Chủ nhật 10/05/2026 21:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Yếu tố tác động đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hiện nay[1]

Bài viết đánh giá các yếu tố tác động đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, từ đó, xác định các giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác này.

Trong những năm qua, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) luôn được xác định là một trong những nhiệm vụ có tính khách quan, cấp thiết, có ý nghĩa xã hội đặc biệt quan trọng, hướng tới cung cấp, trang bị cho đồng bào DTTS&MN những kiến thức, hiểu biết pháp luật; từ đó, hình thành ý thức tôn trọng, tuân theo pháp luật, biết sử dụng pháp luật một cách chủ động, tích cực và đúng đắn, góp phần phát huy vai trò, hiệu lực của pháp luật trong thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS); bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền được thông tin về pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

1. Các yếu tố tác động đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hiện nay

1.1. Yếu tố địa lý, điều kiện tự nhiên

Đồng bào DTTS thường sinh sống ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa và tập trung chủ yếu ở một số tỉnh khu vực miền núi phía Bắc (khoảng 6,7 triệu người), Tây Nguyên (khoảng 02 triệu người), Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (1,9 triệu người), Tây Nam Bộ (1,4 triệu người); dân số còn lại sinh sống rải rác ở các tỉnh, thành phố trong cả nước. Một số dân tộc như: Khmer, Chăm, Hoa sinh sống tập trung ở vùng đồng bằng và các đô thị (Trung Bộ và Nam Bộ...), các DTTS còn lại sinh sống chủ yếu ở vùng miền núi có địa hình phức tạp, hiểm trở, chia cắt; giao thông đi lại rất khó khăn; chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, thiên tai thường hay xảy ra. Đây cũng là vùng kinh tế - xã hội có xuất phát điểm thấp, đời sống vật chất và tinh thần còn có khoảng cách so với mặt bằng chung của cả nước[2]. Nhiều khu vực có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại và bảo vệ môi trường sinh thái như khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây Duyên hải miền Trung.

Vì vậy, địa lý, điều kiện tự nhiên là một trong những yếu tố có tác động lớn đến chất lượng, hiệu quả PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN. Cụ thể, đồng bào DTTS thường sinh sống rải rác, cách xa nhau hoặc cư trú đan xen lẫn nhau, không có vùng lãnh thổ riêng dẫn đến khó khăn trong việc lựa chọn nội dung, hình thức phổ biến phù hợp, trong việc phân loại đối tượng, ngôn ngữ và tập trung người dân để thực hiện PBGDPL, cũng như thực hiện PBGDPL lồng ghép với các hoạt động văn hóa, lễ hội của địa phương.

1.2. Yếu tố điều kiện kinh tế - xã hội

Yếu tố kinh tế - xã hội bao gồm tổng thể các yếu tố về kinh tế - xã hội, các quy định của hệ thống chính sách kinh tế - xã hội, cũng như quá trình triển khai thực hiện, áp dụng trong thực tế. Đây chính là yếu tố tác động sâu sắc đến tính bền vững của công tác PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, cũng như hoạt động đầu tư phát triển kinh tế tại vùng đồng bào DTTS&MN. Đồng thời, điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng, tác động trở lại quan trọng tới công tác PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN thông qua việc tác động đến nhận thức, tình cảm, thái độ đầu tư cho vị trí, vai trò của PBGDPL, giúp cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động PBGDPL. Khi điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng được bảo đảm, đời sống vật chất được nâng cao tại vùng được coi là “vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” thì người dân tin tưởng vào chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, qua đó, sẽ thúc đẩy công tác quản lý nhà nước về PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN ngày càng có hiệu lực, hiệu quả, thôi thúc người dân tham gia hoạt động PBGDPL nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật.

Khi điều kiện kinh tế - xã hội tại vùng đồng bào DTTS&MN được cải thiện và nâng cao thì sẽ có nguồn lực bảo đảm cho việc đầu tư cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ cho công tác PBGDPL được đa dạng nguồn lực bên cạnh ngân sách nhà nước. Đồng thời, khi kinh tế - xã hội phát triển, người dân tại vùng này có điều kiện đầu tư, mua sắm các phương tiện công nghệ kỹ thuật để nắm bắt thông tin pháp luật thông qua phương tiện nghe nhìn như báo, đài, radio, tivi, điện thoại có kết nối internet... người dân từ thụ động sang chủ động, thành nhu cầu tự thân, tự giác để trang bị thông tin, kiến thức pháp luật. Ngược lại, khi điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn thì việc chăm lo, đầu tư cơ sở vật chất và phương tiện hiện đại để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân sẽ không được đồng đều. Cơ sở vật chất và các phương tiện lỗi thời, lạc hậu sẽ làm giảm đi đáng kể hiệu quả của công tác PBGDPL[3]. Khi nền kinh tế thị trường phát triển không đồng đều sẽ kèm theo những mặt trái của nó như xuất hiện tệ nạn xã hội, các hành vi vi phạm pháp luật…

Như vậy, điều kiện kinh tế - xã hội càng phát triển, khả năng nâng cao mức sống, thỏa mãn nhu cầu của người dân tại vùng đồng bào DTTS&MN càng cao. Khi đã có mức sống vật chất đầy đủ, người dân tại vùng đồng bào DTTS&MN sẽ chú trọng đến các nhu cầu tinh thần, trong đó có vấn đề nâng cao trình độ nhận thức pháp luật. Vì vậy, có thể nói, sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là một trong những điều kiện bảo đảm công tác PBGDPL cho người dân tại vùng đồng bào DTTS&MN đạt hiệu quả.

1.3. Yếu tố dân trí, văn hóa, phong tục, tập quán

- Yếu tố dân trí: Trình độ dân trí là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN. Trình độ dân trí cao sẽ thuận lợi cho việc tổ chức triển khai, cũng như các hoạt động tiếp thu các nội dung pháp luật của chủ thể thực hiện PBGDPL và đối tượng tiếp thu các nội dung PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN. Trình độ dân trí thấp sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả PBGDPL[4]. Vấn đề này cũng đặt ra yêu cầu đối với người làm công tác PBGDPL là phải tổ chức vận dụng các hình thức, phương pháp PBGDPL phù hợp cho từng đối tượng có trình độ khác nhau tại vùng đồng bào DTTS&MN.

Ngày nay, khi trình độ dân trí tại vùng đồng bào DTTS&MN từng bước được nâng cao thì công tác PBGDPL cần được đổi mới về hình thức, nội dung cho phù hợp và hiệu quả với từng đối tượng, vùng, miền là yêu cầu cấp thiết. Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, thì với sự ứng dụng và sử dụng công nghệ thông tin của các mạng xã hội, đã xuất hiện cả những thông tin tốt, hướng đến chân thiện mỹ, những tấm gương người tốt việc tốt nhưng mặt trái là những thông tin xấu độc hại, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội[5]. Vì vậy, việc nâng cao dân trí là yếu tố quan trọng thúc đẩy hạn chế tập tục, thói quen sinh hoạt lạc hậu ở miền núi, vùng DTTS, qua đó, hình thành ý thức tìm hiểu pháp luật, góp phần thu hẹp địa bàn coi trọng tập tục địa phương lạc hậu hơn pháp luật. Bởi lẽ, hiện nay, vẫn còn một bộ phận không nhỏ người dân ở vùng DTTS&MN ít quan tâm tới pháp luật, chỉ khi có việc liên quan hoặc vướng mắc pháp luật mới tìm hiểu pháp luật để bảo vệ quyền lợi của mình. Vì vậy, trong thời gian tới, công tác PBGDPL cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, bằng nhiều hình thức thì mới mang lại hiệu quả thiết thực.

- Yếu tố văn hóa, phong tục, tập quán: Việt Nam có 53 DTTS, mỗi dân tộc đều có nhiều ngành, nhóm ở các địa phương khác nhau. Do đó, xét về mặt văn hóa dân tộc, Việt Nam là đất nước đa văn hóa. Tính đa dạng về văn hóa không chỉ phổ biến ở các dân tộc mà còn phản ánh đậm nét ở các vùng, miền khác nhau[6], do đó, yếu tố văn hóa, phong tục, tập quán với những lối sống, tôn giáo, tín ngưỡng có tác động lớn đến công tác PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN.

Đồng bào DTTS&MN với lối sống đặc trưng là tính cộng đồng, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái. Những đặc trưng này được coi là điều kiện thuận lợi đối với công tác PBGDPL trong việc tập trung đối tượng, giúp các chủ thể thực hiện PBGDPL dễ dàng hơn, việc đoàn kết giúp đồng bào DTTS&MN động viên nhau, cùng nhau nhận thức lợi ích của việc hiểu biết pháp luật, tích cực tham gia PBGDPL. Tuy nhiên, đời sống người dân ở một số vùng đồng bào DTTS&MN còn gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là, một số phong tục, tập quán lạc hậu chưa được xóa bỏ đã tác động không tích cực đến đời sống của người dân, dẫn đến việc tổ chức triển khai, tiếp nhận và xử lý các thông tin pháp luật còn bị hạn chế, chưa thường xuyên.

Thực trạng ý thức chấp hành pháp luật của người dân và công tác PBGDPL tại khu vực vùng đồng bào DTTS&MN đặt ra yêu cầu cần thay đổi cách thức tiếp cận công tác PBGDPL toàn diện, thực chất hơn, kết hợp một cách hài hòa giữa truyền thống dân tộc, phong tục, tập quán, đạo đức với PBGDPL cho phù hợp với sự phát triển của xã hội trong thời kỳ hội nhập quốc tế và khoa học - công nghệ phát triển. Như vậy, mới góp phần phát huy tối đa hiệu quả công tác PBGDPL tại khu vực vùng đồng bào DTTS&MN.

1.4. Yếu tố chính trị - pháp lý

Sự ổn định về chính trị, pháp lý sẽ tạo điệu kiện thuận lợi cho công tác PBGDPL nói chung và công tác PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội được ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững, vai trò, uy tín của nước ta trên trường quốc tế ngày càng cao, thế và lực của đất nước ngày càng vững vàng.

Đồng thời, xác định tầm quan trọng của công tác PBGDPL, nhất là ở vùng đồng bào các DTTS, tại Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân (Chỉ thị số 32-CT/TW); Thông báo số 74-TB/TW ngày 11/5/2007 của Ban Bí thư tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW; Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW cũng đã xác định: “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về tài chính, đáp ứng đầy đủ hơn cho hoạt động PBGDPL, có chế độ đãi ngộ hợp lý đối với báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, xây dựng cơ chế trợ giá phát miễn phí sách tuyên truyền pháp luật cho nhân dân, trước hết là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS”; “có chính sách hỗ trợ nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật đối với nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người và các đối tượng thiệt thòi”.

Nhận thức được thực tế này, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu tiên phát triển hoạt động PBGDPL cho đồng bào DTTS giúp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật và tính đồng đều về hiểu biết pháp luật giữa các dân tộc. Thực hiện hóa chủ trương này, Điều 17 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã quy định đồng bào DTTS là đối tượng đặc thù trong công tác PBGDPL. Về nguồn lực phục vụ hoạt động PBGDPL cho đồng bào DTTS, quan điểm thống nhất xuyên suốt của Đảng và Nhà nước là luôn có sự hỗ trợ và ưu tiên dành nguồn lực cho hoạt động này.

Tại Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW đã khẳng định chủ trương ưu tiên bố trí nguồn lực thực hiện PBGDPL cho các nhóm đối tượng đặc thù yếu thế, đồng bào dân tộc, người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Ngày 18/11/2019, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 88/2019/QH14 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021 - 2030, theo đó cần: “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền ở vùng đồng bào DTTS&MN; tăng cường đồng thuận xã hội; phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, thách thức, hòa nhập phát triển cùng với đất nước”.

Như vậy, với quan điểm trên, việc đầu tư công tác PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN là đầu tư cho phát triển bền vững gắn liền với xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, nhất là đồng bào DTTS; thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, tiếp cận thông tin pháp luật so với vùng phát triển; góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, nhằm đạt được mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

1.5. Các yếu tố khác

- Yếu tố về năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác PBGDPL: Thực tiễn hoạt động PBGDPL thời gian qua cho thấy, để nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL nói chung, công tác PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN nói riêng thì nhân tố con người đóng vai trò hết sức quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động PBGDPL. Mỗi người cán bộ nếu không đủ năng lực, trình độ thì không thể tham mưu và xây dựng được những văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và phù hợp với tình hình xã hội. Do vậy, cần lựa chọn, đào tạo cán bộ có phẩm chất, năng lực, trình độ, có khả năng quản lý, có lòng nhiệt tình, say mê với công việc PBGDPL. Bên cạnh đó, phải thường xuyên rà soát, phân loại, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và định hướng nội dung PBGDPL tại vùng DTTS&MN cho đội ngũ làm công tác này, cung cấp kiến thức, bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng, khả năng thu hút người nghe và truyền đạt hiệu quả.

Dó đó, nếu đội ngũ cán bộ yếu cả về phẩm chất và năng lực thì sẽ ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về PBGDPL tại vùng DTTS&MN. Ngược lại, nếu đội ngũ cán bộ đáp ứng cả về phẩm chất và năng lực, có phương pháp tổ chức khoa học, hiệu quả thì sẽ đưa công tác PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN đi vào nền nếp, hiệu quả, thực chất và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

- Yếu tố tổ chức quản lý nhà nước, nguồn lực con người: Cần thường xuyên đổi mới, đa dạng về nội dung, hình thức PBGDPL theo hướng không chỉ đáp ứng nhu cầu kiến thức cơ bản về pháp luật và yêu cầu thực tiễn để nâng cao trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật cho các đối tượng mà còn giúp cho họ có khả năng vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cuộc sống, đồng thời, định hướng cho công tác quản lý nhà nước về PBGDPL được đúng hướng và hiệu quả.

Việc đa dạng hóa hình thức, phương pháp PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN không chỉ thông qua các buổi tuyên truyền pháp luật theo truyền thống mà cần tăng cường xây dựng và mở rộng hình thức tìm hiểu pháp luật qua các hoạt cảnh trên phát thanh hoặc truyền hình, xây dựng website… Đồng thời, để người dân có thể cập nhật thông tin, trao đổi, bàn luận và tìm hướng giải quyết cho những vấn đề bức xúc trong đời sống pháp luật được nhanh chóng, kịp thời.

- Yếu tố về nội dung, hình thức PBGDPL cho vùng đồng bào DTTS&MN: Đối tượng thụ hưởng các chính sách là người DTTS&MN chủ yếu sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; trình độ dân trí còn hạn chế, nhận thức pháp luật không đồng đều, do đó, việc lựa chọn phổ biến các nội dung, chính sách cần phải phù hợp với nhu cầu của từng nhóm cư dân, dân tộc khác nhau. Bên cạnh đó, ở nước ta, ngoài tiếng Việt được sử dụng làm ngôn ngữ chung thì với 53 DTTS cũng đều có ngôn ngữ của riêng dân tộc mình. Do đó, khi thực hiện PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN cần phải ưu tiên lựa chọn các hình thức phong phú, đa dạng, sáng tạo; phù hợp với điều kiện, môi trường sống, văn hóa, phong tục, tập quán và ưu tiên sử dụng ngôn ngữ của đồng bào để họ dễ nhớ, dễ hiểu; lồng ghép việc PBGDPL với giữ gìn bản sắc văn hóa, tập quán tốt đẹp của từng dân tộc, vùng, miền.

- Yếu tố cơ sở vật chất, nguồn kinh phí: Cơ sở vật chất và nguồn kinh phí là một phần quan trọng trong công tác PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN, giúp cho công tác PBGDPL được diễn ra thuận lợi, dễ dàng, có hiệu quả, chuyển tải kiến thức pháp luật một cách nhanh chóng. Yếu tố kinh phí là một trong những điều kiện bảo đảm vô cùng cần thiết. Ngoài nguồn ngân sách nhà nước, để bảo đảm kinh phí cho PBGDPL, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tài trợ, hỗ trợ kinh phí cho hoạt động PBGDPL theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vùng đồng bào DTTS&MN là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, chậm phát triển, cơ sở vật chất thiếu thốn, phương tiện phục vụ hoạt động PBGDPL cho đối tượng người DTTS&MN còn rất khó khăn, eo hẹp… Điều này sẽ là một hạn chế rất lớn đối với hiệu quả của công tác PBGDPL, ảnh hưởng đến việc thụ hưởng kiến thức pháp luật, khả năng tiếp cận pháp luật của đồng bào và mức độ đạt được các mục tiêu, yêu cầu đề ra. Do đó, muốn đẩy mạnh cần phải có sự quan tâm đúng mức về kinh phí cho công tác PBGDP tại vùng đồng bào DTTS&MN.

2. Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với các yếu tố tác động đến công tác PBGDPL tại vùng đồng bào DTTS&MN nêu trên, có thể thấy, những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực có tác động trực tiếp, gián tiếp đến hiệu quả công tác PBGDPL tại vùng DTTS&MN. Để công tác PBGDPL tại vùng DTTS&MN đạt hiệu quả, trong thời gian tới, cần tập trung một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường đầu tư phát triển kinh tế - xã hội tại vùng đồng bào DTTS&MN nhằm thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, liên vùng, kết nối với các vùng phát triển.

Hai là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp có thẩm quyền ở trung ương và địa phương; tăng cường phân cấp, phân công nhiệm vụ gắn với trách nhiệm và quyền hạn nhằm nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành trong thực hiện PBGDPL tại vùng DTTS&MN, xác định trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đối với công tác phổ biến, triển khai và thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với vùng đồng bào DTTS&MN.

Ba là, đổi mới nội dung, hình thức, cách thức PBGDPL phù hợp với đồng bào DTTS&MN. Nội dung PBGDPL xuất phát từ cuộc sống, từ nhu cầu của người dân. Hình thức PBGDPL cần phải phù hợp với yếu tố đặc thù của đồng bào DTTS về vị trí địa lý, phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ, nhận thức của đồng bào DTTS. Đồng thời, quan tâm tới việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng mạng xã hội trong công tác PBGDPL.

Bốn là, củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện công tác PBGDPL cho đồng bào DTTS&MN. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ PBGDPL, ngôn ngữ dân tộc, phong tục, tập quán, văn hóa của đồng bào dân tộc cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, hòa giải viên, trợ giúp viên pháp lý; đội ngũ cán bộ, công chức là người DTTS; cán bộ, chiến sĩ bộ đội biên phòng; đội ngũ giáo viên; đội ngũ sinh viên các cơ sở đào tạo luật là người DTTS, người biết tiếng DTTS hoặc hiểu biết sâu về văn hóa truyền thống, tập quán, tâm lý của người DTTS tham gia vào hoạt động PBGDPL cho đối tượng này.

Năm là, đầu tư nguồn lực trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên tối đa về kinh phí từ ngân sách nhà nước và các điều kiện bảo đảm cho công tác PBGDPL tới đồng bào DTTS. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa, huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân hỗ trợ nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho công tác PBGDPL cho vùng đồng bào DTTS&MN.

Sáu là, các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện nhiệm vụ PBGDPL phải tăng cường kiểm tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện công tác PBGDPL cho đồng bào vùng DTTS&MN để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc; phát hiện, khen thưởng các cá nhân có thành tích xuất sắc; nhân rộng các mô hình hay, cách làm hiệu quả, phù hợp với người DTTS./.

TS. Lê Vệ Quốc

Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp

[1]. Bài viết này phục vụ việc nghiên cứu Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2023 - 2024: “Giải pháp nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay” của Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp.

[2]. Nguồn: https://special.nhandan.vn/cong-dong-cac-dan-toc-viet-nam/index.html.

[3]. Chính phủ (2019), Báo cáo Đề án phát triển kinh tế - xã hội tổng thể vùng đồng bào DTTS có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn giai đoạn 2021 - 2030: Khoảng cách phát triển giữa các DTTS với dân tộc Kinh, giữa các nhóm DTTS, giữa miền núi và miền xuôi chưa được rút ngắn. Thu nhập bình quân của hộ đồng bào DTTS ở nhiều nơi chỉ bằng 40 - 50% bình quân thu nhập trong khu vực; tỷ lệ dân số DTTS chiếm 14,6% nhưng tỷ lệ hộ nghèo chiếm 55,27 % tổng số hộ nghèo của cả nước; có 09 tỉnh tỷ lệ hộ DTTS nghèo chiếm trên 90% hộ nghèo của cả tỉnh.

[4]. Kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội năm 2019: 53 DTTS cũng cho thấy những thách thức rất lớn trong việc xóa mù chữ đối với nhóm người DTTS trưởng thành. Trong số 14 tỉnh có đông đồng bào DTTS, một số tỉnh có tỷ lệ người trong độ tuổi lao động mù chữ rất cao như: Lai Châu, Hà Giang, Điện Biên, Sơn La, Bắc Kạn, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Ninh Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang.

[5]. Trương Hòa Bình (2019), Trình độ dân trí nâng cao, cơ quan chức năng chủ động tham gia không gian mạng xã hội, Tạp chí Công thương điện tử, https://tapchicongthuong.vn/trinh-do-dan-tri-nang-cao--co-quan-chuc-nang-chu-dong-tham-gia-khong-gian-mang-xa-hoi-67349.htm, truy cập ngày 20/4/2024.

[6]. Trần Hữu Sơn (2023), Phát triển văn hóa vùng DTTS ở nước ta hiện nay, Tạp chí Cộng sản điện tử, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/827155/phat-trien-van-hoa-vung-dan-toc-thieu-so-o-nuoc-ta-hien-nay.aspx, truy cập ngày 10/4/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 410), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: