diện Luật Thi hành án dân sự, cần bổ sung điều luật ghi nhận nhiệm vụ, quyền hạn của luật sư trong Luật này. Bởi lẽ, hiện nay chưa có quy định cụ thể quyền của luật sư trong hoạt động thi hành án, như quyền được tham gia vào toàn bộ hoạt động thi hành án; quyền làm việc trực tiếp và bằng văn bản với cơ quan thi hành án; quyền xác minh điều kiện thi hành án...

Thứ năm, cần xem xét lại quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thẩm quyền và trách nhiệm của người kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm

Một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động THADS là tình trạng thiếu “tính chung thẩm của bản án, quyết định”, để hạn chế tình trạng này, pháp luật tố tụng dân sự cần hạn chế quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng người có thẩm quyền kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ được thực hiện quyền này trong hai trường hợp: (i) Khi đương sự có yêu cầu; (ii) Kháng nghị nhằm đảm bảo sự thống nhất pháp luật, bảo vệ trật tự công cộng.

Đảm bảo “tính chung thẩm của bản án, quyết định” là nguyên tắc cơ bản của thông lệ quốc tế. “Các nguyên tắc và quy tắc xác định các điều kiện của tính chung thẩm cản trở việc mở lại một vụ án đã hoàn thành việc xét xử. Việc xét xử công bằng là sự công bằng hiệu quả nhất mà doanh nghiệp có thể đạt được. Trên cơ sở đó vụ xét xử phải được giữ nguyên kể cả khi có một lý do nào đó để cho rằng có thể đạt được một kết quả khác, trừ khi có chứng cứ gian lận rõ ràng trong thủ tục tố tụng hoặc bằng chứng xác quyết mà trước đó chưa được tiết lộ và không được phát hiện hợp lý vào thời điểm đó”[8]. Bên cạnh đó, cũng cần quy định rõ trách nhiệm của người kháng nghị, trong trường hợp kháng nghị không có căn cứ pháp luật, làm ảnh hưởng đến hoạt động THADS. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thực ra đã bao quát trường hợp này, tuy nhiên trong thực tiễn, vẫn chưa phát huy hiệu quả những quy định này.

Thứ sáu, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Một trong những mục tiêu chính khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là nhằm bảo toàn tình trạng tài sản, tránh việc tẩu tán, phá tán, hủy hoại tài sản, gây khó khăn cho việc thi hành án. Vì vậy, đây là một trong những biện pháp bảo toàn tài sản được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành. Tuy nhiên, quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của đương sự chỉ được pháp luật thừa nhận trong trường hợp đương sự yêu cầu cùng với việc khởi kiện vụ tranh chấp ra Tòa án. Chúng tôi cho rằng, khi sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự, cần thừa nhận quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cho đương sự không cần thiết phải gắn liền với yêu cầu khởi kiện vụ án, bởi lẽ, theo quy định hiện nay, trong nhiều trường hợp sẽ làm mất đi tính cấp thiết của việc bảo toàn tình trạng tài sản. Hướng sửa đổi sẽ là: Đương sự có quyền chỉ yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, không yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp; yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, sau đó mới yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, để tránh tình trạng yêu cầu của đương sự xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, cần quy định biện pháp bảo đảm đối với đương sự có yêu cầu như pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.

Có thể khẳng định, hoạt động THADS là một vấn đề hết sức hệ trọng, liên quan trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, đến trật tự kỷ cương pháp luật và ảnh hưởng sâu sắc đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, hay nói rộng hơn là quyền dân sự cơ bản của con người, như quyền về tài sản, quyền được lao động, quyền tự do, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm[9]. Trong Nhà nước pháp quyền, Nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo các quyền cơ bản cho công dân, như quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, đảm bảo quyền sở hữu về tài sản, chỗ ở... Vì vậy, ngoài việc có các chính sách thích hợp đảm bảo cho công dân thực hiện và phát huy các quyền này, Nhà nước phải có hệ thống pháp luật và các cơ quan tư pháp đảm bảo xét xử, xử lý kịp thời, công bằng hành vi vi phạm, đồng thời, phải đảm bảo cho các phán quyết được thực hiện một cách đầy đủ, nhanh chóng trên thực tế. Nói cách khác, quyền được đảm bảo thi hành án phải được xem là quyền cơ bản của công dân trong Nhà nước pháp quyền.

TS. Lê Vĩnh Châu

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Phan Văn Khải (2003), “Thi hành án dân sự có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ pháp chế, duy trì kỷ cương phép nước”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số đặc biệt 10 năm công tác thi hành án dân sự.

[2]. Báo cáo và các đề xuất của Star Việt Nam về dự thảo Bộ luật Thi hành án của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp.

[3]. Như: Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Lao động, Luật Thương mại...

[4]. Phát biểu của Bộ trưởng Hà Hùng Cường tại phiên thảo luận về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, Báo Pháp luật Việt Nam, ngày 03/11/2014.

[5]. Claude Brenner, Gs trường Đại học tổng hợp Panthéon - Assas, Cộng hòa Pháp (2006), “Lựa chọn mô hình tổ chức thi hành án phù hợp với điều kiện của mỗi quốc gia”. Nguồn: Vụ pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp, Tài liệu tham khảo dự thảo Luật Thi hành án dân sự.

[6]. Vụ pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp, Star - Việt Nam, “Đề xuất của Star đối với việc sửa đổi dự thảo Luật Thi hành án dân sự”, tr. 1.

[7]. Trần Xuân Tiền (2014), “Vai trò của luật sư trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thi hành án, góp phần bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp”, nguồn: http://dongdoilaw.vn/news/hoat-dong/vai-tro-của-luat-su-trong-việc-nang-cao-hieu-luc-hieu-qua-cong-tac-thi hành án -gop-phan-bao-ve-quyen-loi-doanh-nghiep-637, truy cập ngày 10.5.2014.

[8]. James F. Harrigan (2005), “Báo cáo và các đề xuất của Star Việt Nam về dự thảo Bộ luật thi hành án”, tr. 3.

[9]. Nguyễn Quang Thái (2008), “Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sỹ Luật học, tr. 65.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: